Nhật Bản Ưa Chuộng Cá Ngừ Việt Nam Xuất Khẩu Sang

VNHN – Nhật Bản là nước duy nhất trong số các thị trường nhập khẩu cá ngừ truyền thống của Việt Nam có sự tăng trưởng trong tháng 1/2024.

Cụ thể, theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản tăng gần 20% so với cùng kỳ năm 2024. Nhật Bản đang nhập khẩu rất nhiều cá ngừ chế biến khác của Việt Nam (như loin cá ngừ vây vàng hấp đông lạnh, loin cá ngừ mắt to hấp đông lạnh, cá ngừ đóng túi để làm thức ăn cho vật nuôi… ), tăng 121% so với cùng kỳ.

Cùng với Nhật Bản, Peru cũng rất ưa chuộng cá ngừ của Việt Nam. Ảnh Internet

Cùng với Nhật Bản, Peru cũng rất ưa chuộng cá ngừ của Việt Nam. Xuất khẩu cá ngừ sang Peru có tốc độ tăng trưởng ấn tượng 279% trong tháng 1. Một số thị trường khác cũng đáng được quan tâm như Nga, Algeria và Ucraina đều đang có tốc độ tăng trưởng cao ở mức 3 con số so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, nhìn chung, tình hình xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam không mấy khả quan.

Giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam trong tháng 1/2024 đạt gần 40 triệu USD, giảm 31% so với cùng kỳ năm 2024. Năm nay quy mô thị trường xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam bị thu hẹp hơn so với năm ngoái chỉ còn 55 thị trường, trong khi năm ngoái 65 thị trường.

Kim ngạch xuất khẩu cá ngừ sang các thị trường truyền thống như Mỹ, EU, ASEAN đều suy giảm… Trung Quốc cũng rời khỏi Top 8 thị trường nhập khẩu chính sản phẩm cá ngừ của Việt Nam khi suy giảm kim ngạch liên tục từ năm ngoái đến nay.

Khó Khăn Cho Cá Ngừ Việt Nam Xuất Khẩu Sang Nhật Bản

Nhật Bản là thị trường trọng điểm và đầy tiềm năng của thủy sản Việt Nam nói chung và cá ngừ nói riêng, đồng thời là bạn hàng lớn và khá ổn định đối với các sản phẩm cá ngừ Việt Nam trong nhiều năm qua, với giá trị NK khá cao, đứng thứ 3 sau Mỹ và EU.

Những năm trước đây, giá trị XK cá ngừ Việt Nam sang Nhật Bản chỉ chiếm chưa đến 10% tổng giá trị XK cá ngừ của cả nước nhưng từ đầu năm nay, Nhật Bản đã vượt qua EU và vươn lên vị trí thứ 2 sau Mỹ về giá trị NK cá ngừ từ Việt Nam, chiếm tới 20% tỷ trọng XK của ngành cá ngừ nước ta.

Nhật Bản là quốc gia có sức tiêu thụ hàng hóa mạnh và là một thị trường lớn đối với hàng thủy sản. Đây là một trong những thị trường NK cá ngừ tươi và đông lạnh lớn nhất thế giới. Do nguồn nguyên liệu cá ngừ khai thác nội địa không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày càng cao nên Nhật Bản phải NK cá ngừ từ nhiều nguồn khác, trong đó có Việt Nam.

Theo Hải quan Việt Nam, đến giữa tháng 5/2012, giá trị XK cá ngừ Việt Nam sang các thị trường thế giới đạt gần 200 triệu USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm 2011, riêng giá trị XK sang Nhật Bản đạt gần 34 triệu USD, chiếm 17% tỷ trọng và tăng 52,3%. Đây là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng giá trị XK cao trong giai đoạn này, chỉ đứng sau mực và bạch tuộc.

Tuy nhiên, nếu xem xét riêng tháng 4/2012 và nửa đầu tháng 5/2012, Nhật Bản đã giảm giá trị NK cá ngừ Việt Nam lần lượt là 18,3% và 14,5% so với cùng kỳ năm 2011. Phải chăng sự sụt giảm giá trị NK này một phần do ảnh hưởng của việc Nhật Bản tăng cường kiểm tra giám sát an toàn thực phẩm về các chỉ tiêu trên sản phẩm thủy sản XK của Việt Nam?

