Xu Hướng 2/2023 # Triển Vọng Mô Hình Ương Cá Sặc Bổi # Top 6 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Triển Vọng Mô Hình Ương Cá Sặc Bổi # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Triển Vọng Mô Hình Ương Cá Sặc Bổi được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mô hình có diện tích 1.000 m2, được thực hiện trên phần đất rừng vừa khai thác cây, xung quanh có đào kinh nhỏ bao khuôn. Hiện nay cá sặc bổi con được hơn 45 ngày tuổi, phát triển tốt. Theo quan sát của chúng tôi, khi ăn cá nổi dày đặc trên mặt nước. Kỹ sư Lê Văn Lĩnh, cán bộ Trạm Khuyến nông – Khuyến ngư huyện U Minh, người trực tiếp phụ trách mô hình, cho biết: “Qua kiểm tra, chúng tôi chưa phát hiện hiện tượng bất thường nào trên thân cá, cá ăn rất khoẻ, lớn nhanh và tỷ lệ hao hụt không đáng kể, khoảng 30 ngày nữa có thể xuất bán cá giống, kết thúc mô hình”.

Theo Kỹ sư Lê Văn Lĩnh, quy trình sản xuất gieo ương cá bổi giống được thực hiện không mấy phức tạp. Sau khi lên khuôn diện tích ao ương, phải tiến hành diệt cá tạp, cải tạo nước bằng vôi bột, kết hợp một số hoá chất diệt khuẩn để đạt các chỉ số môi trường nước cần thiết. Với diện tích ao ương 1.000 m2, sử dụng 10 cặp cá bổi giống sinh sản. Cá bố mẹ sau khi tiêm thuốc thì dùng thau, chậu làm nơi cho chúng đẻ trứng, chạy oxy sục khí đến khi cá nở đổ vào ao nuôi. Thức ăn cho cá bột là lòng đỏ trứng, sau đó cho ăn cám đến khi xuất bán.

Ao ương cá bổi giống của ông Nguyễn Hoàng Sỹ hiện có khoảng 150.000 cá bổi con (bình quân mỗi cặp sinh sản hơn 15.000 con cá con). Ông Sỹ cho biết, giá bán cá giống hiện nay 500 đồng/con, do đó ao ương của ông sẽ thu về khoảng 50 triệu đồng, sau gần 3 tháng thực hiện mô hình và ông sẽ có lãi khoảng 35 triệu đồng sau khi trừ vốn đầu tư. Hiện nay đã có nhiều người đến đặt hàng mua cá bổi giống của ông Sỹ.

Ngoài ra, ông Sỹ có khoảng 1.000 m2 mặt nước nuôi cá bổi thương phẩm theo hình thức công nghiệp. Ao nuôi của ông Sỹ có khoảng 100.000 con, cá hiện đạt trọng lượng từ 15-17 con/kg, dự kiến 3 tháng nữa thu hoạch. Theo ông Sỹ, ông đã từng nuôi cá bổi trong nhiều năm qua nhưng nuôi công nghiệp thì mới lần đầu. Ông Sỹ phấn khởi cho biết, cá lớn rất nhanh do phù hợp với nguồn nước ở đây, chưa phát hiện bệnh. Ðây là mô hình hiệu quả hơn so với nuôi tự nhiên nhưng khá tốn kém. Hiện tại, mỗi ngày ông phải cho chúng ăn từ 1,5-2 bao thức ăn, chi phí từ 500.000-700.000 đồng/ngày.

Ông Sỹ dự định, vào tháng 10 âm lịch tới đây sẽ thu hoạch cá sặc bổi để phục vụ thị trường cá khô Tết. “Sản lượng cá phải đạt từ 3,5-4 tấn, sau khi trừ chi phí còn lãi từ 60-80 triệu đồng”, ông Sỹ tự tin cho biết.

