Đương Đầu Với Kiện Chống Bán Phá Giá – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Những quy định cần biết

Bán phá giá là hiện tượng giá xuất khẩu của một sản phẩm từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của một sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo điều kiện thương mại thông thường. Về bản chất, bán phá giá trong thương mại quốc tế là hành vi phân biệt giá cả: đối với cùng một sản phẩm hoặc sản phẩm tương tự, nhưng giá xuất khẩu lại thấp hơn giá tiêu thụ nội địa. Đây được xem là một hành động nhằm chiếm lĩnh thị trường, tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh.

Các doanh nghiệp cá tra Việt Nam muốn mở rộng thị trường cần phải chủ động đối phó với các vụ kiện CBPG – Ảnh: Huy Hùng

Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau, song pháp luật các nước đều coi đây là hành vi thương mại không lành mạnh. Đa số chính phủ các nước đều cho rằng, cần phải có hành động chống lại hành vi bán phá giá, nhằm bảo vệ sản xuất trong nước.

Hiệp định về CBPG của WTO ra đời và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên. Hiệp định này quy định các biện pháp CBPG chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng được 4 điều kiện: Thứ nhất, sản phẩm đang bán phá giá. Thứ hai, có thiệt hại vật chất do hành động bán phá giá gây ra hoặc đe dọa doanh nghiệp nội địa đang sản xuất sản phẩm tương tự sản phẩm bán phá giá, hoặc gây ra sự trì trệ đối với quá trình thành lập một ngành công nghiệp trong nước. Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa bán phá giá và thiệt hại vật chất (hoặc đe dọa gây thiệt hại vật chất) do chính hành động bán phá giá đó gây ra. Thứ tư, tác động của bán phá giá phải có tính bao trùm, ảnh hưởng tới cộng đồng rộng lớn.

Theo quy định của WTO, các quốc gia có quyền tự do trong việc xây dựng các thủ tục để xác định hiện tượng bán phá giá và áp dụng biện pháp CBPG đối với hàng hóa nhập khẩu vào nước mình, miễn là không mâu thuẫn với các hiệp định và quy định của WTO. Tình trạng này là nguyên nhân chủ yếu để nhiều nước áp dụng luật CBPG như là công cụ thực hiện chính sách bảo hộ thái quá thị trường nội địa.

Nguy cơ từ thị trường Mỹ

Từ năm 2002 đến nay, qua 6 lần xem xét hành chính hằng năm, cùng với nhiều nỗ lực đấu tranh của VASEP và các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa Việt Nam, mức thuế CBPG này đã dần giảm về 0 đối với phần lớn các doanh nghiệp bị đơn Việt Nam.

Tuy nhiên, niềm vui được hưởng thuế suất bằng 0 của các doanh nghiệp Việt Nam chưa được bao lâu, thì ngày 14/3/2013, DOC thông báo quyết định cuối cùng của đợt POR8 đối với cá tra fillet đông lạnh Việt Nam, giai đoạn  1/8/2010 – 31/7/2011. Theo đó, thuế suất đánh vào mặt hàng cá tra fillet đông lạnh của doanh nghiệp Việt Nam tăng cao đột ngột so với kỳ POR7, trái ngược mức thuế sơ bộ rất thấp hoặc bằng 0 được công bố ngày 12/9/2012.

Quyết định này của DOC khiến các doanh nghiệp Việt Nam không khỏi sững sờ, lo lắng. Các cơ quan chức năng cũng như doanh nghiệp Việt Nam khẳng định, sẽ khởi kiện và kiện đến cùng để giành lại công bằng cho cá tra Việt Nam. Tuy nhiên, “được vạ thì má đã sưng” là điều khó tránh khỏi, bởi để vụ kiện đi đến hồi kết, và dù thành công hay thất bại thì doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải tốn không ít thời gian, tiền bạc. Điều này đã được chứng minh trong vụ kiện CBPG cho cá tra lần đầu tiên.

Vì sao bị kiện?