Thông tin gần đây cho biết. Nhật Bản kiểm tra Ethoxyquin trong tôm Việt Nam với mức giới hạn tối đa 10 ppb (0,01ppm), trong khi không thực hiện quy định này đối với tôm NK từ nước khác, đặc biệt là Thái Lan – một trong những đối thủ cạnh tranh khá mạnh của cá ngừ Việt Nam tại Mỹ, Nhật Bản, EU…

Đây là một sự đối xử không công bằng và không hợp lý bởi biện pháp siết chặt kiểm tra của cơ quan quản lý Nhật Bản sẽ ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động XK mặt hàng tôm Việt Nam mà còn ảnh hưởng và gây khó khăn cho cả các mặt hàng thủy sản XK khác của Việt Nam như cá ngừ khi vào thị trường này. Điều này cũng còn tác động trực tiếp uy tín và sức cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, kéo theo sự giảm sút nghiêm trọng giá trị XK. Cần lưu ý rằng, người tiêu dùng Nhật Bản vốn rất kỹ tính khi lựa chọn thực phẩm và nếu phát hiện hàng hóa có vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩm, họ rất e ngại khi mua hàng.

Sản phẩm cá ngừ Việt Nam được thị trường Nhật Bản đánh giá cao về chất lượng. Tuy nhiên, do hoàn toàn dựa vào khai thác tự nhiên nên sản lượng, chất lượng và giá thành không ổn định, vì vậy khả năng tăng trưởng của sản phẩm này phần nào bị hạn chế.

Theo Hiệp định Hợp tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) có hiệu lực từ cuối năm 2009, hàng hóa Việt Nam XK sang Nhật Bản và ngược lại, hàng hóa Nhật Bản XK sang Việt Nam sẽ được hưởng ưu đãi về thuế. Tuy nhiên, so với các nước cạnh tranh khác về cá ngừ như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia…, cá ngừ Việt Nam vẫn “yếu thế” hơn vì Việt Nam ký Hiệp định Hợp tác song phương với Nhật Bản muộn hơn nên lộ trình giảm thuế sẽ chậm hơn. XK cá ngừ sang Nhật Bản của các nước láng giềng đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi khiến sản phẩm cá ngừ Việt Nam bị cạnh tranh mạnh hơn. Hiện nay các DN XK cá ngừ Việt Nam vẫn đang phải chịu mức thuế cao hơn 40% so với các nước này, tương đương 7,2% khi XK sang thị trường Nhật Bản, thậm chí cũng không được cắt giảm hàng năm đến 0% như những nước này. Và đây cũng là một trong những bất lợi của sản phẩm cá ngừ Việt Nam XK sang Nhật Bản, dẫn đến khó có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực tại thị trường này.

Để tăng cường XK cá ngừ vào Nhật, DN Việt Nam cần kiên trì tìm hiểu kỹ đối tác và tạo điều kiện để họ hiểu được mình. Chất lượng sản phẩm sẽ là yếu tố quan trọng giúp duy trì mối quan hệ kinh doanh lâu dài với các đối tác Nhật Bản, vì thế DN phải giữ vững chất lượng hàng hóa xuất sang Nhật, nhất là với mặt hàng thủy sản và cụ thể là cá ngừ.

Và để duy trì thế đứng vững vàng trên thị trường Nhật Bản, các nhà XK cá ngừ Việt Nam cần có một chiến lược kinh doanh với tầm nhìn sâu rộng, thông qua nghiên cứu thị trường một cách kỹ lưỡng, đầy đủ và tạo được hình ảnh đáng tin cậy cho các sản phẩm cá ngừ XK sang đất nước Hoa Anh Đào.

Nguồn: http://www.vasep.com.vn

Việt Nam Đủ Điều Kiện Xuất Khẩu Cá Tra, Basa Sang Mỹ – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Việt Nam được phép xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ

Thông báo của FSIS sẽ được công bố trên Công báo liên bang chính thức vào ngày 19/9 với thời gian nhận phản hồi trong vòng 30 ngày.

Sau khi duyệt hồ sơ kế hoạch của Việt Nam, FSIS đã lên kế hoạch kiểm tra thực địa vào tháng 5/2024. Kiểm tra thực địa đã xác nhận rằng kế hoạch mà Việt Nam đưa ra luôn bám sát thực tế và FSIS chỉ phát hiện một điểm khác biệt rất nhỏ so với hồ sơ gửi đi nhưng lỗi này không ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm. Một trong số những lỗi này là vi phạm HACCP nhưng không đáng kể.

