Kỹ Thuật Nuôi Cá Rồng Sinh Sản

--- Bài mới hơn ---

  • Tượng Cá Chép Hóa Rồng Tạo Vượng Khí, Tài Lộc, Sự Nghiệp
  • Sự Tích Và Ý Nghĩa Của Cá Chép Hóa Rồng Trong Phong Thủy
  • Cách Nuôi Cá Rồng Phong Thủy
  • Ý Nghĩa Của Biểu Tượng Cá Rồng Trong Phong Thủy
  • Hướng Dẫn Hướng Đặt Hồ Cá Rồng Đúng Phong Thủy
  • Khi nuôi cá rồng, các loài cá rồng có điểm chung là cá rồng mái chỉ có mỗi một việc là đẻ trứng không thôi, còn việc ấp trứng và nuôi con đều do cá trống đảm nhiệm hết. Chúng có điểm riêng là gần như tuổi sinh sản không đồng đều nhau giữa các giống, có giống như cá Hắc Long mới tròn ba tuổi đã đẻ lứa đầu, trong khi đa đa số giống khác phải bốn, hoặc năm, sáu năm mới bắt đầu rụng trứng …

    Nói chung, trong đời sống hoang dã bên ngoài, tất cả các loài cá rồng nhiều châu lục đều sinh sản tốt. Còn khi nuôi nhốt, tuy nhiều loài cũng chịu sinh sản bình thường, nhưng kết quả lại không được như ý muốn của người nuôi.

    2. Cách sinh sản tự nhiên

    Trong đời sống hoang dã cá rồng trống mái chung sống thành bầy đàn đông đảo bên nhau. Chỉ đến mùa sinh sản, cá trống mái ở vào tuổi trưởng thành mới bắt cặp để sống riêng với nhau. Trước tiên, cá trống chủ động tự tìm cho mình một nàng cá mái có cái bụng đã căng tròn trứng để ghép đôi. Con trống có khi phải mất một thời gian khá dài để đeo đuổi ve vãn con mái, cho đến khi mái ưng mới chịu thôi.

    Sau khi quyến rũ được con mái, cá trống liền rong ruổi tìm đến một vùng sông có mực nước hơi cạn, đáy có lớp bùn và hơi lõm để làm ổ đẻ. Khi trứng trong bụng đã đến độ già, cá trống mái kè nhau đến đây, thân mình chúng quấn quýt với nhau để … ép hết trứng trong bụng ra ngoài.

    Số trứng của mỗi lứa nhiều ít bao nhiêu là còn tuỳ vào mỗi loài và tuổi tác của cá mái. Như trân châu mỗi lứa chỉ đẻ trên dưới một trăm trứng. Nhưng cũng có loài đẻ sai đến vài ba trăm trứng mỗi lứa.

    Trứng cá rồng khá to, đường kính khoảng 1,70mm. Khi cá mái đẻ trứng xong, cá trống liền bơi đến rưới tinh dịch của nó lên ổ trứng để thụ tinh cho trứng. Sau đó nó thu nhặt hết số trứng cho vào hốc miệng để ấp cho đến ngày cá con ra đời (ấp khoảng 2 tháng). Nếu vì một trở ngại nào đó khiến cá trống thu nhặt trứng trễ, cá mái sẽ quay lại thu nhặt trứng để ăn. Còn cá rồng trống trong suốt thời gian hai tháng ấp trứng, nó đành chịu nhịn đói.

    Số trứng của mỗi lứa nhiều ít bao nhiêu là còn tuỳ vào mỗi loài và tuổi tác của cá mái. Như cá rồng trân châu mỗi lứa chỉ đẻ trên dưới một trăm trứng. Nhưng cũng có loài đẻ sai đến vài ba trăm trứng mỗi lứa.

    Trứng cá rồng khá to, đường kính khoảng 1,70mm. Khi cá mái đẻ trứng xong, cá trống liền bơi đến rưới tinh dịch của nó lên ổ trứng để thụ tinh cho trứng. Sau đó nó thu nhặt hết số trứng cho vào hốc miệng để ấp cho đến ngày cá con ra đời (ấp khoảng 2 tháng). Nếu vì một trở ngại nào đó khiến cá trống thu nhặt trứng trễ, cá mái sẽ quay lại thu nhặt trứng để ăn. Còn cá rồng trống trong suốt thời gian hai tháng ấp trứng, nó đành chịu nhịn đói.

