Thông Tin Và Kỹ Thuật Nuôi Cá Cờ

Kích thước tối đa 6.7 cm nhưng có thể lớn đến 8 cm trong môi trường nuôi dưỡng. Số lượng gai vây lưng (tia cứng): 11 – 17; tia vây lưng (tia mềm): 5 – 10; gai vây hậu môn 7 – 22; tia vây hậu môn: 9 – 15; đốt sống: 27 – 29.

Đuôi hình chiếc nĩa, ở cá đực hai thuỳ đuôi kéo dài; viền ngoài gần gốc đuôi có hình răng cưa nhọn; có một chấm xanh viền đỏ nổi bật trên nắp mang; ở mẫu vật, trên thân có 7-11 sọc nổi bật và đậm màu trên nền vàng nhạt (ở cá thể sống là những sọc xanh trên nền thân màu hanh đỏ); một vạch đen kéo dài từ miệng qua mắt đến chấm xanh trên nắp mang, đầu và lưng có nhiều chấm đen, khe và viền vảynhạt màu hơn vảy.

Sinh học:

Sống ở miền nhiệt đới, trong môi trường nước ngọt, gần bề mặt, độ pH: 6.0 – 8.0; độ cứng dH: 5 – 19, nhiệt độ: 16 – 26°C. Cá đực thường hung dữ và đá nhau tranh giành lãnh thổ, nhất là trong mùa sinh sản. Chúng chọn nơi yên tĩnh để nhả bọt và dẫn dụ cá cái đến để đẻ trứng, tổ bọt thường có bán kính xấp xỉ 15 cm, số lượng trứng có thể lên đến 300, sau khi thụ tinh trứng được cá bố mẹ nhả lên tổ bọt và cá đực tiếp tục chăm sóc trứng. Trứng nở sau 1 ngày. Sau 3 ngày thì cá con bơi lội tự do được. Thức ăn của cá bột là những vi sinh vật có sẵn trong nước.

Nơi sống và sinh thái:

Cư ngụ ở những vùng nước trũng, từ vùng bụi hoang ven bờ hay vũng nước tù ở gần sông, suối cho đến những con kênh dẫn nước bên cạnh những ruộng lúa. Ở Việt Nam, loài này còn xuất hiện ở vùng cao nguyên thượng nguồn của sông Đồng Nai. Chúng có thể sống nơi nước đục và nghèo ô-xy hoà tan (nhờ khả năng thở trực tiếp). Thức ăn bao gồm tất cả những loài động vật thuỷ sinh kích thước nhỏ kể cả cá nhỏ.

Phân bố:

Các tỉnh phiá Bắc trải dài từ Vinh đến Tuy Hoà (ngoại trừ lưu vực sông Hương nơi chảy ra Huế và thị trấn Đông Hà , Quảng Trị). Loài này còn xuất hiện ở thượng nguồn sông Đồng Nai (chảy qua Sài Gòn). Thế giới: Lào, Campuchia, Malaysia, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Giá trị sử dụng:

Loài cá được nuôi làm cảnh, cá cờ là loài cá cảnh thứ hai sau cá vàng được nhập cảnh vào châu Âu (Pháp 1869, Đức 1876), không có giá trị trong ngư nghiệp và chăn nuôi.

Thông tin và kỹ thuật nuôi cá cờ đen

Tên Việt Nam: cá cờ, lia thia, thia đá, săn sắtTên Latin: Macropodus spechti (Schreitmüller, 1936)Tên tiếng Anh: black paradise fishHọ: cá tai tượng Osphronemidae, phân họ: cá cờ MacropodinaeBộ: PerciformesLớp: cá vây tia Actinopterygii (ray-finned fishes)

Loài cờ đen Macropodus spechti có các chấm đen đặc trưng trên vây lưng và đuôi. Loài đặc hữu của Việt Nam. Chúng được phát hiện ở Huế và Hội An

Mô tả: kích thước tối đa 5.8 cm. Số lượng gai vây lưng (tia cứng): 11 – 15; tia vây lưng (tia mềm): 4 – 9; gai vây hậu môn: 17; tia vây hậu môn: 11 – 14; đốt sống: 28 – 30. Chấm trên nắp mang rất mờ hoặc không có, thân có 4-12 sọc rất nhạt màu trên nền nâu nhạt hay không có gì hết, đầu và lưng không có chấm đen, khe và viền vảy đậm màu hơn vảy, chóp vây bụng (hay còn gọi là kỳ) màu đỏ, chấm và sọc đen trên vây lưng và đuôi, phần phía trước của vây lưng và đuôi có màu xanh, tia đuôi kéo dài có màu trắng hay đen ở gần chóp.