Khi những lỗi trên được khắc phục, FSIS đã quyết định Việt Nam và các nước khác có hệ thống giám sát cá da trơn tương đương với hệ thống của Mỹ. Do đó, Việt Nam sẽ tiếp tục xuất khẩu cá tra, basa sang thị trường Mỹ mà không vướng bất cứ rào cản phi thuế quan nào. FSIS cho biết, kết quả kiểm tra thực địa hệ thống giám sát cá da trơn của Việt Nam không phát hiện bất cứ lỗi nào đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

FSIS đã hoàn tất việc rà soát hồ sơ, đánh giá thực địa và xác minh quá trình khắc phục lỗi và toàn bộ các vấn đề còn tồn tại cũng đã được giải quyết. FSIS kết luận rằng, hệ thống giám sát cá da trơn của Việt Nam tương đương với hệ thống của Mỹ. Theo số liệu của USDA, thị phần xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam luôn ổn định trong 5 năm qua tại Mỹ (khoảng 90 – 92%). Trong khoảng thời gian này, tỷ lệ tiêu thụ cá da trơn tại Mỹ (nội địa và nhập khẩu) từ Việt Nam dao động 45,5 – 46,8%, với mức trung bình 5 năm khoảng 45,7%.

FSIS cho biết, luật dự kiến có thể mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp cá da trơn bằng cách ổn định thị trường và tiếp tục mở cơ hội giao thương giữa Mỹ và Việt Nam. Người tiêu dùng tại Mỹ có nhiều sự lựa chọn khi mua cá da trơn, đặc biệt là họ cá tra, basa – loài cá bản địa của Việt Nam, Trung Quốc và một số quốc gia châu Á. Cá tra, basa có hương vị, màu sắc và thớ thịt khác biệt hơn các loài cá da trơn tại Mỹ. Giao dịch cá tra, basa giữa Mỹ và Việt Nam được duy trì sẽ mang lại sự lựa chọn phong phú cho người tiêu dùng tại Mỹ.

Trong khoảng thời gian nhận phản hồi 30 ngày, FSIS sẽ cân nhắc các ý kiến đóng góp rồi mới đưa ra quy định cuối cùng. Mặc dù Chương trình giám sát cá da trơn của USDA sẽ khiến ngành cá da trơn nội địa và hãng nhập khẩu phải gánh thêm chi phí, nhưng dường như giờ đây mọi tham vọng lật đổ cá tra, basa nhập khẩu từ phía các nhà sản xuất cá da trơn nội địa tại Mỹ đã bị sụp đổ hoàn toàn.

Nuôi Cá Cảnh Xuất Khẩu

Vài năm trở lại đây, nghề nuôi cá cảnh phát triển mạnh về sản xuất lẫn xuất khẩu.

Điển hình là Trang trại cá cảnh Tống Hữu Châu (khu phố 1, phường Thạnh Xuân, quận 12), với diện tích 4.000m2, khoảng 500 hồ nuôi cá cảnh các loại. Dẫn chúng tôi tham quan từng hồ cá cảnh, anh Châu tâm sự: Những năm thập kỷ 90 của thế kỷ trước, với niềm đam mê, từ một kỹ sư thủy sản, anh bỏ công việc cơ quan nhà nước, bàn với gia đình mua đất mở trại nuôi cá cảnh. Hồi đó giữa cánh đồng vùng trũng, xung quanh ao hồ, cây cỏ, anh cải tạo thành những ao sản xuất cá trê lai, rồi chuyển thành những hồ nuôi cá cảnh khang trang. Anh tự mày mò, học tập kinh nghiệm nuôi cá của những người bạn đi trước, sau đó nuôi thử, khi thành công mới mạnh dạn đầu tư sản xuất, cung cấp thị trường nội địa và hướng đến xuất khẩu.

Hơn 20 năm trong nghề, đến nay trang trại của anh có khoảng 50 loài cá được anh yêu thích, sưu tầm và nhân giống, bao gồm cá dĩa, La Hán, chép Nhật, Hoàng kim, Bảy màu, xiêm…. Đặc biệt, năm 2005, anh thành lập website chúng tôi để tiện giao dịch và xuất bán cá cảnh, kể cả trong nước và xuất khẩu. Bình quân hàng năm, sản lượng cá cảnh của trại anh sản xuất đạt  khoảng 1,5 triệu con; trong đó xuất khẩu khoảng 150.000 con (cá dĩa, cá Koi, La Hán…), chủ yếu xuất sang thị trường Mỹ, Canada.