    3. Cách sinh sản tại hồ nuôi

    Có thể nói, hầu hết các loài cá rồng đều sinh sản tốt trong môi trường sống nhân tạo, tức hồ (bể) nuôi chúng, trừ cá rồng châu Phi. Loài cá này không những khó phân biệt được giới tính, mà dù có cho ghép đúng cặp, chúng cũng không chịu sinh sản tại hồ nuôi.

    Chi Nhánh 1: 1015/11 Huỳnh Tấn Phát Q7 0975880333

    Chi Nhánh 2: C20 CMT8, P.Cái Khế, Tp.Cần Thơ 0859880333

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tải Bắn Cá Rồng Online
  • Game Bắn Cá Rồng Online
  • Tải Game Bắn Cá Rồng Vàng 3D
  • Top 4 Đại Lý Bia Nước Ngọt Giá Rẻ Nổi Tiếng Ở Tphcm
  • Di Chuyển Bể Cá Rồng Cho Người Muốn Dời Hồ
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh Sinh Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Cá Betta Loại Nào Đẹp Nhất, Đắt Nhất Thế Giới, Giá Bao Nhiêu 2022
  • Cây Giống Hồng Xiêm Ruột Đỏ Khổng Lồ Thái
  • Sốt Cây Giống Hồng Xiêm Ruột Đỏ Thái Lan
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Hồng Xiêm Xoài
  • Kỹ Thuật Trồng Hồng Xiêm Xoài Quả To Ngọt Đẹp Năng Suất Cao
  • Đa số người nuôi cá cảnh sinh sản thường thích việc “ép cá”, tức là làm cá đẻ theo cách họ muốn, có thể tự nhiên hoặc không tự nhiên. Cá đẻ tự nhiên thì dễ nhưng chăm sóc cá con đôi lúc không dễ, ép cá đẻ không tự nhiên cũng không khó nhưng cần phải biết cách để đảm bảo “mẹ tròn con vuông”.

    Một nét quyến rũ của việc nuôi cá cảnh là có nhiều loài cá có thể nhân giống khi nuôi. Nhân giống cá cảnh gần như là bí quyết của mỗi người kinh doanh cá cảnh. Qua hàng chục năm kinh nghiệm, nhiều nghệ nhân chơi cá cảnh đã đúc kết một số kinh nghiệm, mà chắc chắn, các “ngón nghề” công phu họ vẫn giữ cho riêng mình.

    Người ta có thể chia sự sinh sản của cá thành hai giai đoạn: các sự kiện dẫn đến sự thu tinh và sự chăm sóc cá bột. Người nuôi cá, ở hai giai đoạn dó, cần tác động đến sự chọn lựa và đặt điều kiện cho cá trưởng thành; chuẩn bị bể nuôi cá sinh sản, trông nom sự thụ tinh và việc nuôi cá bột.

    Muốn nuôi cá cảnh cho sinh sản, bạn cần phải nắm vững những điều cần biết sau đây:

    1. Phải biết phân biệt giới tính

    Cá cũng như chim, cách phân biệt trống mái cũng giống với loài thú. Loài thú dù to như con voi hay nhỏ như con chuột nhắt, đực cái khác nhau ở bộ phận sinh dục của nó.

    Với chim chóc, đa số giống, trống mái khác nhau ở sắc lông và vóc dáng. Về thân mình, con trống lớn hơn con mái. Về màu sắc, chim trống đẹp hơn chim mái. Giới tính của cá thì khó phân biệt hơn, hầu hết trông con nào cũng giống con nào. Muốn nuôi cá để sinh sản thì điều trước tiên đòi hỏi phải biết phân biệt giới tính của từng giống cá mà bạn đang nuôi. Nhưng điều này không hề dễ. Chỉ những ai nuôi cá lâu năm, nhiều kinh nghiệm trong nghề mới biết được.

    Một sự phân biệt dễ nhận thấy nhất là cá trống thường có thân mình thon dài, trong khi mình cá mái lại bầu bĩnh hơn. Tuy vậy, với chi tiết này không thôi, không ai dám đoán chắc một trăm phần trăm là đúng! Để đạt sự chuẩn xác, ta còn phải quan sát kỹ các bộ phận khác của cá như vi, bụng, hậu môn (nơi đây cũng là bộ phận sinh dục của cá), đồng thời còn quan sát cả cách bơi lội của chúng mới dám đi đến kết luận cuối cùng.