Sinh học: sống ở miền nhiệt đới, trong môi trường nước ngọt, gần bề mặt, độ pH: 6.5 – 7.8; độ cứng dH: 20, nhiệt độ: 20 – 26°C.

Nơi sống và sinh thái: cư ngụ ở những dòng suối nhỏ, trong bụi hoang ven bờ hay vũng nước tù hay những con kênh dẫn nước bên cạnh những ruộng lúa.

Phân bố: lưu vực sông Hương và sông Thu Bồn. Loài đặc hữu.

Giá trị sử dụng: loài cá được nuôi làm cảnh, không có giá trị trong ngư nghiệp và chăn nuôi.

Thông tin và kỹ thuật nuôi cá cờ đỏ

Tên Việt Nam: cá cờ, lia thia, rô thia, săn sắtTên Latin: Macropodus erythropterus (Freyhof & Herder, 2002)Tên tiếng Anh: Vietnamese paradise fish, red paradise fishHọ: cá tai tượng Osphronemidae, phân họ: cá cờ MacropodinaeBộ: PerciformesLớp: cá vây tia Actinopterygii (ray-finned fishes)

Loài cá cờ đỏ Macropodus erythropterus có lưng màu hanh đỏ. Loài đặc hữu của Việt Nam. Chúng được phát hiện ở các tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình

Mô tả: kích thước tối đa 6.5 cm. Số lượng gai vây lưng (tia cứng): 12 – 16; tia vây lưng (tia mềm): 6 – 8; gai vây hậu môn: 17; tia vây hậu môn: 13 – 17; đốt sống: 29. Chấm trên nắp mang rất mờ hoặc không có, thân có từ 10-12 sọc nhạt màu, đầu và lưng không có chấm đen, khe và viền vảy rất đậm màu so với vảy, chóp vây bụng (hay còn gọi là kỳ) màu đỏ, chấm và sọc đỏ nâu trên vây lưng và đuôi, các tia vây màu nâu nhạt, lưng màu hanh đỏ và phần thân phía trên vây hậu môn có màu xanh dương hay xanh lục ánh kim.

Sinh học: sống ở miền nhiệt đới, trong môi trường nước ngọt, gần bề mặt.

Nơi sống và sinh thái: cư ngụ ở ven bờ những dòng suối nhỏ nơi có nhiều thực vật nổi và rễ cây.

Phân bố: sông Gianh, sông Cam Lộ, thị trấn Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, thị trấn Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Loài đặc hữu.

Giá trị sử dụng: loài cá được nuôi làm cảnh, không có giá trị trong ngư nghiệp và chăn nuôi.

Đặc Sản Cá Vồ Cờ Tươi

Không chỉ có loài cá biển mới đem đến hàm lượng dinh dưỡng cần thiết mà những loại cá nước ngọt cũng thế. Ngoài thành phần protein là thành phần chủ yếu có trong cá nước ngọt thì nó còn chứa thêm các thành phần quan trọng khác như lipid, vitamin thiết yếu. Trong đó có thể kể đến cá vồ cờ là một loài cá mang đến nhiều lợi ích cũng như giá trị cho người sử dụng.Trong bài viết hôm nay hải sản Ông Giàu sẽ giới thiệu về những lợi ích những món ăn ngon được chế biến từ cá vồ cờ để khách hàng biết cách sử dụng và nhận được những lợi ích loài cá này.

Cá vồ cờ là một loại cá thuộc họ cá da trơn, sinh trưởng và phát triển chủ yếu ở khu vực hạ lưu của sông Mê Công nên cá vồ cờ được đánh bắt phần lớn là ở đây. Với thân hình khá lớn, cân nặng đôi khi có thể lên tới 200kg và đặc biệt là rất hung hăng. Nhiều ngư dân biển khi rất sợ đụng phải loài cá này vì tính hung hãn của nó.