Theo Kỹ sư Lê Văn Lĩnh, vùng đất nơi đây rất phù hợp để phát triển nghề nuôi cá bổi với quy mô lớn. Qua mô hình ương nuôi cá giống và ao nuôi cá bổi thương phẩm của hộ ông Nguyễn Hoàng Sỹ cho thấy hiệu quả bất ngờ từ các mô hình này. Nếu được áp dụng rộng rãi trong dân thì đây là mô hình phát triển kinh tế đầy tiềm năng ở địa phương, bởi mỗi hộ đều có diện tích sản xuất lớn và lực lượng lao động tại chỗ dồi dào. Và vấn đề đặt ra hiện nay là chính quyền và các ngành chức năng địa phương cần có những phương án phát triển sản xuất cụ thể và có nguồn vốn đầu tư ưu đãi để hỗ trợ nông dân thực hiện mô hình.

Gia Lai: Triển Vọng Từ Mô Hình Nuôi Cá Chình Thương Phẩm

Mô hình nuôi cá chình thương phẩm trong bể xi măng hiện còn rất mới mẻ ở Gia Lai. Tuy nhiên, những thành công bước đầu của ông Đặng Phùng Minh (tổ 6,…

Mô hình nuôi cá chình thương phẩm trong bể xi măng hiện còn rất mới mẻ ở Gia Lai. Tuy nhiên, những thành công bước đầu của ông Đặng Phùng Minh (tổ 6, phường Ngô Mây, thị xã An Khê) đã mở ra nhiều triển vọng cho việc phát triển mô hình này.

Nói về cơ duyên với nghề nuôi cá chình, ông Đặng Phùng Minh cho biết: “Trước đây, tôi là tài xế xe chở mía. Một lần xem chương trình “Nhà nông làm giàu” trên ti vi, tôi thấy mô hình nuôi cá chình rất có hiệu quả. Vì vậy, tôi quyết định khăn gói vào Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản Nha Trang tham gia khóa tập huấn về kỹ thuật nuôi cá chình trong bể xi măng. Sau khóa tập huấn, tôi mạnh dạn đầu tư hơn 1 tỷ đồng khoan giếng lấy nước sạch, xây 400 m2 bể xi măng và đào 200 m2 ao để nuôi cá chình và cá lóc”.

Đáng chú ý, ở thời điểm đó, mô hình nuôi cá chình trong bể xi măng còn quá mới mẻ tại Gia Lai và tỷ lệ người nuôi thành công khá thấp. Thế nhưng, ông Minh vẫn mạnh dạn đầu tư nuôi và quyết tâm làm giàu từ con cá chình. Lần nuôi thí điểm, ông thả 1,2 kg giống, mỗi con có trọng lượng 1 gram (giá mua là 130.000 đồng/con) trong bể chính có diện tích 100 m2, xung quanh là các bể dự bị nuôi cá lóc bông Ấn Độ và cá lóc thường. Sau hơn 1 tháng, nhờ tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, điều kiện vệ sinh môi trường, đàn cá chình đã có trọng lượng trung bình 2 gram/con. “Do mới nuôi thử nghiệm, để tránh rủi ro, cán bộ ở Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản Nha Trang khuyên tôi chọn mua cá giống có trọng lượng ổn định, khoảng 1 gram/con để dễ chăm sóc, giảm tỷ lệ hao hụt. Sau 6 tháng, cá lớn dần phải tách đàn, phân loại để dễ chăm sóc, đảm bảo cho cá phát triển tốt”-ông Minh nói.

Được biết, cá chình là loài dễ nuôi, ít bệnh hơn các loại cá da trơn khác. Loại giống 10 con/kg có thể đạt trọng lượng 1-1,5 kg/con sau 1 năm nuôi thương phẩm. Tuy nhiên, cá chình đòi hỏi phải được chăm sóc theo một quy trình kỹ thuật nghiêm ngặt. Cụ thể, nguồn nước phải được lọc kỹ các tạp chất, lắng trong trước khi cho vào bể nuôi; bể nuôi phải đảm bảo không được thiếu nước hay thừa nước, oxy trong bể xi măng cũng không được thừa hoặc thiếu. Cứ 3 ngày phải tiến hành thay nước bể một lần để hạn chế tảo sinh sôi nảy nở với mật độ lớn gây thiếu hụt nguồn oxy cho cá. Mỗi ngày cho cá ăn vào tầm 7 giờ tối, sau đó phải rửa sạch giá thức ăn để loại bỏ cặn bã, thức ăn dư thừa làm bẩn nước, gây độc tố. Tuy nhiên, ông Minh cũng cho biết, muốn đưa chế độ dinh dưỡng cao cho cá, cần áp dụng các biện pháp tổng thể khác như sử dụng máy quạt khí và tuân thủ chặt chẽ việc quản lý môi trường nước trong bể nuôi. Vì thế, máy quạt khí cũng tự tay ông sáng chế nên lượng oxy trong bể lúc nào cũng ổn định cho cá.