    Về cách phân biệt giới tính, có một số giống cá do có những đặc điểm riêng biệt nên giúp ta dễ phân biệt hơn, ví dụ như cá lia thia, cá hồng kim…

    Với cá lia thia, cá trống bình thường cũng có màu sắc như cá mái, nhưng khi sung lên, toàn thân nó đỏ ửng màu tím hồng đặc trưng rực rỡ, trong khi cá mái lúc nào thân mình cũng lợt lạt, nếu sợ hãi còn nổi sọc dưa dọc theo thân mình. Còn hồng kim trống có thuỳ dưới ở đuôi mọc dài ra như lưỡi kiếm rất dễ nhận. Chính vì có đặc điểm dễ nhận thấy này mà hồng kim được mang một tên khác là “cá kiếm”.

    Với những giống cá cảnh khó phân biệt được giới tính rõ ràng, từ trước đến nay chủ nuôi chỉ còn cách là để tâm theo dõi qua nhiều cách sau đây:

    Cách dễ nhất là thấy cá mái trong mùa sinh sản bụng căng to, vì bên trong chứa nhiều trứng, nếu bụng màu trắng thì trứng còn non, mái mới cấn chửa, nếu bụng trứng đỏ trở nên màu vàng, bụng to hơn, cá lội chậm chạp là lúc bên trong chứa nhiều trứng đã già. Lúc này có con nào lẽo đẽo cặp kè theo cá mái chính đó là cá trống.

    Bình thường trong hồ cá, dù cùng một giống, mỗi con vẫn lo kiếm ăn mỗi hướng, không con nào quan tâm đến con nào. Nhưng, vào mùa sinh sản thì cá trống rượt đuổi theo cá mái để bắt cặp với nhau. Từ đó, lúc nào chúng cũng như bóng với hình, kề cận bên nhau.

    Khi nhận đúng cặp trống mái thì ta dùng vợt vớt chúng ra nuôi riêng cho sinh sản. Và từ đó trở về sau, với cặp cá đó bạn chắc chắn không còn lẫn lộn giới tính của chúng nữa. Cặp trống mái đó vẫn cho bắt cặp với nhau vào lứa sau, không cần phải thay đổi, nếu thấy chúng vẫn sinh đẻ tốt.

    2. Phải nắm vững cách sinh sản của từng giống cá

    Trong đời sống hoang dã, giống cá cảnh nào cũng sinh sản tốt. Thế nhưng, khi bắt nuôi trong hồ thì nhiều giống bỏ tập tính tự nhiên này, hoặc có đẻ nhưng lại nuôi con kém. Mặt khác, gần như mỗi giống cá lại có cách sinh sản khác nhau, nên bạn cần phải biết rõ để tuỳ từng trường hợp mà xử lý cho đúng cách, có như vậy mới thu được nhiều lợi.

    Thực tế cho thấy có giống cá cảnh làm tổ bằng bọt nước rồi gắn trứng lên đó để chờ ngày nở. Có giống đẻ trứng vào cọng rong, vào rễ lục bình. Có giống lại để trứng lên những tấm đã phẳng … Nhờ nắm vững được điều đó, nên khi các sắp đẻ, ta có thể “lót ổ” cho nó tạo điều kiện thuận lợi cho cá sinh sản.

    Đó là trường hợp đẻ trứng, còn việc nuôi con thì gần như mỗi giống cũng có cách riêng:

    Có giống cá trống không cho cá mái nuôi con, và giành lấy phần việc khó khăn này cho riêng mình.

    Có giống khi con nở ra là cá mẹ ăn con không thương tiếc, khiến cá con nở nhiều mà không sống được bao nhiêu (nhờ biết vậy mà ta tìm cách ngăn ngừa)

    Có giống cá cảnh không đẻ trứng mà đẻ thẳng ra cá con, và con tự sống, không cần đến sự nuôi dưỡng cũng như bảo vệ của cá cha mẹ.

    Có giống tới giờ đẻ trứng phải cần nhiều trống “ép” một mái thì việc đẻ trứng mới suôn sẻ được.

    Có giống cá cảnh có thói quen chỉ đẻ ban ngày, như cá Dĩa. Có giống chỉ đẻ ban đêm, như cá Tàu, và nhiều giống cá lại đẻ bất kỳ giờ giấc nào trong ngày.