Cá vồ cờ

Nhận biết cá vồ cờ không quá khó, với ngoại hình khổng lồ cùng với các vây trên lưng để rẽ nước rất giống với các loại cá mập ở dưới biển. Mặc dù có nhiều khuyết điểm như thế nhưng cá vồ cờ có thịt rất thơm, và hiện nay số lượng cá được đánh bắt hàng năm là rất lớn. Những người ngư dân biển chủ yếu đánh bắt cá vồ cờ bằng cách câu nhưng cũng gặp nhiều khó khăn vì cá có trọng lượng lớn.

Nơi bán cá vồ cờ tươi ở TpHCM – giá bao nhiêu?

Loại cá nước ngọt khổng lồ – cá vồ cờ đang được bán ở hải sản Ông Giàu với một mức giá phải chăng. Ngoài giá tốt thì cá vồ cờ được bán ở đây đảm bảo chất lượng, cá tươi ngon. Thịt cá vồ cờ sau khi chế biến vẫn giữ được độ dai, chắc, ngọt không quá béo và rất thích hợp để nấu nhiều món.

Mã sản phẩm: 390

Giá sản phẩm: 250.000 VNĐ/kg

Sơ chế cá vồ cơ tươi ngon như thế nào?

Nguyên liệu cá vồ cờ tươi sau khi được mua về thì có thể tự mình sơ chế. Đầu tiên cá được loại bỏ những phần không ăn được và sau đó tẩy sạch lớp da nhờn của cá. Rồi tiến hành cắt khúc cho phù hợp với món ăn chuẩn bị chế biến. Thông thường với cá vồ cờ tươi thì có thể nấu các món như lẩu, cá vồ cờ hấp gia vị, cá vồ cờ nướng muối ớt…

Mua cá vồ cờ ngon nhất chỉ tại hải sản Ông Giàu ở Sài Gòn. Thủ tục đặt hàng cá vồ cờ ở đây rất đơn giản và nhanh chóng bạn sẽ nhận được ngay cá vồ cơ chất lượng đúng theo yêu cầu với mức giá cực kỳ phải chăng. Chi tiết rõ hơn về sản phẩm cá vồ cờ có thể liên hệ trực tiếp cho nhân viên tại website này.

(DeMy)

Lưu Giữ Và Sinh Sản Cá Vồ Cờ

Cá vỗ cờ đang được lưu giữ và cho sinh sản nhân tạo tại Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ (Cái Bè, Tiền Giang). Là loài cá rất quý hiếm, do đánh bắt quá mức thiếu kiếm soát cho nên loài cá này có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Cá Vồ cờ (Pangasius sanitwongsei Smith, 1931) là một trong những đối tượng của nhiệm vụ “Lưu giữ nguồn gen” của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II. Hiện nay Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II đang tập hợp và lưu giữ được 22 cá thể cá vồ cờ, có khối lượng từ 2,5 đến 31 kg. Cá sống khỏe và tăng trưởng nhanh trong điều kiện nuôi nhốt. Tuy thức ăn ưa thích của chúng là động vật tươi sống nhưng có một số cá thể đã thích nghi được với thức ăn viên công nghiệp.

2. Đặc điểm sinh sản

Trong số 22 cá thể cá Vồ cờ thì có 3 con cá cái và 1 cá đực thành thục và đã tham gia sinh sản. Cũng giống như một số loài cá khác, cá vồ cờ không đẻ tự nhiên trong điều kiện nuôi nhốt trong ao nước tĩnh. Để cá sinh sản nhân tạo cần phải dùng đến kích thích tố, cá rụng trứng tốt sau khi được tiêm chất kích thích với thời gian hiệu ứng kích thích tố từ 10 – 12 giờ. Trứng cá vồ cờ thuộc loại trứng dính, sau khi thụ tinh trứng được khử dính bằng tanin và ấp trong bình weys, sau thời gian 36 – 40 giờ thì cá nở ở nhiệt độ nước 28 – 30 oC. Cá vồ cờ thuộc loài cá dữ nên cá bột sau khi hết noãn hoàn có hiện tượng ăn thịt lẫn nhau, tuy nhiên sau 20 ngày tuổi khi cá hoàn toàn quen với thức ăn công nghiệp thì hiện tượng ăn lẫn nhau mới chấm dứt.

