Xu Hướng 2/2023 # Ương Nuôi Cá Hương Giống # Top 3 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Ương Nuôi Cá Hương Giống # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Ương Nuôi Cá Hương Giống được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sau khi cá bố mẹ sinh sản, giai đoạn quan trọng tiếp theo là nuôi dưỡng cá bột, mời bạn đọc theo dõi phương phá ương nuôi cá hương, cá chim trắng giống trong bài viết.

Nội dung trong bài viết

Ương cá bột lên cá hương

Trước khi ương đều phải tẩy dọn và tiêu độc ao ương, cách làm cơ bản như đối với ao ương các loài “cá nhà”.

Cá bột mới nở ngày đầu có chiều dài trung bình 3,6mm để tiếp 3 – 4 ngày trong bể ấp cá bột tiêu hết noãn hoàng chiều dài trung bình 5,6mm lúc này cá đã biết ăn cần chuyển vào ao, ương.

Chọn và tẩy dọn ao ương

Diện tích ao ương thích họp từ 700 – 2000m2, ao hình chữ nhật tốt nhất, mức nước lúc đầu ương 0,5 – 0,7m,cuối kỳ ương sâu 1 – 1,5m. Yêu cầu gần nguồn nước sạch, giao thông và cấp nước thuận lợi. Ao đất thịt tốt nhất.

Trươc khi ương 1 tháng tẩy dọn ao: tháo cạn ao, vét bớt bùn, san bằng đáy ao, phơi khô đáy ao một thời gian khá dài cho chất hữu cơ ở đáy ao được phân giải triệt để tạo độ phì cho ao, đồng thời tiêu diệt cá tạp và các địch hại khác. Làm như vậy có thể hạn chế được địch hại đối với cá con.

Tẩy ao bằng thuốc

Chủ yếu dùng vôi hoặc bã chè. Thường dùng cách tẩy ao khô. Nếu khó khăn về tát cạn ao thì áp dụng cách tẩy ao có nước.

Tẩy ao bằng bã chè: Đập dập bã chè ngâm vào thuyền con, sau 1 ngày lấy nước ngâm té đều khắp ao. Liều dùng bã chè: nước sâu 1m dùng 40 – 50 kg/mẫu (1 mẫu = 667m2), nước sâu 15cm dùng 10 – 12kg. Điều kiện nhiệt độ nước ao 25oC, sau 5 – 8 ngày thả vài con cá mè hoa thử nước, nếu thấy hết độc thì có thể thả cá bột vào.

Tẩy ao bằng vôi sống: Áp dụng cách tẩy ao khô. Tháo cạn ao còn 5 – 10cm nước, khoét mấy hố nhỏ quanh ao đưa vôi sống vào tôi thành vôi nước, té đều khắp ao. Liều dùng vôi sống 60 – 75 kg/mẫu. Có thể dùng cách tẩy ao có nước: tôi vôi sống thành vôi nước còn đang nóng té liền xuống ao, liều dùng vôi sống 125 – 150 kg/mẫu ao, nước sâu 1m, sau 7 ngày thử nước thấy hết độc thì bắt đầu thả cá bột vào.

Bón phân lót gây màu thức ăn tự nhiên

Nếu dọn ao bằng cách tẩy khô thì 1 tuần trước khi thả cá bột cho nước vào ngập sâu 0,5 – 0,6m và bón phân hữu cơ vào để gây nuôi sinh vật thức ăn tự nhiên phù hợp cỡ miệng cá bột. Liều dùng phân xanh 150 – 200 kg/mẫu ao hoặc phân chuồng (phân gia súc, phân bắc) 150 – 200 kg/mẫu. Do thời gian ấp nở cá chim dài nên phải nắm vững cách bón lót ngay sau khi cá đẻ, vì 4 – 5 ngày sau khi bón phân thì mới xuất hiện đỉnh cao luân trùng, lúc này cá xuất hiện “điểm lưng”, đưa cá bột vào ao là lúc nguồn thức ăn tự nhiên vừa miệng cá dồi dào nhất.

Thả cá bột

Thấy cá bột xuất hiện “điểm lưng” được 2 ngày thi chuyển từ bể vòng vào ao ương. Mật độ ương 10 – 20 vạn cá bộ/mẫu (150 – 300 con/m2). Ở nhiệt độ nước 28 – 30°C, ương khoảng 20 ngày cá đạt cỡ 2 – 3m gọi là cá hương; nếu mật độ ương thưa 5 – 6 vạn con/mẫu chỉ sau 10 – 15 ngày ương đạt qui cỡ trên.