    Kể ra biết được những điều này rất thú vị và có lợi.

    3. Các phương thức sinh sản

    Loại cá đẻ thai trứng:

    Thường là loại cá họ lành canh (coilia) hay cá mào gà, họ cá trổng (Engraulidae) bộ cá trích (Clupeiformes), có giá trị kinh tế… Trứng thụ tinh trong bụng con cái, con cái trực tiếp đẻ khi trứng trưởng thành, cá con biết hơi liền. Khi con cái có thai, bụng đã to, tách nuôi riêng. Cá gần sinh, để vào một cái lồng đặc chế trong bể sinh sản. Đáy lồng có nhiều mắc lưới để cá con chui ra thoải mái qua bể kính. Có thể treo nhiều lồng tùy loài cá sinh nhiều ít. Giản dị hơn, người ta đặt tấm lưới nilông ở đáy hồ để cá con chui xuống đó núp (áp dụng cho cá bảy màu, đuôi kiếm, cá ánh trăng, mã lệ…).

    Khi nhiệt độ hơn 180C, thả vài trăm con cá giống ra hồ, thả rong che bớt ánh nắng cho chúng, tập chúng quen dần với môi trường mới. Thường thường, con cái đẻ mỗi tháng một lần, mỗi lần từ 50 – 200 con.

    Cá đẻ trứng trên đá cuội hoặc trên rong (như cá hèm, cá bốn sọc, cá gần họ cá chép, ngựa vằn, tua vàng)

    Đây là loại cá tự tìm bạn tình, thả cá giống chung vào, chúng tự hoàn thành công việc sinh sản. Thường thì tỉ lệ 1 đực – 1 cái, nhưng có loại 2 đực – 1 cái thì nên để 3 – 5 con cá giống vào hồ sinh sản. Hồ chỉ chừng 30 x 20 x 15 cm, trải dưới một tấm nilông có tính đàn hồi, bốn góc để vài bó rong vàng, đáy hồ thả đá cuội, cho thiết bị bổ sung oxy, giữ nhiệt độ 24 – 28 độ C trong hồ. Trứng thụ tinh bám vào rong hay đá cuội. Sau khi cá sanh, có thể bắt cá đực, cá cái trở lại hồ dưỡng, hồ cũ hay nuôi riêng hồ khác cũng được. Hai lần cho đẻ nên cách nhau 7 – 10 ngày. Cá sinh sản được khi đạt 6 – 7 tháng tuổi.

    Loại cá đẻ trứng trong nước bọt

    Họ cá đá đa số sinh sản trong nước bọt (cá đá Thái Lan, ngựa trân châu tam giác, cá hôn môi, cá lệ hồng, lệ ngũ sắc, rồng lượn xanh…) tự chọn bạn tình rồi đẻ trên bọt nước, trứng sinh ra con cũng trên bọt nước. Hồ sinh sản cỡ 50 x 50 x 35 cm, thả rong hay cải lá xanh trên mặt nước, cho một cặp cá giống vào. Con đực nâng cọng rong hoặc nhả bọt dưới rong, hai cá quấn quít nhau trên đám rong, lá đó. Con đực ngậm trứng cá cái đẻ ra, nuôi dưỡng con nhỏ… (thường từ chạng vạng tối đến sáng hôm sau). Xong việc sinh sản, lập tức tách cá đực – cái ra. Nếu không, con đực “tiếp tục” với con cái, có khi làm hư vây – đuôi con cái. Riêng với cá đực Thái Lan, một hồ chỉ thả một con để tránh chúng chọi nhau giành mái.

    Loại cá đẻ trứng trên tấm bảng (cá ông tiên)

    Để tấm nilông xanh hay đá ốp lát. Tấm nhựa nilông dày 0,05 mm cắt thành hình chữ nhật 6 x 12 cm để nghiêng góc 450, cố định trên đế cao 10 cm làm tổ cho cá ông tiên (đầu vàng, đốm đen, uyên ương…). Lúc đẻ, con cái ở phía trước đẻ trứng đều đặn lên tấm bảng, con đực theo sát phía sau, hoàn thành việc thụ tinh trên trứng, toàn bộ quá trình trật tự không lộn xộn. Xong, cả cá đực, cá cái dùng vây ngực quạt nước, chăm sóc trứng. Khoảng cách giữa hai lần sinh là 12 ngày.