Vuốt trứng cá cái cho sinh sản Cá hương 30 ngày tuổi

Kỹ Thuật Nuôi Cá Nheo

– Chu kỳ nuôi cá nheo miệng rộng là một năm thì cá đạt kích cỡ thương phẩm để thu hoạch. 3. Thức ăn và cách cho cá ăn. – Trong nuôi cá Nheo miệng rộng thường dùng 2 loại thức ăn chủ yếu là thức ăn thuần túy động vật và thức ăn chế biến tổng hợp. + Thức ăn thuần túy động vật: Bao gồm cá tạp nhỏ, cá giống của các loại cá, cùng với các loại thức ăn sống như giun nước và giun đất… các loại thịt ốc bươu, ốc sên, nội tạng gia súc và gia cầm. Hệ số thức ăn đối với từng loại thức ăn như sau: Cá tạp nhỏ là 2,7 – 5,0, thịt ốc buơu 13 – 18, giun đất sống 8 – 10, phổi heo, ruột bò 5,5 – 7,5. + Thức ăn chế biến tổng hợp: Đạm thô 36 – 42%, chất béo thô 6 – 10 %, đường 22 – 28%, chất xơ 4 – 6%. Nguyên liệu chế thức ăn tổng hợp trừ các loại bột cá, nhộng tằm ra, còn có bột ngô vàng, bột bột khoai tây. – Để biết lượng thức ăn cho cá ăn hằng ngày có phù hợp không, cần kiểm tra lượng thức ăn và thời gian cá ăn hết, tỷ lệ sinh trưởng của cá đã đạt đến chỉ tiêu nhất định và cá có khỏe mạnh hay không. Nếu cho cá ăn quá liều lượng gây nên hiện tượng thời gian bắt mồi kéo dài, có thức ăn thừa, lượng mỡ trong cơ thể cá tích lũy quá nhiều. Nếu cho ăn không đủ dẫn đến cơ thể cá gầy đi và kích cỡ không đồng đều. Số lần cho ăn trong ngày 2 lần/ngày. – Cho cá ăn theo nguyên tắc “4 xem”, “4 định”. Tức là sau khi nắm vững lượng thức ăn cho cá ăn hàng ngày, còn cần phải xem chất nước, xem khí trời, xem mùa vụ và xem tình hình hoạt động và bắt mồi của cá, cần linh hoạt xác định lượng thức ăn thực tế. + Xem chất nước: Nếu màu nước ao bình thường, độ béo thích hợp có thể cho cá ăn lượng thức ăn bình thường. Nếu chất nước quá đậm, sinh vật phù du phát triển quá nhiều, có khả năng làm cá nổi đầu, thì ngưng cho ăn, cần phải thay nước rồi mới cho cá ăn. + Xem khí hậu: Là căn cứ vào tình hình khí hậu thời điểm đó mà cho ăn, nếu như trời u ám, nóng bức quá mức, có sấm chớp và mưa dầm liên tiếp, cho cá ăn ít hoặc ngừng cho ăn. + Xem thời tiết: Là tùy theo thời tiết để điều chỉnh lượng thức ăn cho cá ăn, vào tháng 7 – 9 nhiệt độ nước cao nhất, cá ăn nhiều lớn nhanh, thời tiết này cá ăn nhiều nhất; tháng 5 – 6 nhiệt độ cũng lên cao, nhưng cá vẫn còn chưa lớn, do đó lượng thức ăn ít hơn; tháng 10 – 11 tuy nhiệt độ đã giảm, nhưng cần nuôi thúc cho cá béo, nên vẫn cho ăn lượng thức ăn thích hợp. + Xem tình trạng hoạt động bắt mồi của cá: Căn cứ vào lượng thức ăn cho ăn hằng ngày. Trong sản xuất nói chung, yêu cầu cá nuôi trong ao khoảng thời gian ≥ 1 giờ về cơ bản ăn hết lượng thức ăn, nếu không thì phải tăng giảm lượng thức ăn. – Phải thực hiện “4 định” chính là định thời giờ, địa điểm, định giờ, định chất, định lượng. + Định giờ cho ăn: Tốt nhất mỗi ngày cho ăn 2 lần, do cá nheo có dạ dày phình to, 1 lần ăn no sau đó có thể duy trì cung cấp dinh dưỡng trong thời gian tương đối dài. + Định điểm cho ăn: Có thể làm cho cá nheo bắt mồi