Quản lý ao ương: Cho cá ăn theo nguyên tắc “lượng ít lần nhiều”, rải đều khắp ao, mỗi ngày cho ăn 5 – 6 lần là vừa. Ba ngày đầu chăm sóc hết sức cẩn thận vì lúc này cá bột còn non yếu, rất mẫn cảm với các yếu tố chất nước, địch hại và nhiệt độ nước. Các yêu cầu kỹ thuật cần đảm bảo để đạt tỷ lệ sống cao là nhiệt độ nước 25 – 30°C, pH =6,5 – 7,0, nước ao ương không được có các loại động vật có hại như Cyclop, động vật phù du cỡ lớn, côn trùng thủy sinh và tôm, cá tạp.

Sau khi ương được 3 ngày bắt đầu cho ăn thêm thức ăn phụ như sữa đậu nành, có thể giảm được tác hại do đem theo các Cyclop và động vật địch hại khác. Trong 7 ngày đầu có thể cho ăn thêm sữa đậu tương với lượng 100 g/1 vạn cá, đồng thời cho ăn thêm bột trứng chín rắc nổi, từ ngày thứ 8 trở đi cá ăn bằng thức ăn tự nhiên là chính bằng cách bón phân (phân chuồng, phân xanh) với lượng 100 kg/mẫu, ngoài ra hằng ngày có thể cho ăn thêm nước khô đậu nghiền nhỏ.

Ương cá hương lên cá giống

Khi cá con đạt cỡ 2 – 3cm nên phân đàn san thưa kịp thời để cá sinh trưởng nhanh và hao hụt ít. Trước khi đưa cá vào ương phải tẩy dọn ao như cách làm thông thường, bón đủ phân hữu cơ để gây nuôi động vặt phù du cỡ lớn làm thức ăn cho cá, Cách tẩy dọn và tiêu độc ao ương giống như đối với ao cá bột, các điều kiện ao ương cũng tương tự, chỉ khác là diện tích có thể lớn hơn, thường từ 1300 – 3300m, nước sâu 1,3 – 2,0m.

Mật độ ương từ 4 – 5 vạn con/mẫu (60 – 75 con/m2). Hàng ngày cho ăn thức ăn chế biến dạng bột có hàm lượng đạm 26 – 35%, lượng cho ăn 10 – 12% thể trọng cá mỗi ngày. Có thể tự chế biến thức ăn theo công thức: bột cá 10%, khô đậu tương 25%, khô rau và khô hạt vừng 25%, cám gạo 10%, cám mạch 10%, cám hỗn hợp lợn (loại 13% đạm) 18%, muối khoáng (supephotphat canxi là chính) 2%, bột mì thứ phẩm 5 – 8% để làm chất keo dính.

Khi đạt cỡ 5 – 6cm thì xuất làm cá giống, trước mùa đông (giữa tháng 10) phải chuyển cá giống (nếu còn) vào ao nuôi qua đông để làm giống cho đầu năm sau.

Kỹ Thuật Ương Nuôi Cá Chép Từ Cá Bột Lên Cá Hương

Tuy nhiên trong quá trình ương cá chép từ cá bột (cỡ 0,6 – 0,8cm) lên cá hương (cỡ 2,5 – 3cm) đạt tỷ lệ cá sống cao người nuôi cần lưu ý một số vấn đề sau:

1. Điều kiện ao ương

– Diện tích ao từ 300 – 1.000m2 là phù hợp và dễ cho công tác chăm sóc và quản lý.

– Độ sâu mực nước ao: từ 1,0 – 1,2m; độ dày lớp bùn 15 – 20cm.

– Có nguồn nước không bị ô nhiễm, thuận tiện cho việc cấp và thay nước.

– Bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ. Vì khi rò rỉ hình thành dòng nước chảy, cá tập trung nhiều vào đó không kiếm được mồi sẽ gầy yếu, đồng thời cá dữ cũng theo nước chảy lọt vào ao. Những ao bị rò rỉ không chủ động điều tiết mực nước, mất chất màu mỡ, cá sinh trưởng kém và tỷ lệ hao hụt cao.