    Loại cá đẻ trứng trong chậu hoa (chủ yếu là loại cá từ điêu như phượng hoàng bảy màu, cá quýt…)

    Cho chậu hoa vào trong đáy hồ. Hai cá đực cái dùng miệng làm sạch chậu hoa, sau khi cá sanh xong, lấy chậu hoa ra, đặt vào hồ có dưỡng khí để ấp. Nhiệt độ từ 27 – 28 độ C trong nước sinh sản là thích hợp. Riêng cá ông tiên bảy màu cũng dùng chậu hoa làm tổ nhưng chọn hoa màu tím để chúng đẻ bên vách ngoài chậu hoa…

    Loại cá ấp trứng trong miệng (như cá rồng, cá trích châu Phi, cá miểng sành ngăn châu Phi…)

    Loại cá này có sở thích làm tổ trong cát, con cái canh giữ ngoài tổ, con đực dụ con cái vào trong tổ và phóng tinh. Con cái vừa đẻ vừa dùng miệng ngậm trứng đã được thụ tinh vào miệng rồi ấp trứng trong miệng. Sau 7 – 8 ngày trứng nở thành con. Cá con bơi đi ăn nhưng có động, tụ tập lại tại miệng cá mẹ, cá mẹ ngậm vào họng bảo vệ con.

    Ngoài ra, các loài cá heo, dứa vàng làm tổ ngay và đẻ trứng trên nham thạch láng.

    Loại cá đẻ con:

    Có những loài cá đẻ con ngay từ lúc mới sinh, các cá con đã bơi được tự do và vóc dáng như bố mẹ chúng thu nhỏ lại. Tất nhiên là trong bể nuôi có nhiều cây cỏ và cả một thảm cây nổi, có thể làm cho chúng thoát khỏi sự ăn thịt của cá bố mẹ.

    Như vậy, công việc nhân giống cá không ít lý thú và khi biết các đặc tính của cá thì người kinh doanh dễ thành công hơn.

    4. Chuẩn bị bể cho cá đẻ

    Bể sinh sản không nên có mật độ cá quá dày. Trong bể, cần có dụng cụ lọc bằng bọt bể là tốt nhất vì không gây hại cho cá con.

    Tuy nhiên do không gian bị giới hạn, thường ta khó tách chúng ra và tìm cho chúng một nơi sinh đẻ chắc chắn, do vậy mà trứng hay cá bột vừa lớn thường bị cá lớn ăn thịt. Có hể giải quyết vấn đề này bằng cách tạo những bể nuôi riêng biệt, trong đó chỉ để cá sắp sinh sản. Bể cách ly này sẽ đáp ứng được yêu cầu trên.

    5. Yêu cầu về nước và nhiệt độ

    Phẩm chất của nước và nhiệt độ của bể sinh sản và bể nuôi chính phải giống nhau. Nếu như cá sinh sản cần có những điều kiện tồn tại khác hẳn (ví dụ như để kích thích sự đẻ trứng), ta phải làm cho cá thích nghi với môi trường mới một thời gian; có như vậy mới có đủ điều kiện thay đổi phẩm chất của nước mà không gây choáng hay rối loạn ở cá. Bể sinh sản của cá đẻ con cũng chỉ dành cha cá cái có thai và chỉ cho chúng vào đó vào đầu thời kỳ có chửa.

    Trước hết là chú ý môi trường nước. Người cẩn thận cho than hoạt tính vào túi nilông hoặc thùng sắt tròn có tráng men rồi cho nước máy chảy vào để lọc. Sau đó, đun chứa vào các hồ chứa sạch làm nước nuôi dưỡng cá hàng ngày, làm môi trường cho cá sinh sản.

    Một phương pháp lọc nước khác mà người nuôi cá áp dụng là dùng chất hóa học cao phân tử. Chất này lọc các phân tử calci, ma-nhê, muối gốc acid trong nước để nước trở thành nước trung tính, thích hợp dùng làm môi trường sinh sản cho nhiều loại cá họ chép, từ điêu…

    Người kỹ hơn thì chưng cất nước: dùng phương pháp điện giải và phân tích bằng điện cực âm – dương. Sau đó, hòa chung với nước sạch để có độ cứng và tích kiềm – acid không đồng đều, thỏa mãn yêu cầu nước dùng sinh sản cho các loại cá khác nhau.