ở vị trí nhất định, cần đặt thức ăn trong sàng ăn, sàng ăn thường dùng lưới cước cỡ 25 – 40. Trong ao thường đặt 1 – 2 sàng thức ăn, ao có diện tích 1.000 – 2.000 m2 đặt 6 – 10 sàng ăn, lúc cho ăn nên gõ vào thùng thức ăn, tạo phản xạ có điều kiện cho cá đến ăn. Không nên chuyển chỗ ăn đi nơi khác, hoặc nay để chỗ này, mai để chỗ khác. Nếu không thì thức ăn thừa, phân cá tích lũy lại làm ảnh hưởng đến việc cá bắt mồi. Nơi đặt sàng ăn, thường xuyên dùng vôi sống để khử trùng. + Định chất: Cần đảm bảo chất lượng thức ăn, không dùng nguyên liệu biến chất và phải phối chế thức ăn theo yêu cầu dinh dưỡng của cá. Ngoài ra, thức ăn cần phải chế biến tỉ mỉ, cỡ viên vừa miệng, nâng cao tỷ lệ tiêu hóa thức ăn của cá. + Định lượng: Yêu cầu cơ bản là nắm vững lượng thức ăn cung cấp cho cá, không để cho cá đói, cũng không để cho cá ăn quá no. Cá nheo miệng rộng trong trạng thái đói và nửa đói sẽ ăn thịt lẫn nhau. Lượng thức ăn của cá nheo có quan hệ với kích thước cá, nhiệt độ nước, lượng oxy, chất lượng thức ăn… lúc chất nước tốt, khí hậu đẹp, cá ăn mạnh có thể cho cá ăn nhiều; nếu khí trời không bình thường thì giảm bớt thức ăn, thậm chí không cho ăn; mùa hè nhiệt độ cao, ban ngày cho ăn ít, buổi chiều tối cho cá ăn nhiều. 4. Chăm sóc và quản lý ao nuôi – Công việc quản lý hàng ngày của ao nuôi cá thương phẩm, có thể khái quát thành 3 siêng và 4 kịp thời: + “3 siêng”: Tức là siêng kiểm tra ao, siêng làm vệ sinh ao, siêng ghi chép. Mỗi ngày cần tuần tra ao 3 lần: Vào buổi sáng sớm chủ yếu quan sát cá nổi đầu không và mức độ nặng nhẹ của nổi đầu, đồng thời dùng biện pháp tương ứng để xử lý; buổi trưa kiểm tra ao, kết hợp cọ rửa sàng ăn, kiểm tra hoạt động bắt mồi của cá; lúc chập tối chú ý đến sự biến hóa của chất nước, mực nước, trạng thái ao nghèo oxy, hoặc cá sinh bệnh tật. + “3 kịp thời”: Kịp thời dự báo tình trạng ao nghèo oxy, ao cá nổi đầu, kịp thời thêm và thay nước mới hoặc các biện pháp điều chỉnh chất nước; kịp thời phòng trị bệnh. Do cá Nheo chỉ cần nổi đầu 1 lần thì trong mấy ngày sau giảm bắt mồi, không lớn. Vì vậy, trong sản xuất cần tránh hiện tượng này không xảy ra. Thông thường cứ 10 ngày cho thay nước 1 lần, mỗi lần nâng mức nước lên 10cm. Lúc nhiệt độ cao cần tăng cường thay nước cũ, bổ sung nước mới. – Khi thời tiết thay đổi cần tăng thêm số lần kiểm tra vào ban đêm, dùng các biện pháp an toàn, bảo đảm cho ao cá không xảy ra sự cố. – Luôn luôn chú ý diệt trừ cá tạp xung quanh ao, xử lý tốt tạp chất, trong ao và màng nổi sinh vật trên mặt nước, thức ăn thừa và cá bệnh; định kỳ bón vôi sống để cải thiện chất nước. – Cần ghi chép các tình hình về: Khí hậu, nhiệt độ nước, độ trong nước, lượng cho ăn, bệnh tật, thay đổi nước và sự sinh trưởng, nổi đầu 5. Thu hoạch Sau 6 – 8 tháng nuôi cá đạt kích cỡ thương phẩm tiến hành thu hoạch, khi cá Nheo đạt kích cỡ thương phẩm 1,5 – 1,8 kg/con thì thu hoạch toàn bộ, kích cỡ thu hoạch tùy thuộc vào điều kiện cụ thể.