– Ao cần thoáng để có ánh sáng đầy đủ là điều kiện thuận lợi cho sinh vật phù dù phát triển tạo nguồn thức ăn tốt cho ương cá bột lên cá hương.

2. Chuẩn bị ao ương

– Tát cạn, tạt vôi cho ao nuôi từ 7 – 10 kg vôi bột để tả cho 100m2 diện tích ao nuôi hoặc 30 – 35kg cho 1 sào ao bắc bộ. Tẩy vôi vào những ngày nắng sẽ có tác dụng: Diệt trừ cá dữ, trứng ếch nhái hoặc nòng nọc, một số loại côn trùng có hại, các ký sinh trùng gây bệnh; giải phóng một số chất khoáng bị giữ lại trong bùn; giảm độ chua của ao; giữ độ pH trong ao ổn định.

– Phơi đáy ao 3 – 5 ngày tùy thuộc điều kiện thời tiết.

– Bón phân: sau khi phơi đáy ao, tiến hành bón phân: phân chuồng cần được ủ với 10 – 15% vôi bột trong thời gian 1 tháng. Liều lượng đối với phân chuồng bón bằng cách rải đều khắp ao từ 20 – 30 kg phân còn đối với phân xanh là 50 kg cho 100 mét vuông (loại lá cây thân mềm để làm phân xanh, không dùng những cây có tính đắng, cay…). Việc bón phân nhằm mục đích tăng cường các chất dinh dưỡng cho đáy ao, gây nuôi các loại sinh vật nổi có kích thước nhỏ bé phát triển làm thức ăn cho cá để sau khi thả là cá đã có sẵn thức ăn ngay. Thời gian bón lót thích hợp nhất là 6 – 7 ngày trước khi thả cá. Bón sớm quá các loại địch hại có thời gian sinh sản phát triển.

– Lấy nước vào ao ngập từ 0,3 – 0,4 mét giúp cho quá trình phân hủy phân bón nhanh hơn, ngâm 2 đến 3 ngày, vớt hết bã xác phân xanh, lấy nước tiếp vào ao đạt độ sâu 1,0 – 1,2 m. Khi màu nước đạt màu vỏ đậu xanh là có thể tiến hành thả cá bột để ương. Lưu ý khi lấy nước vào ao cần lọc qua lưới lọc có kích thước mắt lưới nhỏ để loại bỏ cá tạp, cá dữ đặc biệt là cá rô phi con hoặc các loài địch gây hại cá giống.

3. Mật độ cá thả: 80 – 140con/m2 4. Chăm sóc và quản lý 4.1. Chăm sóc

– Trong quá trình nuôi tiến hành bón phân gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên trong ao nuôi: Dùng phân chuồng ủ hoai với 10% vôi, mỗi tuần bón 2lần, mỗi lần bón 6 – 7kg/100 m2 ao. Phân xanh bón 1 tuần 1 lần, mỗi lần khoảng 20 – 25kg/100 m2 ao. Việc bón thêm phân cần căn cứ vào màu nước ao, nếu ao có màu xanh đậm cần giảm lượng phân, nếu ao mất màu cần tăng thêm lượng phân bón và chỉ duy trì lượng phân bón như trên khi nước có màu vỏ đậu xanh.

– Về thức ăn tinh: thường dùng bột mì, bột gạo nghiền, cám nghiền nhỏ, bột đậu tương và lượng thức ăn cụ thể như sau:

+ Từ tuần 1 – 2: lượng thức ăn tinh từ 0,3kg/1vạn cá/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn từ 2 – 3 lần, trước khi cho cá ăn thì thức ăn phải được hòa loãng té khắp ao.

+ Tuần thứ 3 – 4: cho ăn 0,4 – 0,5kg/1vạn cá/ngày, thức ăn ở dạng bột khô rải đều khắp ao, mỗi ngày cũng cho cá ăn hai lần vào 8h, 16h.

Lưu ý lượng thức ăn cần phải điều chỉnh phù hợp theo biến đổi của thời tiết, khả năng vận động và bắt mồi của cá.

4.2. Quản lý ao ương

– Hàng ngày phải thăm ao vào sáng sớm, để quan sát hoạt động của cá trong ao, màu nước, bệnh cá, địch hại để xử lý kịp thời.