Cá tra là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam, hiện được xuất khẩu sang 142 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó thị trường Mỹ đóng vai trò rất quan trọng. Theo VASEP, năm 2012, giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam đạt 1,74 tỷ USD (tương đương năm 2011); trong đó kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ hơn 358 triệu USD, chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam.

Khi sản phẩm cá tra, basa Việt Nam tăng tốc vào Mỹ với giá hợp lý hơn, đã ảnh hưởng trực tiếp sản phẩm cá da trơn nuôi tại nước này. Thực tế, diện tích nuôi cá da trơn ở Mỹ chỉ trong năm 2012 đã giảm 1/2, từ khoảng 67.000 ha xuống còn hơn 33.000 ha. Những năm trước đây, người nuôi cá da trơn của Mỹ đã nhiều lần tìm cách ngăn cản doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ; trong đó có cả việc ép các cơ quan chức năng Mỹ phải tạo hàng rào kỹ thuật, coi cá tra, basa Việt Nam không phải cá da trơn. Gần đây nhất, các doanh nghiệp Mỹ yêu cầu DOC lựa chọn một nước khác là Indonesia hoặc Philippines làm căn cứ tính giá và thuế, thay thế Bangladesh cho vụ kiện CBPG cá tra, cá basa vào Mỹ trong POR8. Đây thực chất là cách làm không minh bạch, nhằm tìm cớ ngăn cản sự thâm nhập của cá tra Việt Nam vào Mỹ, bảo hộ sản phẩm cá da trơn nội địa đang dần mất ưu thế tại Mỹ.

Trong quá trình điều tra CBPG đối với cá tra Việt Nam, Mỹ thường chọn nước thứ ba thay thế làm cơ sở so sánh các yếu tố chi phí đầu vào. Việc chọn nước thay thế nào có quan hệ rất lớn đến việc xem xét cá tra Việt Nam có bán phá giá hay không. Ở lần POR8 này, Mỹ đột ngột thay đổi từ Bangladesh sang chọn Indonesia (có nền công nghiệp sản xuất, chế biến cá tra khác xa Việt Nam) làm nước thứ ba thay thế, khiến cá tra Việt Nam bị coi là đã bán phá giá và phải chấp nhận mức thuế “trừng phạt” tăng 25 – 45 lần so với lần POR7, là điều hết sức vô lý. Tuy nhiên, để làm rõ được vấn đề, Việt Nam phải chấp nhận đứng đơn kiện lên Tòa án Thương mại Quốc tế. Thời gian theo đuổi vụ kiện chắc chắn lại kéo dài và đó là thách thức mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt, nếu không muốn mất thị trường quan trọng này.

Không tránh được thì đương đầu

Khủng hoảng kinh tế tạo cơ hội cho các sản phẩm giá thấp như thủy sản, dệt may, da giày, gạo… mở rộng thị trường; đồng thời cũng làm tăng xu hướng bảo hộ của các nước phát triển, trong đó có CBPG. Trên thực tế, Việt Nam chưa phải mục tiêu chính trong các vụ kiện bán phá giá lớn trên thế giới. Tuy nhiên, cùng với năng lực xuất khẩu ngày càng tăng và lợi thế cạnh tranh chủ yếu về giá, đồng nghĩa việc Việt Nam sẽ phải đối mặt ngày càng nhiều đối với các vụ kiện bán phá giá. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam muốn kinh doanh, mở rộng thị trường xuất khẩu thì không có cách nào khác là phải chủ động phòng tránh và đối phó, thông qua tìm hiểu bản chất, thủ tục tiến hành, sử dụng các biện pháp ứng phó thích hợp khi có tình huống kiện tụng xảy ra.