Kỹ Thuật Nuôi Cá Chình

Cá chình là loài cá có thịt ngon, có giá trị kinh tế cao, cá có khả năng thích ứng rộng với độ mặn. Chúng có thể sống cả ở nước mặn, lợ, ngọt.

Tùy theo điều kiện và khả năng thực tế sản xuất của nông hộ mà bố trí ao nuôi cho phù hợp. Diện tích tốt nhất là khoảng 200-1000m2, nên bố trí ao nuôi dốc về phía cống thoát nước. Cần phải có ao chứa nước dự phòng để tiện trong việc, xử lý, cấp nước khi cần thiết.

Chọn ao có bờ cao hơn mặt nước từ 60 cm trở lên và xung quanh ao phải rào lưới cao 50cm để tránh cá thoát ra ngoài, bờ ao không thẩm lậu, rò rỉ. Ðáy ao là cát hoặc cát bùn, độ sâu từ 1,5 – 1,8m. Nên nên bố trí ống bọng bằng sành hoặc nhựa vào trong ao để cá có chỗ cư trú.

Phơi đáy ao từ 5-7 ngày (đối với những vùng đất có phèn tiềm tàng thì bà con nên phơi 2 ngày rồi cấp nước vào để tránh hiện tượng xì phèn). Sau đó cấp nước vào đầy ao nuôi, lưu ý cần phải lọc để nước đạt độ sâu 1,5-1,8m rồi xử lý ao bằng thuốc tím 2-4kg/1000m2. sau 2 ngày ta tiến hành gây màu nước để ổn định chất lượng nước trong ao, tạo nên môi trường phù hợp với tập tính sống của cá. Có thể bón phân DAP hoặc NPK ( hòa tan trong nước) với liều lượng 1-2kg/1000m2hòa tan tạt vào lúc 8h sáng liên tục trong 2-3 ngày đến khi nước có màu xanh đọt chuối, độ trong 30-40cm, p H : 7.5 – 8.5 thì đạt yêu cầu.

Cá Chình thường không thích ánh sáng, cho đặt các vật như ống sành, ống nhựa hoặc thả chà khô… để chúng trú ẩn.

Chọn giống: cần chọn mua cá từ các cơ sở cung cấp giống uy tín. Cá giống khỏe, da bóng, nhiều nhớt, không bệnh tật. do nguồn giống chủ yếu được đánh bắt từ tự nhiên, cô bác cần lưu ý tránh mua cá đánh bắt bằng câu, xung điện chúng tôi thả thì tỷ lệ hao hụt rất cao. Có thể chọn giống cá ương tại địa phương từ cá hương lên cá 10con/kg, cá này ít hao hụt, tỷ lệ sống cao và phù hợp với điều kiện tại địa phương.

Trọng lượng cá thả tốt nhất từ 5 – 10con/kg là tốt nhất.

Mật độ thả: từ 0.5-1con/m2.