+ Đối với màu nước: màu nước ao thường xuyên duy trì màu vỏ đậu xanh là tốt nhất. Nếu ao có màu xanh đậm cần giảm lượng phân bón, cấp thêm nước mới.

+ Cá bơi lờ đơ, tách đàn là có hiện tượng bị bệnh cần trộn tỏi hoặc kháng sinh cho cá ăn phòng.

+ Vào sáng sơm cá có hiện tượng nổi đầu khi có tiếng động như vỗ tay cá không lặn chứng tỏ cá thiếu oxy cần chạy máy tạo oxy hoặc bổ sung thêm nước mới.

– Đối với giai đoạn ương từ cá bột lên cá hương thì một trong những yếu tố quyết định đến tỷ lệ sống của cá là địch hại như bọ gạo, nòng nọc, bắp cày và cá dữ sót lại trong ao. Chính vì vậy cần có biện pháp diệt như sau:

+ Đối với bọ gạo: do bọ gạo có đặc tính lấy oxy từ khí trời nên diệt bằng cách dùng cây tre hoặc cấy nứa đóng thành khung 4 – 6m2, trong khung đổ dầu hỏa, sau 5 – 10 phút được dịch chuyển 1 lần, khung được dịch chuyển cho đến hết bề mặt ao. Vì khi bọ gạo nhao lên đớp phải dầu hỏa sau thời gian ngắn sẽ chết.

+ Đối với nòng nọc: Hàng ngày kiểm tra quanh bờ ao nếu thấy trứng của ếch, cóc, nhái xuất hiện dùng vợt cá bột vớt hết trứng lên bờ. Dùng lưới cá hương để bắt nòng nọc hoặc dùng dòng nước chảy nhẹ trong ao để hướng nòng nọc tập trung lại rồi vớt bỏ.

+ Đối với cá dữ cần tẩy dọn và phơi ao thật kỹ.

– Trong quá trình ương cá nếu có điều kiện cứ 3 – 5 ngày bổ sung thêm 20 – 30cm nước mới và thay 1 – 2 lần nước cũ, mỗi lần thay 1/3 lượng nước trong ao.

* Sau khi ương nuôi 20 – 25 ngày cá đạt kích cỡ cá hương 2,5 – 3cm. Lúc này có thể tiến hành san ao để nuôi từ cá hương lên cá giống. Tuy nhiên trước khi san cá hoặc xuất bán thì thời gian nuôi ở tuần thứ 5 cần tiến hành đùa luyện cá 2 – 3 lần bằng cách dùng lưới kéo cá sau lại nhả cá ra. Mục đích của luyện cá giúp cá quen với điều kiện môi trường thiếu oxy, kích thích cá hoạt động làm cho khả năng chịu đựng của cá dẻo dai, xáo trộn chất dinh dưỡng giữa tầng mặt và tầng đáy tạo điều kiện cho sinh vật làm thức ăn cho cá phát triển.

Tags: nuoi ca chep, ca bot, ca huong, nuoi trong thuy san

Kỹ Thuật Ương Cá Trắm Cỏ Giống

Sau thời gian ương hết giai đoạn 1; cá đã đạt tiêu chuẩn cá hương, ta tiến hành các công đoạn san cá ra các ao để ương nuôi tiếp giai đoạn từ cá hương lên cá giống; giai đoạn cá giống được phân thành nhiều giai đoạn lớn nhỏ khác nhau căn cứ vào kích thước chiều dài cá thể (tính bằng cm) để phân chia các giai đoạn như: giống cấp 1, giống cấp 2 và giống cấp 3; mỗi giai đoạn như thế có những biện pháp kỹ thuật nuôi cụ thể. Trong ương san cá giống giai đoạn ương từ cá hương lên cá giống gọi là giai đoạn 2. Các bước kỹ thuật tiến hành để thực hiện giai đoạn này như sau:

Chọn ao ương tốt nhất là hình chữ nhật, ao ương cá từ cá hương lên cá giống có diện tích từ 300-500m 2; nhưng diện tích ao ương cá giống thích hợp nhất từ 1.000-2.000m 2, mức nước trong ao từ 1,2-1,5m. Chất đáy ao là đất cát hoặc pha cát; độ dày bùn đáy từ 10-15cm, nhưng không có bùn đáy ao càng tốt vì ao nuôi cá trắm cỏ giống không yêu cầu phải gây màu nước như ương cá mè trắng. Ao ương gần nguồn nước, nguồn nước cấp cho ao ương phải đảm bảo là nguồn nước sạch, đảm bảo đạt các yếu tố về môi trường;