Doanh nghiệp Việt Nam cần có chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu – Ảnh: Trần Huy

Bài học đầu tiên nhìn từ vụ kiện CBPG đối với cá tra Việt Nam là, khi ưu thế cạnh tranh của các nhà sản xuất nội địa giảm sút, thị phần của họ bị suy giảm, họ có thể sử dụng mọi biện pháp có thể để ngăn cản hàng nhập khẩu. CBPG chỉ là một trong các biện pháp mà người sản xuất nội địa có thể sử dụng. Do đó, các nhà sản xuất nội địa Mỹ có nhiều cơ hội ngăn cản hàng ngoại nhập. Doanh nghiệp Việt Nam vì thế phải có chiến lược đa dạng hóa sản phẩm và thị trường xuất khẩu, nhằm phân tán rủi ro, bảo đảm hoạt động sản xuất, “không nên bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Không nên tập trung xuất khẩu một vài mặt hàng với khối lượng lớn vào một nước, vì đây có thể là cơ sở cho các nước khởi kiện bán phá giá.

Bên cạnh đó, để đối phó các vụ kiện CBPG thì sự minh bạch trong các tài liệu ghi chép, sổ sách kế toán là điều cần được đặc biệt chú ý. Qua hai vụ kiện tôm và cá tra, chúng ta rút ra kinh nghiệm về chứng từ, số liệu kế toán của nhiều doanh nghiệp chưa rõ ràng, minh bạch, làm cho cơ quan điều tra không chấp nhận những chi phí đó, dẫn đến khó khăn và bất lợi trong việc điều tra biên độ phá giá của doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Duy Khiên, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Mỹ (Bộ Công thương) từng chỉ ra nguyên nhân khiến doanh nghiệp nước ta thua kiện CBPG là do doanh nghiệp che giấu thông tin, tài liệu kế toán, lưu trữ số liệu không cụ thể rõ ràng. “Để chủ động đối phó các vụ kiện, trước hết doanh nghiệp cần kiểm tra tài liệu kế toán, số liệu lưu trữ rõ ràng, chính xác. Những thông tin về giá bán, số lượng bán, ngày tháng xuất bán, chi phí tàu biển, điều chỉnh giá là phần phải có số liệu rõ ràng nhất. Thông tin về các chi phí trong sản xuất, chi phí khác phải tách bạch…” – ông Khiên khuyến nghị.

Mỹ Giảm 89% Thuế Chống Bán Phá Giá Cá Tra, Basa Việt Nam Trong Đợt Por 15

Hàng hóa Nguyên liệu

Mỹ áp dụng mức thuế chống bán phá giá 0,15 USD/kg với các doanh nghiệp hợp tác trả lời bản câu hỏi, tức giảm 89% so với đợt rà soát trước. Các doanh nghiệp không hợp tác nhận mức thuế 2,39 USD/kg. Một số doanh nghiệp xuất khẩu khác như Vĩnh Hoàn, Thủy sản Biển Đông… vẫn tiếp tục được hưởng mức thuế 0%.

Một số doanh nghiệp hợp tác với DOC trong đợt rà soát được giảm 89% thuế. Ảnh: STT

Bộ Thương mại Mỹ (DOC) vừa thông báo kết quả chính thức của đợt rà soát thuế chống bán phá giá lần thứ 15 (POR15) đối với sản phẩm cá tra – basa của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ giai đoạn từ 1/8/2024 đến 31/7/2024.

Mức thuế áp dụng cho một số doanh nghiệp đã tham gia trả lời bản câu hỏi và hợp tác với DOC là 0,15 USD/kg (tương ứng khoảng 3,8% giá xuất khẩu). Các doanh nghiệp không hợp tác nhận mức thuế 2,39 USD/kg. Như vậy, mức thuế dành cho các doanh nghiệp hợp tác đã giảm 89% so với đợt trước (POR14). Mức thuế cho các doanh nghiệp không hợp tác vẫn giữ nguyên.

Đây là thông tin tích cực đối với các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam trong bối cảnh tình hình dịch bệnh Covid-19 đang tác động tiêu cực đến ngành nuôi cá trong nước. Ngoài ra, hầu hết các doanh nghiệp lớn xuất khẩu cá tra của Việt Nam như Vĩnh Hoàn, Công ty TNHH Thủy sản Biển Đông… vẫn tiếp tục được hưởng mức thuế 0%.