Trong nuôi trồng thủy sản, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ khá cao. Vì vậy, việc nắm bắt giá trị dinh dưỡng của từng nguồn nguyên liệu và phương thức phối chế thức ăn là cần thiết nhằm sử dụng có hiệu quả và kinh tế nhất trong nuôi cá. Để đạt hiệu quả cao nhất, ông Minh tự tay chế biến thức ăn cho cá. Hàng ngày, ông mua cá rô phi từ các lòng hồ thủy điện ở huyện Kông Chro đem về ướp muối, sau đó cho vào tủ lạnh để với nhiệt độ từ -5 tới 0 độ C. Ông lấy lúa xay thành bột rồi trộn với cá xay nhuyễn làm thức ăn cho cá. Khi được hỏi về cách chế biến thức ăn này, ông Minh cho biết: “Tôi chế biến nguồn thức ăn này là giảm được một nửa chi phí so với thức ăn công nghiệp hiện có. Thức ăn do mình tự sáng chế đã tích hợp sẵn thuốc ngừa bệnh nên cá không mắc các bệnh đường ruột, bệnh gan. Tỷ lệ cá sống đạt cao”.

Sau 1 năm nuôi cá, ông Minh đã mở công ty bán sản phẩm của mình. Tất cả sản phẩm đều được kiểm định tại Chi cục Quản lý Chất lượng Nông-Lâm sản và Thủy sản (Sở Nông nghiệp và PTNT) và hoàn toàn không phát hiện các hàm lượng kim loại nặng như: chì, cadimi, asen hoặc thủy ngân. Trước đó, tháng 12-2017, cá chình thương phẩm của ông Minh đã có mặt tại Chợ phiên nông sản an toàn tổ chức tại TP. Pleiku. “Tự tin vào tay nghề của mình nên năm nay tôi sẽ mở thêm một ao nữa. Với giá bán 480.000-500.000 đồng/kg như hiện nay, sau một vụ nuôi 12 tháng có thể thu lãi từ 230.000 đồng đến 260.000 đồng/con”-ông Minh cho biết.

Triển Vọng Mô Hình Nuôi Cá Xứ Lạnh Có Giá Trị Cao Ở Thừa Thiên

Mô hình nuôi cá tầm – loài cá xứ lạnh có giá trị kinh tế cao, đang mang lại hiệu quả và được đánh giá đầy triển vọng ở vùng núi Thừa Thiên- Huế.

Tận dụng lợi thế điều kiện khí hậu núi rừng, nhiệt độ thấp, nhiều hộ gia đình ở xã Hồng Kim, huyện miền núi A Lưới (Thừa Thiên- Huế) đã mạnh dạn bỏ kinh phí đầu tư mô hình nuôi loài cá tầm – cá xứ lạnh có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao.

Nhiều hộ gia đình ở A Lưới đã đầu tư mô hình nước chảy, lót bạt dưới đáy hồ nuôi cá tầm xứ lạnh. Ảnh: Tiến Thành.

Đầu năm 2019, dựa vào dòng nước chảy của con thác A Nor, hộ gia đình anh Hồ Thanh Phương, trú ở làng Việt Tiến, xã Hồng Kim đã bỏ kinh phí múc hồ, làm hệ thống nước tự chảy, lót bạt dưới đáy rộng hơn 100 m2 và tiến hành thả nuôi khoảng 1000 con cá tầm.

Đến nay, cá tầm nuôi đã đạt trọng lương trung bình 2,5 – 3kg, anh Phương đang tiến hành thu hoạch dần, đồng thời, tiếp tục thả thêm gần 1000 con giống mới. Với giá bán giao động từ 250 – 300 ngàn đồng/kg, việc nuôi cá tầm đã mang lại lợi nhuận kinh tế khá lớn cho hộ gia đình này. Anh Phương cho biết, đang tiếp tục đầu tư và nghiên cứu để nhân rộng mô hình, tiến tới nuôi cá tầm lấy trứng có giá trị cao hơn.