Trước khi san cá hương sang ao để nuôi lên giống khoảng từ 5-7 ngày tiến hành các bước như tháo cạn nước ao, tát gạn, bắt hết cá tạp, vét bớt lớp bùn đáy, đảm bảo lớp bùn đáy ao; nếu để lớp bùn đáy quá dày dẫn đến hiện tượng các chất dinh dưỡng trong ao ương dễ bị lớp bùn đáy hấp thụ do vậy những ao có lớp bùn đáy quá dày thường gây màu nước là thức ăn tự nhiên của cá rất khó; sau đó san đáy ao cho phẳng có độ dốc đáy ao thoải dần về phía cống thoát; dùng vôi (CaO; Ca(OH2…) tẩy ao với lượng 10-15 kg/100m 2 để tẩy độc cho ao và khử chua; mức độ sử dụng vôi cho từng ao phụ thuộc vào độ pH của ao, sau đó phơi đáy ao khoảng 3-5 ngày. Cấp nước vào ao ương trước khi thả cá hương, tuy nhiên đối với ao ương cá hương cấp nước vào ao trước 5-10 ngày vẫn có thể thả cá được, không phải tát gạn làm lại ao như giai đoạn ao ương từ bột lên hương; nhưng rất khoát phải quản lý tốt môi trường ao nuôi không để ếch, nhái sinh sản trong ao ương. Nước cấp vào ao phải qua lọc để tránh sinh vật có hại và các loại cá khác vào ao sẽ cạnh tranh thức. Ao ương cá giống trắm cỏ không phải bón các loại phân để gây màu nước; vì vậy có thể cấp đủ mức nước ao ngay từ đầu sau đó thả cá vào ao ương.

Sau khi ao ương có độ sâu mực nước đạt 0,8-1,0m thì thả cá hương, trong suốt quá trình ương nuôi duy trì mức nước 1,2-1,5m. Thời gian thả cá hương tốt nhất vào lúc trời mát trong ngày, buổi sáng từ 7-9 h và buổi chiều tối từ 18-20 h. Khi thả cá nên chọn vị trí như nơi đầu hướng gió, nơi cấp nước hoặc điểm nước sâu và đáy ao ít bùn nhất. Trước khi thả cá chú ý cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bao chứa cá để tránh hiện tượng cá bị sốc nhiệt dẫn đến cá yếu và chết bằng cách ngâm bao cá trong ao ương 10-15 phút sau đó mở bao túi cho nước từ từ váo túi, mở miệng túi dần dần, quan sát hoạt động của cá trong bao chứa trước khi thả cá ra ao ương.

Cá hương phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn về kích thước cá thể cũng như khối lượng; cỡ cá phải đồng đều, thân hình cân đối, không bị dị hình, dị dạng; cá có màu xanh sẫm, vây, vẩy hoàn chỉnh không bị sây sát và mất nhớt; cá bơi lội, hoạt động nhanh nhẹn, có phản xạ tốt với tiếng động; có thể cho một số cá ra thau quan sát thấy cá bơi thành đàn, vòng tròn quanh thau là đạt. Trước khi đưa cá về ao ương sử dụng muối ăn hoặc thuốc tím để tắm cho cá với liều lượng: nước muối 2-3%, thời gian 3-5 phút hoặc sử dụng thuốc tím (KMnO4) với liều lượng 1g thuốc hòa trong 50-100 lít nước, thời gian tắm 10-12 phút để cá chóng lành các vết thương, loại bỏ các loại ký sinh trùng bám trên cơ thể cá. Sau khi tắm xong cho cá, cho cá về ao ương nuôi phải thao tác nhẹ nhàng, nhanh chóng.

Sau 2-3 ngày nuôi chú ý đến mức độ sử dụng thức ăn của cá nhất là thức ăn xanh (bèo tấm) để cung cấp thức ăn hằng ngày cho phù hợp.