Theo VASEP, do tác động xấu bởi dịch Covid-19, xuất khẩu cá tra trong quý I giảm mạnh đến 29,3% so với cùng kỳ năm 2024, chỉ đạt 334 triệu USD.

Đối với thị trường Mỹ, trong tháng 3 giá trị xuất khẩu cá tra đạt 23 triệu USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2024. Theo VASEP, mặc dù, giá trị xuất khẩu cá tra trong 3 tháng đầu năm giảm so với cùng kỳ năm ngoái (61,7 triệu USD, giảm 13,2%) nhưng thị trường đang có những phản ứng tích cực. Do đó, kỳ vọng trong quý II, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ vượt lên, đạt mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm 2024.

Mỹ Áp Thuế Chống Bán Phá Giá Cá Tra Kỳ Ii: Việt Nam Có Cơ Sở Để Khởi Kiện?

Bộ Công Thương Việt Nam và các tổ chức Hiệp hội trong nước đã có ý kiến khẳng định mức thuế Mỹ áp dụng cho cá tra Việt tại POR 13 là không công bằng và bảo hộ cao quá mức. Việt Nam hoàn toàn có thể có những biện pháp để đề nghị phía Hoa Kỳ xem xét lại một cách thỏa đáng.

Căn cứ kết luận của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) tại kỳ rà soát chính sách thương mại lần thứ 13 (POR 13), các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam sẽ bị áp dụng mức thuế chống bán phá giá từ 2,39 USD/kg – 7,74 USD/kg.

Mức thuế “tiêu diệt đối thủ”

Với mức thuế “gấp đôi giá bán” như quyết định , các chuyên gia và doanh nghiệp đều nhận định doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam sẽ bị “cấm cửa” vào thị trường Mỹ, trừ hai doanh nghiệp Biển Đông và Vĩnh Hoàn vì có mức thuế thoả thuận. Cùng với đó, theo ông Dương Nghĩa Quốc – Chủ tịch Hiệp hội cá tra Việt Nam (VINAPA), việc Mỹ không sử dụng số liệu nước thứ 3 như Bangladesh, Indonesia mà dùng số liệu có sẵn (AFA) để tính mức áp thuế cho cá tra Việt Nam trong đợt POR 13 “là sự bảo hộ quá mức”.

“Điều này được khẳng định là chưa có tiền lệ. Thậm chí thể hiện sự áp đặt chủ quan, thiếu cơ sở của DOC. Cho thấy quyết tâm của Hiệp hội Cá nheo Mỹ là đình chỉ sản phẩm fille đông lạnh cá tra vào thị trường này” – ông Quốc nhấn mạnh. Nói như ông Trương Đình Hoè- Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP): “Quyết định áp đặt của DOC đi ngược lại tiến trình tự do thương mại, quyền lợi người tiêu dùng Mỹ, ảnh hưởng đến ngành cá tra, sinh kế của nông dân Việt Nam”.

TS Nguyễn Thị Hồng Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy sản thậm chí còn đánh giá, mức thuế DOC áp lần này mang tính “tiêu diệt đối thủ” chứ không phải chống bán phá giá. Bởi theo tìm hiểu, nhiều doanh nghiệp nước ngoài bị Mỹ áp thuế chống bán phá giá quá cao đã phải bỏ thị trường.

Có cơ sở và có tiền lệ

Trao đổi với DĐDN, GS. TS Trần Việt Dũng – Trưởng khoa Luật quốc tế, Đại học Luật TP HCM, chuyên gia về bán phá giá khẳng định, Việt Nam có đủ cơ sở để khởi kiện Mỹ trong việc áp thuế chống bán phá giá cá tra quá mức lần này.