Vận chuyển bằng túi nilông có bơm ôxy

+ Trước khi vận chuyển 1 ngày không cho cá ăn, cần nhốt cá vào giai, đặt chỗ nước trong, có dòng chảy để luyện 24-26 giờ cho cá quen môi trường chật hẹp;

+ Phải hạ nhiệt độ cho cá xuống 8-10oC, mới cho đóng vào túi, làm cho cá ở trạng thái ngủ, ít hoạt động, nhiệt độ hạ từ từ, không vượt quá 5 – 8oC một lần;

+ Khi đóng túi mật độ không được vượt quá 5kg/túi; ôxy không được quá ít cũng không được quá nhiều đều không có lợi cho cá; không được đè vật nặng lên trên túi giấy; tính toán thời gian vận chuyển hợp lý cho mỗi lần vận chuyển; nếu thời gian vận chuyển quá dài phải mở túi ra thay nước, bơm lại ôxy; thời gian vận chuyển quá dài, mật độ vận chuyển phải giảm tương ứng;

+ Vận chuyển đến nơi, thả cả túi nilon xuống ao để nhiệt độ trong, ngoài túi bằng nhau mới mở túi cho cá ra ngoài.

Trước khi thả cần dùng 1 trong 3 loại hoá chất để tắm cho cá :

– KMnO4: 1 – 3 ppm;

– CuSO4: 0,3 – 0,5ppm;

– Formalin : 1 – 3 ppm.

Hoặc ngâm cá trong dung dịch nước muối 15 – 30 %o từ 15 – 30 phút.

Cần phải quản lý các vấn đề sau:

Cá Chình là đối tương nuôi mới, hằng ngày phải thường xuyên theo dõi quá trình hoạt động của cá để có biện pháp xử lý kip thời khi tình huống xấu xảy ra. Theo dõi thật kỹ từ cách cho ăn đến sự biến đổi môi trường (đặc biệt pH, khí độc).

Thức ăn cho cá Chình bao gồm giun, ốc, cá tạp…cần băm nhỏ cho vừa cỡ miệng cá. Để cá dễ ăn và tránh nhiễm bệnh ký sinh từ cá tạp, nên nhúng cá qua nước muối sau đó xã lại nước ngọt rồi đem cho cá ăn. Khi cá còn nhỏ, thức ăn nên xay ra để cá dễ ăn. Để quản lý thức ăn hàng đ hiệu quả cấn lưu ý một vấn đề sau:

– Thức ăn cần tươi, sạch (tránh mua thức ăn đả qua ốp hóa chất).

– Phải xác định vị trí đặt sàn hợp lý.

– Phải canh thức ăn không để quá dư (ở nhiệt độ nước khoảnh 25 oC lượng thức ăn cho ăn một ngày đêm từ 5 – 10% tổng trọng lượng cá trong ao. Nếu nhiệt độ thấp hơn 25 oC hoặc cao hơn 34oC thì phải giảm bớt lượng cho ăn trong ngày. Thường lấy mức cá cho ăn trong 1giờ làm chuẩn, điều chỉnh lượng thức ăn sao cho cá ăn hết trong 1giờ làvừa. Do cá lớn dần nên cách 10 ngày phải tăng lượng thức ăn lên 1 lần. Tùy vào thời tiết, giai đoạn cụ thể mà điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Cá thường ăn mạnh vào nhũng ngày nắng tốt, có gió và giảm ăn vào những ngày âm u có mưa, lặng gió) ..

– Phải cho ăn đúng giờ. Không nên thay đổi thức ăn một cách đột ngột mà phải thay đổi từ từ.

– Cho ăn một cử trong ngày sáng hoặc chiều mát.(sàn cho cá ăn là khung hình vuông làm bằng sắt, kích cở tốt nhất rộng 1m2cao 20cm, căng bằng lưới cước)

Chủ yếu là quản lý các yếu tố:

Quản lý pH: cần khống chế ở 7.5-8.5.

Oxy hòa tan: cần duy trì từ 3mg/l trở lên

Độ trong: gây màu nước hoặc thay nước để điều chỉnh độ trong thích hợp 30-40cm.

Nhiệt độ: thích hợp tự 25-34 C.

Chúng ta thay nước khi thật sự cần thịết. Bởi vì, cá chình rất mẫn cảm với sự thay đổi môi trường. Mỗi lần thay không vượt quá 20% lượng nước trong ao.

Vào những ngày nắng nóng, tốt nhất chúng ta nên lấy nước vào lúc nữa đêm đến sáng sớm để tránh cho cá bị sốc do môi trường thay đổi đột ngột dẫn đến cá bỏ ăn, dễ sinh bệnh.