Đặc điểm dinh dưỡng của giai đoạn này là cá sử dụng thức ăn xanh (chủ yếu là bèo tấm); sau đó là các loại rong (thực vật thủy sinh thượng đẳng) hoặc các loại lá xanh trên cạn, các loại cỏ. Các loại thức ăn xanh này (ngoài bèo tấm) phải được thái nhỏ vừa cỡ mồi cá mới sử dụng được. Ở giai đoạn này cá trắm cỏ có hiện tượng sinh trưởng không đều, đặc biệt là trong môi trường ao nuôi thiếu thức ăn. Vì vậy khi cá đã sử dụng tốt thức ăn xanh thì cho cá ăn thỏa mãn trong ngày; theo dõi thức ăn xanh trong ao nuôi từ khi cho thức ăn xanh cho đến sáng hôm sau lượng thức ăn xanh trong ao hết hoặc còn một ít là đạt; tốt nhất cho thức ăn xanh vào khung chứa thức ăn.

Chủ động thức ăn xanh bằng cách ương nuôi bèo tấm: Chủ động thức ăn xanh cho cá rất quan trọng; ngoài việc tìm kiếm nguồn thức ăn xanh có sẵn ngoài tự nhiên người nuôi cá phải tạo nguồn thức ăn bằng cách nuôi bèo tấm như: Chọn diện tích ao vừa phải 100-200m 2, mặt ao có độ che phủ tốt của bóng cây, ao không cần nguồn nước lưu thông (ao tù); thả một lượng bèo tấm làm giống khoảng 1/3-1/4 diện tích ao; bổ sung thức ăn cho bèo bằng đạm vô cơ hoặc Kali (thay bằng tro bếp). Khi bèo sinh sản phủ kín mặt ao thì thu hoạch dần cho cá ăn;

Bảng sử dụng thức ăn cho cá trắm cỏ: Tính cho 10.000 con

Hàng ngày phải kiểm tra tình hình sử dụng thức ăn xanh và thức ăn tinh của cá để điều chỉnh cho hợp lý. Khi cá sử dụng hết thức ăn thì ngày hôm sau phải tăng thêm. Cá sử dụng thức ăn này nhiều hơn thức ăn khác, ngày hôm sau phải thêm bớt cho phù hợp. Nếu các loại thức ăn đều không sử dụng hết thì số lượng quá nhiều hoặc cá có hiện tượng không bình thường phải kịp thời tìm hiểu nguyên nhân để giải quyết. Giai đoạn này sinh vật phù du vẫn có vai trò trong khẩu phần ăn của cá nhưng đóng vai trò thứ yếu.

Quản lý ao ương: Yếu tố môi trường và địch hại là hai yếu tố quyết định đến tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng, phát triển của cá do đó người nuôi cá phải thường xuyên thăm ao nhất là buổi sáng sớm; nếu thấy cá nổi đầu buổi sáng từ 5-7 giờ khi mặt trời chưa mọc đó là hiện tượng tốt, nhưng khi cá nổi đầu quá lâu đến 9-10 giờ sáng không lặn điều đó chứng tỏ rằng trong môi trường nước ao không đủ hàm lượng ôxy cho cá hô hấp hoặc chất lượng nước không tốt phải kịp thời xử lý. Vì vậy phải định kỳ bổ sung cấp nước mới vào ao ương, khi cấp nước vào ao phải qua lọc để tránh địch hại và các loại cá khác vào ao và thực hiện các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp.

Ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu, theo dõi trong nhật ký quá trình ương nuôi cá như: Môi trường ao nuôi; tình trạng sức khỏe, hoạt động của cá; thức ăn; thuốc, chế phẩm sinh học sử dụng; thời gian bổ sung hoặc cấp nước mới vào ao ương; từ 5-10 ngày kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá một lần để biết được chất lượng, số lượng thức ăn, tình trạng sức khỏe của cá và điều kiện môi trường ao ương để điều chỉnh cho phù hợp;

Phân tích số liệu kỹ thuật dựa trên nhật ký nuôi cá để có các giải pháp xử lý kịp thời trong quá trình ương nuôi cũng như đúc rút kết kinh nghiệm cho vụ ương nuôi kế tiếp;

Tổng hợp kết quả tỷ lệ sống ao ương sau một đợt ương nuôi để đánh giá các định mức kỹ thuật, chi phí giá thành và hiệu quả kinh tế.