Cá tầm được đánh giá phù hợp với đặc điểm khí hậu ở A Lưới. Ảnh: Tiến Thành.

Để nuôi cá tầm hiệu quả, anh Phương chia sẽ, ngoài nguồn nước phải luôn sạch, không bị ô nhiễm và có hàm lượng oxy hoà tan cao, thì đáy hồ nuôi cũng phải được vệ sinh thường xuyên để loại bỏ bùn đất. Cùng với đó, nhiệt độ nước trong hồ nuôi luôn phải được duy trì dưới 30độ C. Theo anh Phương, một yếu tố không kém phần quan trọng và quyết định đến sự thành bại của vụ nuôi đó là chất lượng con giống.

“Khi chọn cá giống thì ta nên chọn những con khoảng 50gr, dài từ 15 – 20 cm, khoẻ mạnh và không dị hình. Khi thả vào chậu nước, cá bơi tản đều trong chậu, không tập trung vào một chỗ là cá khoẻ. Chế độ ăn cho cá tùy theo nhiệt độ nước trong hồ nuôi, khi nước lạnh cho ăn 1-2 lần/ngày; còn khi thời tiết ấm thì cho ăn nhiều hơn, khoảng 4 lần/ngày” anh Phương chia sẽ.

Ở A Lưới, ngoài gia đình anh Phương còn có hộ anh Hồ Văn Hiệu, xã Hồng Kim cũng đã đầu tư mô hình ao, hồ nuôi cá tầm với quy mô hơn 1000 con, đang mạng lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình. Được biết, những hộ tham gia mô hình được Trung tâm Khuyến nông (TTKN) Thừa Thiên- Huế hỗ trợ chi phí 100% con giống, 70% thức ăn và cán bộ hướng dẫn kĩ thuật nuôi, chăm sóc phòng trừ bệnh cho cá.

Anh Phương bên mô hình nuôi cá tầm của gia đình. Ảnh: Tiến Thành.

Theo các hộ nuôi cá tầm, đến nay cá sinh trưởng phát triển tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu thời tiết nguồn nước ở địa phương. Bên cạnh những thành quả bước đầu, việc triển khai mô hình nuôi cá Tầm ở huyện A Lưới vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do đối tượng nuôi mới nên đòi hỏi điều kiện nuôi khắt khe; chi phí đầu tư làm hồ nuôi, con giống, thức ăn cũng khá lớn; kèm theo đó là chi phí vận chuyển lớn do đường xa.

Ông Châu Ngọc Phi, Giám đốc TTKN tỉnh Thừa Thiên- Huế đánh giá: Lần đầu tiên cá tầm được đưa vào thả nuôi tại vùng cao ở Thừa Thiên- Huế. Sau thời gian nuôi khảo nghiệm cho thấy phù hợp với đặc điểm khí hậu ở A Lưới. Thời gian tới, TTKN tiếp tục hỗ trợ để phát triển đối tượng nuôi này. Việc này, không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có thể giải quyết vấn đề đặc sản vùng miền ở huyện A Lưới, giúp người dân vùng cao có điều kiện phát triển kinh tế bền vững.

Cá tầm siberi là loài cá nước ngọt ở xứ lạnh sống ở nhiệt độ dưới 30 độ C, có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, được đưa vào thử nghiệm tại Việt Nam từ năm 2005. Đến nay, loài cá này đã được phát triển nuôi ở những vùng miền núi có nhiệt độ thấp với mô hình nuôi lấy thịt và lấy trứng.

TIẾN THÀNH – TÂM PHÙNG

Triển Vọng Nuôi Cá Tầm Beluga

Cá tầm Beluga được phân biệt với một số loài cá tầm khác bởi sự thiếu vắng các tấm xương trên mõm và sợi râu xúc giác bẹt, tương tự như một băng vải. Nó là một trong những loài lớn nhất trong số các loài cá tầm, có thể dài đến 5 m và khối lượng có thể đạt trên 900 kg. Chúng sinh sống tại những khu vực biển Đen, biển Caspi và biển Azov, từ các vùng này, những năm trước đây hàng đàn cá bơi vào các con sông lớn của Nga và sông Danube. Nhưng số lượng của chúng đã giảm nhiều trong những năm gần đây và các cá thể nặng khoảng 540 kg trở lên hiện nay rất hiếm. Thịt, trứng và bong bóng của chúng có giá trị lớn hơn so với phần lớn các loài cá nhỏ.