    Ở nông thôn người nuôi cá thường hứng nước mưa. Nước mưa có hàm lượng phân tư ãkim loại rất ít, thích hợp cho việc dùng sinh sản các loại cá chép. Người ta không hứng nước theo mái nhà mà hứng giữa trời. Đặc biệt, chọn các vùng chưa ô nhiễm khói, bụi trong không khí.

    Muốn nhân cá giống, thường phải học hỏi kinh nghiệm, tự trang bị kiến thức và thận trọng thực hành.

    Trước hết là tìm hiểu từng đặc điểm sinh sản để biết cách mà áp dụng.

    6. Chọn cá đẻ

    Do đặc điểm sinh lý của mỗi loài cá có sự khác nhau, cho nên kỹ thuật cho cá đẻ ở mỗiđối tượng đều có sự khác nhau. Dù là cá đẻ trứng hay đẻ con, điều quan trọng trước tiên là tìm cho đúng một cặp, một trống, một mái. Thường thì cá đực có vây hậu môn biến đổi khác với cá cái. Ở các cá đẻ trứng, ít có sự khác biệt rõ rệt, nhưng có một số đặc tính có thể giúp xác định cá đực hay cá cái. Thông thường cá đực mảnh hơn và có màu sắc sặc sỡ hơn, và các vây khá phát triển. Trong bể nuôi, các loài cá thuộc họ cá rô phi thường tự lựa chọn cá khác giống để ghép đôi.

    Cá chọn để sinh sản phải là cá khỏe mạnh, không bị bệnh hoặc biến dạng. ta cần chọn cá có những điểm mạnh như là có màu sắc đẹp, vây phát triển tốt v.v… Điều đó có ý nghĩa khi ta muốn cá con sẽ có màu sắc mà ta thích hoặc có vây đẹp.

    Trước khi cho cá ghép đôi, người ta thường nuôi tách riêng cá đực và cá cái. Suốt trong thời kỳ này, phải chăm sóc và có chế độ nuôi dưỡng đặc biệt. Cách làm này sẽ đảm bảo là cá cái có trứng tốt. Nếu cá cái chưa sẵn sàng chịu đực thì cá đực thường săn đuổi và cắn cá cái. Vì lẽ đó mà người ta thường thả cá cái vào bể sinh sản trước; bể này sẽ là lãnh địa của nó và nếu ta thả cá đực vào, nó sẽ ve vãn cá cái. Người ta cũng có thể cho đồng thời cả cặp cá vào bể sinh sản bằng cách dùng một vách ngăn bằng kính hay nhựa để phân tách ra. Đến khi cặp cá đã sẵn sàng, ta chỉ cần cất vách ngăn cho chúng tiếp xúc với nhau.

    7. Chăm sóc cá đẻ

    Lúc cá sinh đẻ và giai đoạn kế tiếp, cần đặc biệt quan tâm đến cá. Một số cá đực ve vãn cá cái nồng nhiệt và tiếp tục quấy rầy con mái ngay cả sau sự thụ tinh; một số khác ngược lại, lại xua đuổi cá cái mà không chấp nhận ghép bắt cặp ngay từ đầu.

    Có những loài cá không quan tâm đến trứng đẻ ra, có khi cá cái ăn trứng. Trong trường hợp này, người nuôi phải đưa cá cái sau khi đẻ ra khỏi bể nuôi, chỉ để cho cá đực chăm sóc con, hoặc có thể đưa cả cặp trống mái ra và ấp trứng một cách nhân tạo bằng cách đặt một miếng đá bọt gần trứng và để cho dòng nước chảy thay thế chuyển động quạt vây của cá bố mẹ. Làm như vậy, cá vẫn đủ ôxy để sinh trưởng.

    Trứng cá họ Cá chép răng thường được đẻ ra trong các bụi cây tự nhiên, trên lớp than bùnở đáy bể. Tùy theo loài cá, ta phải thu nhặt trứng và cho nở ở nước ít sâu, có thể để chúng trong 1-2 tháng trong than bùn hầunhư khô trước khi nhúng lại vào nước để thúc đẩy sự nở trứng. Do cá đực thường khỏe hơn, trong thực tế, người ta thường xếp 1 cá đực cùng với hai cá cái. Trong trường hợp những loài cá làm tổ bọt, tốt nhất là mang cá cái ra khỏi bể sau khi trứng đã thụ tinh; cá đực sẽ bảo vệ tổ và trứng một cách nồng nhiệt.