Sau thời gian ương nuôi 25-30 ngày, cá đạt kích cỡ 4-6cm thì thu hoạch; có thể bán hoặc san sang ao khác để đảm bảo đủ mật độ nuôi đến khi cá đạt kích thước 12-15cm/con.Trước khi thu hoạch, phải quấy dẻo, luyện ép cho cá trước 2-3 ngày; trước khi luyện ép không cho cá ăn thức xanh và cả thức ăn tinh; khi luyện ép cá dùng lưới mềm kéo dồn cá từ từ 2/3 ao; 1/2 ao và 1/3 ao; thời gian một lần luyện ép cá ngày đầu, lần đầu 30 phút và tăng dần thời gian luyện ép cá của những ngày sau. Khi thu hoạch cá giống dùng lưới sợi mềm để kéo cá; các thao tác làm phải nhanh nhưng nhẹ nhàng, khéo léo tránh làm xây xước cá.

Người Ương Giống Và Nuôi Cá Tra Mong Muốn Giá Ổn Định Hơn

Hiện nay, giá cá tra giống các loại giảm từ 8.000 – 10.000 đồng/kg so với đầu tháng 5/2015, khiến giá bán cá tra giống thấp hơn giá thành sản xuất, nông dân ương cá giống rất lo lắng. Ông Trần Văn Ron, ở ấp 1, xã Mỹ Thành Bắc, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cho biết, những ngày gần đây, thương lái mua cá tra giống tại ao ương của nông dân loại 50 con/kg (cỡ 1,7 cm) giá 19.000 đồng/kg, loại 30 con/kg (cỡ 2 cm) giá 17.000 đồng/kg.

Còn theo ông Nguyễn Hoàng Linh, thương lái thu gom cá tra giống ở xã Mỹ Thành Bắc cung cấp cho người nuôi cá tra thương phẩm ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hiện nay, giá cá tra giống loại 30 con/kg bán cho chủ ao nuôi cá, giao tại ao của người nuôi, bao cá chết trong vòng 7 ngày (cá chết trong 7 ngày sẽ được người bán bù lại số lượng cá tương đương) có giá 27.000 đồng/kg, tính ra giá cá tra giống đã giảm gần 10.000 đồng/kg so với hơn 1 tháng trước.

Theo ông Ron, nguyên nhân khiến cá tra giống giảm mạnh trong thời gian qua là do thị trường xuất khẩu cá tra những tháng đầu năm gặp khó khăn, dẫn đến giá cá tra thương phẩm giảm còn 19.500 – 19.700 đồng/kg, từ đó làm cho người nuôi cá tra thương phẩm ngại thả giống, kéo theo giá cá tra giống giảm mạnh.

Nhiều nông dân ương cá tra giống ở huyện Cai Lậy cho biết, thời gian ương từ cá tra bột lên cá tra giống khoảng 2 – 2,5 tháng. Khi cá đạt cỡ 30 – 50 con/kg sẽ được thu hoạch tùy theo yêu cầu của người mua giống. Để sản xuất được 1 kg cá tra giống, người nuôi phải đầu tư nhiều khoản như: Tiền thức ăn, thuốc thú y thủy sản, cải tạo ao, công lao động và các chi phí khác… với giá thành sản xuất khoảng 20.000 – 22.000 đồng/kg.

Với giá bán cá tra giống hiện nay, người ương cá tra lỗ từ 3.000 – 5.000 đồng/kg; năng suất ương cá tra giống bình quân đạt khoảng 1 – 2 tấn cá giống/công (mỗi công bằng 1.000 m2), tính ra nông dân ương cá tra giống lỗ 3 – 10 triệu đồng/công. Trước tình hình giá cả không ổn như hiện nay, nông dân chỉ mong giá cá tra giống ổn định ở mức 25.000 – 27.000 đồng/kg, để họ an tâm sản xuất.

Đối với người nuôi cá tra thương phẩm, giá cá tra giống thấp lại là cơ hội để giảm chi phí con giống, hạ giá thành sản xuất cho vụ nuôi mới. Ông Nguyễn Văn Đời, nông dân có hơn 10 ha ao nuôi cá tra thương phẩm ở ấp Tân An, xã Tân Phong, huyện Cai Lậy cho biết, nhờ giá cá giống thấp mà đợt thả cá giống cho vụ nuôi mới vừa qua, ông giảm chi phí cho khoản cá giống hơn 350 triệu đồng.

Theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng, Tiền Giang hiện có hơn 200 ha ương cá tra giống, sản lượng giống cung ứng cho thị trường trong và ngoài tỉnh khoảng 200 triệu cá giống. Trong khi đó, diện tích nuôi cá tra thịt toàn tỉnh khoảng 123 ha, hàng năm, cần 80 triệu cá tra giống thả nuôi, với sản lượng cá tra thịt thu hoạch khoảng 36.000 tấn.

Giá cá tra xuống dưới 20.000 đồng/kg

Thời gian gần đây, giá cá tra nguyên liệu chế biến, xuất khẩu đã giảm dưới 20.000 đồng/kg, trong khi giá thành nuôi cá tra của nông dân đa phần từ 21.000 – 23.000 đồng/kg. Do đó, nếu nông dân có cá tra đạt kích cỡ thương phẩm phải thu hoạch vào thời điểm này thì coi như lỗ nặng.

Bà Nguyễn Thị Bé Tư, nông dân nuôi cá tra ở xã Phú Phong, huyện Châu Thành cho hay, bà có ao nuôi cá tra diện tích khoảng 4.000m2, dự kiến 10 ngày nữa thu hoạch, sản lượng gần 140 tấn. Tuy nhiên, doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu chỉ đồng ý mua với giá 19.500 – 19.700 đồng/kg (trả tiền 1 tuần sau khi bán cá), giảm 1.500 – 2.000 đồng/kg so với tháng trước, nên bà chưa bán. Hiện nay, bà Tư đang thương lượng với công ty thu mua cá tra chế biến xuất khẩu, để nâng giá lên 20.000 đồng/kg.

Theo bà Tư, do cá tra giống được bà trực tiếp đi chọn mua tại các ao ương cá giống không qua thương lái, thức ăn cá và thuốc thú y được mua trực tiếp từ công ty bằng tiền mặt, cộng với việc quản lý chặt chẽ các loại vật tư đầu vào, nên giá thành nuôi cá tra tại hộ của bà Tư chỉ khoảng 20.000 đồng/kg. Chính vì vậy, giá cá tra hiện nay có thể hòa vốn hay lỗ không đáng kể. Tuy nhiên, đối với các hộ nuôi cá tra mua cá giống qua thương lái, không đủ tiền mặt phải mua thức ăn cá, thuốc thú y qua đại lý, giá thành nuôi cá tra có thể lên mức 25.000 đồng/kg.

Theo nhiều nông dân nuôi cá tra, những tháng đầu năm, giá cá tra giảm do nhu cầu cá tra nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu không nhiều, cộng với thị trường tiêu thụ cá tra gần đây gặp khó khăn. Mặc dù vậy, tình trạng giá cá tra nguyên liệu giảm 19.500 – 19.700 đồng/kg như hiện nay là chưa từng xảy ra trong vòng 2 năm trở lại đây, khiến nông dân nuôi cá tra vô cùng lo lắng.

Theo Chi cục Thủy sản Tiền Giang, hiện nay giá thành nuôi cá tra bao gồm con giống, thức ăn, thuốc thú y thủy sản, nhân công dao động từ 22.000 – 23.000 đồng/kg. Trong khi giá cá tra thời điểm này dao động 20.000 – 20.500 đồng/kg, sau khi trừ chi phí sản xuất, người nuôi cá tra có thể lỗ 2.300 – 3.500 đồng/kg. Nếu tính bình quân mỗi ha nuôi cá tra đạt sản lượng 300 tấn, nông dân thu hoạch cá tra thời điểm này bị lỗ 660 triệu đồng/ha đến hơn 1 tỷ đồng/ha.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản lượng thu hoạch cá tra 5 tháng đầu năm ước đạt 377.000 tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá tra 5 tháng đầu năm 2015 của một số tỉnh đạt khá như: Tại Bến Tre đạt 65.000 tấn, tăng 4%; Cần Thơ đạt 38.424 tấn, tăng 18,8%. Tuy nhiên, một số tỉnh khác sản lượng lại giảm do giá cá tra giảm nên hộ nuôi không thu hoạch nhiều, như sản lượng cá tra tại Tiền Giang đạt 10.595 tấn, giảm 11,7%; Vĩnh Long đạt 35.886 tấn, giảm 5,9%; An Giang đạt 92.298 tấn, giảm 3,3%.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ương Nuôi Cá Hương Giống trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!