Cá tầm Beluga có thể thích nghi với cả nước mặn và nước ngọt. Nhiệt độ thích hợp nhất cho loài phát triển là 17 – 19 0C. Chúng cũng có thể sống trong trong môi trường có biên động giao động nhiệt độ lớn 10 – 29 0 C.

Cá tầm Beluga có tập tính ăn đáy, sử dụng các loài động vật đáy như cá, giáp xác, động vật thân mềm làm thức ăn. Giai đoạn đầu, thức ăn sống đóng vai trò quan trọng trong ương cá bột. Ở giai đoạn ương cá hương lên cá giống, cá tầm Beluga được cho ăn kết hợp giữa các loại thức ăn sống cỡ lớn hơn (giun ít tơ và động vật phù du) với thức ăn tổng hợp để bổ sung dinh dưỡng. Giai đoạn nuôi thương phẩm tại Việt Nam, cá tầm Beluga được nuôi bằng thức ăn ngoại nhập chuyên dụng hoặc thức ăn nuôi cá biển.

Cá tầm Beluga được Công ty TNHH cá tầm Việt Nam di nhập, ấp nở và ương nuôi thành công tại Bình Thuận từ năm 2008. Các thử nghiệm nuôi cho thấy loài cá này thích ứng rất tốt với điều kiện nước ta.

Trong các loài cá tầm nuôi tại Việt Nam thì cá tầm Beluga có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, năm đầu tiên có thể đạt trọng lượng 1,9 – 3,2 kg, năm thứ hai có thể đạt 4,7 – 6,9 kg và năm thứ 3 là 7 – 10,2 kg. Cá tầm Beluga còn có tỷ lệ sống cao, hệ số chuyển hóa thức ăn thấp, phù hợp với điều kiện nuôi thương phẩm. Tuy nhiên loài cá này có tuổi thành thục rất muộn 10 – 15 năm, không phù hợp với điều kiện nuôi thu trứng.

Cá tầm Beluga là đối tượng dễ nuôi, có thể nuôi theo các hình thức nuôi ao nước chảy, ao nước tĩnh, nuôi lồng trong hồ chứa, nuôi công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn. Với mô hình nuôi trong ao nước chảy có thể đạt năng suất 30 – 50 tấn/ha, nuôi lồng trong hồ chứa đạt 15 – 20 kg/m 2 lồng và nuôi khép kín trong quy mô thí nghiệm đạt 61 kg/m 2. Ngoài ra, khi triển khai áp dụng một số giải pháp công nghệ như sục khí, quạt nước hay ứng dụng chế phẩm vi sinh cũng có thể đạt năng suất cao.

Thịt cá tầm Beluga thuộc loại đặc sản thơm ngon, giá cá thịt nguyên con tại vùng nuôi khoảng 200.000 – 250.000 đồng/kg. Hiện nay, thị trường tiêu thụ nội địa ngày càng tăng do mức sống của người dân ngày càng cao. Các thành phố như Hà Nội, Đà Lạt, Nha Trang, Hồ Chí Minh, Buôn Ma Thuột, Đà Nẵng, Huế… tương lai là những thị trường tiêu thụ nội địa lớn các sản phẩm cá nước lạnh.

Trong điều kiện hiện nay, nếu tận dụng hết tiềm năng sẵn có, đặc biệt là các hồ chứa, đập thủy điện ở khu vực phía Bắc và các tỉnh Tây Nguyên, hàng năm cũng có thể cho sản lượng lên đến hàng chục nghìn tấn. Tuy nhiên, nghề nuôi cá tầm chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, đồng thời tiềm ẩn những bất ổn, bị áp lực cạnh tranh từ Trung Quốc. Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước cần có những chính sách và quy hoạch cụ thể để phát triển nghề này.

Theo Nguyễn Nhung, Tạp chí thủy sản Việt Nam,

Cập nhật thông tin chi tiết về Triển Vọng Mô Hình Ương Cá Sặc Bổi trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!