Trao đổi kinh nghiệm nghề nuôi cá cảnh, anh Châu cho biết ngoài tính cần cù chịu khó, còn phải có niềm đam mê. Nguồn nước, độ pH, ánh sáng và thức ăn là yếu tố quan trọng để cá phát triển, cho màu đẹp. Chẳng hạn như nuôi cá Koi (chép Nhật), trước hết phải xác định là nuôi cá ở hồ kiếng hay hồ xi măng. Nếu là hồ kiếng thì nên chọn giống cá Butterfly Koi (chép đuôi dài) vì chúng đẹp ở dáng thướt tha. Chọn cá nhỏ hoặc lớn đều được, khoảng từ 5cm – 40cm/con, tùy từng hồ, vì nuôi hồ kiếng cá bột lớn rất nhanh, nhưng khi phát triển đến 20cm thì khựng lại và chậm lớn… Nếu nuôi hồ xi măng (nhỏ nhất là 6m3) thì nên có hòn non bộ, một vài cây sen và súng, vừa trang trí cho đẹp vừa tạo bóng mát cho cá. Để nuôi hồ xi măng, nên chọn cá đã phát triển từ 20cm trở lên, vì hồ xi măng sẽ có rất nhiều vi sinh vật vừa có lợi vừa có hại cho cá, cá nhỏ sẽ khó chống chọi được. Theo kinh nghiệm, cá bột tỷ lệ sống là 50%, trong khi cá trên 20cm có tỷ lệ sống từ 90% – 99%. Cá nuôi trong hồ xi măng nên chọn loại cá Standard Koi (giống cá đuôi ngắn) vì sức khỏe và sức đề kháng gần gấp đôi loại Butterfly. Do chỉ nhìn từ phía trên nên màu cá là quan trọng nhất. Nên chọn cá có những mảng màu lớn và cân đối đều 2 bên, luôn có màu chủ đạo là trắng và đỏ. Một điểm đáng chú ý nữa và cũng rất quan trọng khi chọn cá Koi là hình dáng của chúng. Nên xem xét kỹ, dáng bơi phải thẳng và uyển chuyển, không có dị tật như phần cuối thân bị cong lên, hở mang, râu không đều (do bị cụt, mọc lại không được như cũ) và dị tật xấu nhất của cá là “méo miệng”.

Từ năm 2008 đến nay, ngoài việc làm giàu bằng nghề nuôi cá cảnh, anh còn là người đi đầu trong công tác truyền nghề cho các nông dân khác. Anh đã đi đến các phường, xã ngoại thành của các quận, huyện Nhà Bè, Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, Thủ Đức… để truyền đạt kinh nghiệm nuôi cá cảnh cho khoảng 1.000 nông dân.

Cá Tra Xuất Khẩu Tăng Giá – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Thống kê của chuyên trang thủy hải sản Undercurrent News cho thấy, từ mức giá tốt 2,75 USD/kg hồi tháng 3/2024, cá tra xuất khẩu của Việt Nam liên tục rớt giá. Quý IV/2024, mức giá FOB chỉ đạt 2,15 – 2,25 USD/kg. Mặc dù có tăng trưởng lên mức 2,25 – 2,35 USD/kg trong tháng 1/2024, nhưng dưới tác động của đại dịch COVID-19, giá cá tra xuất khẩu tiếp tục giảm xuống dưới 2,2 USD/kg và duy trì mức này từ tháng 2 đến hết quý II/2024. Dấu hiệu khả quan được ghi nhận từ đầu quý III, nâng mức giá bình quân cuối tháng 10 đạt 2,65 – 2,7 USD/kg.

Theo VASEP, giá cá tra nguyên liệu tại nhiều địa phương vùng ĐBSCL cũng bắt đầu tăng khoảng 5.000 – 6.000 đồng/kg so với hai tuần trước. Cụ thể, cá tra giống loại 30 – 35 con/kg tại Cần Thơ và các tỉnh lân cận hiện có giá 20.000 – 22.000 đồng/kg, trong khi trước đây chỉ 15.000 – 17.000 đồng/kg. Đồng thời, giá cá tra loại 0,7 – 0,8 kg/con tại Đồng Tháp đạt mức 21.800 – 22.500 đồng/kg, tăng 500 – 700 đồng/kg so với tuần trước. Giá cá tra bột cỡ 28 – 35 con/kg và 50 – 60 con/kg cũng tăng lên mức 22.000 – 24.000 đồng/kg, tăng 1.000 – 1.500 đồng/kg so với giữa tháng 10.

Theo Tổng cục Thủy sản, tính đến hết tháng 9, diện tích thả nuôi cá tra tại ĐBSCL đạt 4.968 ha, bằng 91% so cùng kỳ năm 2024, tổng sản lượng 9 tháng ước đạt trên 1 triệu tấn, bằng 93,6% cùng kỳ. Trong đó, diện tích nuôi và sản lượng thu hoạch tập trung ở 5 tỉnh trọng điểm là Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Bến Tre và Vĩnh Long.