“Theo quy định tại Điều 2.4 tại Hiệp định về Chống bán phá giá, WTO yêu cầu so sánh phải đảm bảo công bằng. Tuy nhiên, hiện Mỹ đang sử dụng phương pháp “Quy về 0 – Zeroing” trong tính toán biên độ phá giá. Cùng với đó, Mỹ có thể thay đổi quốc gia cơ sở cho việc tính toán. Điều này khiến biên độ phá giá cao lên, mức thuế doanh nghiệp Việt Nam phải chịu vì vậy mà tăng cao”, Chuyên gia Dũng phân tích, đồng thời nhận định, Việt Nam có cơ sở để kiến nghị Mỹ xem xét thay đổi cách tính thuế, yêu cầu không áp dụng phương pháp “Quy về 0”.

GS.TS Trần Việt Dũng còn cho biết thêm, tiền lệ Việt Nam đã từng thắng trong vụ việc tương tự về tôm. DOC sau đó đã phải giảm mức thuế chống bán phá giá đối với tôm nước ấm đông lạnh của Việt Nam. “Không riêng với Việt Nam, ngay cả với tôm Thái Lan, Mỹ cũng đã nhiều lần thua kiện tương tự nhưng vẫn không bỏ cách tính thuế này” – ông Dũng nhấn mạnh.

Có cùng quan điểm, ông Bùi Huy Sơn, Tham tán Công sứ Thương mại, Trưởng cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết, tại lần công bố kết quả áp thuế cuối cùng của POR 9, Việt Nam cũng đã đề nghị phía Hoa Kỳ phải xem xét lại. Khi phía DOC không thể xem xét lại một cách thỏa đáng, Việt Nam đã khởi kiện lên Tòa án thương mại quốc tế Hoa Kỳ (CIT).

“Kể cả trong trường hợp phán quyết cuối cùng của tòa án (thường kéo dài 3-4 năm), mà vẫn không thỏa đáng, Việt Nam thậm chí có thể khởi kiện lên đến Tòa án thương mại liên bang. Do vậy, tôi có thể nói rằng, Việt Nam vẫn có cơ sở, có quyền và trên thực tế cũng đã từng áp dụng quyền của mình để đi đến cùng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam”, ông Sơn nhấn mạnh.

Nguồn: Báo Diễn đàn doanh nghiệp

Luận Văn Đề Tài Luật Chống Bán Phá Giá Và Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Cá Tra, Cá Basa Của Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế nền kinh tế, hội nhập và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế là xu thế không thể đảo ngược đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế của mình. Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt nam đã và đang tham gia sâu và rộng vào các tổ chức thương mại quốc tế như ASEAN, APEC và WTO. Việt Nam đã đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ. Những bên cạnh đó cũng đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những quy định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp.để bảo hộ nền sản xuất trong nước của mình. Áp lực từ các vụ kiện bán phá giá sẽ ngày càng tăng, sẽ ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế nói chung và thị trường xuất khẩu của Việt Nam nói riêng. Ngành sản xuất và chế biến thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Trong vài năm gần đây, cá basa và cá tra Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Mỹ dưới dạng philê đông lạnh đã góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá của người dân Mỹ đồng thời thúc đẩy được nghề nuôi loại cá này ở Việt Nam, Phát triển buôn bán cá basa, cá tra giữa Việt Nam và Mỹ là nhằm mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia. Nhưng thật đáng tiếc, Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ đã sớm lo lắng cho sự xâm nhập của cá basa và cá tra vào thị trường của họ đến mức đâm đơn kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá các sản phẩm này vào thị trường Mỹ. Như chúng ta đã biết, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang dần xoá bỏ những rào cản thuế quan giữa các thị trường nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch phát triển đặc biệt là ở các nước giầu mạnh. Thương trường Mỹ mở ra những cơ hội đầy triển vọng nhưng nó lại được điều chỉnh bằng một hệ thống luật pháp và các rào cản thương mại cực kỳ chặt chẽ. Luật thuế Chống bán phá giá hiện nay đang là một công cụ hữu hiệu được sử dụng phổ biến trên thị trường này nhằm bảo hộ nền công nghiệp trong nước trước cơn lũ hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa Việt Nam vào thị trường Mỹ đã cho thấy những rào cản đầu tiên mà các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp phải khi tiếp cận thị trường Mỹ. Nhưng không vì thế mà các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra bi quan và e ngại. Chúng ta đã tích cực hầu kiện và đã rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu. Chính vì tầm quan trọng và tính thời sự của vấn đề, nhóm em mạnh dạn chọn đề tài “Luật Chống Bán Phá Giá Và Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Cá tra, cá BaSa Của Việt Nam” nhằm mục đích tìm ra một số giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá Basa của Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Việt Nam Đủ Điều Kiện Xuất Khẩu Cá Tra, Basa Sang Mỹ – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Việt Nam được phép xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ

Thông báo của FSIS sẽ được công bố trên Công báo liên bang chính thức vào ngày 19/9 với thời gian nhận phản hồi trong vòng 30 ngày.

Sau khi duyệt hồ sơ kế hoạch của Việt Nam, FSIS đã lên kế hoạch kiểm tra thực địa vào tháng 5/2024. Kiểm tra thực địa đã xác nhận rằng kế hoạch mà Việt Nam đưa ra luôn bám sát thực tế và FSIS chỉ phát hiện một điểm khác biệt rất nhỏ so với hồ sơ gửi đi nhưng lỗi này không ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm. Một trong số những lỗi này là vi phạm HACCP nhưng không đáng kể.

Khi những lỗi trên được khắc phục, FSIS đã quyết định Việt Nam và các nước khác có hệ thống giám sát cá da trơn tương đương với hệ thống của Mỹ. Do đó, Việt Nam sẽ tiếp tục xuất khẩu cá tra, basa sang thị trường Mỹ mà không vướng bất cứ rào cản phi thuế quan nào. FSIS cho biết, kết quả kiểm tra thực địa hệ thống giám sát cá da trơn của Việt Nam không phát hiện bất cứ lỗi nào đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

FSIS đã hoàn tất việc rà soát hồ sơ, đánh giá thực địa và xác minh quá trình khắc phục lỗi và toàn bộ các vấn đề còn tồn tại cũng đã được giải quyết. FSIS kết luận rằng, hệ thống giám sát cá da trơn của Việt Nam tương đương với hệ thống của Mỹ. Theo số liệu của USDA, thị phần xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam luôn ổn định trong 5 năm qua tại Mỹ (khoảng 90 – 92%). Trong khoảng thời gian này, tỷ lệ tiêu thụ cá da trơn tại Mỹ (nội địa và nhập khẩu) từ Việt Nam dao động 45,5 – 46,8%, với mức trung bình 5 năm khoảng 45,7%.

FSIS cho biết, luật dự kiến có thể mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp cá da trơn bằng cách ổn định thị trường và tiếp tục mở cơ hội giao thương giữa Mỹ và Việt Nam. Người tiêu dùng tại Mỹ có nhiều sự lựa chọn khi mua cá da trơn, đặc biệt là họ cá tra, basa – loài cá bản địa của Việt Nam, Trung Quốc và một số quốc gia châu Á. Cá tra, basa có hương vị, màu sắc và thớ thịt khác biệt hơn các loài cá da trơn tại Mỹ. Giao dịch cá tra, basa giữa Mỹ và Việt Nam được duy trì sẽ mang lại sự lựa chọn phong phú cho người tiêu dùng tại Mỹ.

Trong khoảng thời gian nhận phản hồi 30 ngày, FSIS sẽ cân nhắc các ý kiến đóng góp rồi mới đưa ra quy định cuối cùng. Mặc dù Chương trình giám sát cá da trơn của USDA sẽ khiến ngành cá da trơn nội địa và hãng nhập khẩu phải gánh thêm chi phí, nhưng dường như giờ đây mọi tham vọng lật đổ cá tra, basa nhập khẩu từ phía các nhà sản xuất cá da trơn nội địa tại Mỹ đã bị sụp đổ hoàn toàn.