    Sau khi cá đã sinh đẻ, nên để cho cá đẻ con nghỉ vài hôm cho lại sức rồi mới cho chúng vào bể nuôi chính.

    9. Nuôi cá con

    Kể từ lúc bắt đầu bơi được, cá con đã cần đến thức ăn, nhưng chính trong giai đoạn chưa bơi thực sự này, cá có thể sống nhờ chất dự trữ ở túi noãn hoàng. Không cần cho ăn vội, vì lúc này cá cũng chưa biết ăn, do vậy thức ăn thừa sẽ làm ô nhiễm bể.

    Thức ăn đầu tiên của cá phụ thuộc vào kích thước của cá, vì các loài cá nở ra hoặc được đẻ ra thường có kích thước khác nhau. Thường thì cá con của các loài làm tổ và đẻ trứng phân tán tỏ ra không ham ăn như cá con của họ Cá rô phi và cá đẻ con.

    Ngày nay, người ta đã sản xuất ra đủ loại thức ăn riêng biệt thích hợp dưới dạng lỏng, bột, nhão, bột mịn và tổng hợp để cung cấp cho nhu cầu của cá đẻ trứng và cá đẻ con. Có loại nước màu lục có chứa trùng cỏ rất thích hợp cho cá bột còn nhỏ. Các loại giun nhỏ, rận nước … đều tốt đối với phần lớn cá nhỏ, những thức ăn lý tưởng cho cá bột đều ăn được là Artemia. Cá con lớn nhanh sẽ tìm ăn giun, bột ngũ cốc, và các loại thức ăn tổng hợp.

    Ở các loài cá họ Cá sặc, như cá chọi Betta splendens và cá tai tượng … rất kỵ luồng gió lạnh có thể xâm nhập qua nắp bể, do đó khi nuôi phải chú ý che chắn chỗ có gió lùa.

    Cá con cần cho ăn liên tục. Khi cá đã lớn, cần phải định kỳ thay một phần nước cũ, tăng lưu lượng thông khí và tăng hệ thống lọc. Sự tăng vận chuyển của nước và thay nước mới sẽ làm tăng sự sinh trưởng điều hòa của cá. Khi cá đã lớn, có hình dạng và màu sắc riêng biệt của cá bố mẹ, cần loại hết các cá ốm yếu, chậm chạp. các cá con không có màu và vây phát triển bình thường cũng nên loại bỏ. Lựa chọn cá đẹp đẻ nuôi, để tạo giống là cần thiết.

    Như các bạn đã biết, đa số các giống cá cảnh đều có khả năng chu toàn thiên chức làm cha mẹ của mình đối với ổ cá con của chúng. Thế nhưng, cũng có nhiều giống chỉ có cá cha hay cá mẹ mới làm tròn thiên chức cao quý này thôi. Con còn lại một là chểnh mảng trong việc nuôi con, hai là có tật ăn trứng, ăn con, khiến trứng đẻ thì nhiều, con nở cũng lắm, nhưng cuối cùng sống sót không được bao nhiêu.

    Để cứu vãn tình hình quá xấu này, tuỳ từng trường hợp mà ta nên có cách xử lý kịp thời để cứu nguy cho ổ cá, đồng thời để đảm bảo cho nguồn lợi của mình:

    Trường hợp cá cha hay cá mẹ ăn trứng hoặc ăn cá con: Phải biết chắc chắn cá nào có tật đó thì vớt ra ngoài sau khi nó đẻ trứng xong. Thông thường giống cá cảnh nào mà một trong hai con cha, mẹ sau khi để lại quay sang ăn trứng thì con còn lại nuôi con rất giỏi. Ta nên đặt hết niềm tin vào con cá đó mà cứ để cho nó tự nuôi con.

    Trường hợp một trong hai cá cha hoặc mẹ bị chết: Gặp trường hợp này ta phải nuôi “bộ” ổ trứng đó, nếu biết chắc con cá còn lại không đủ khả năng nuôi sống đàn con sau này.

    Trường hợp ổ cá con quý hiếm: Dù cá cha mẹ đầy đủ, nhưng biết chắc một trong hai con đó nuôi con không giỏi, mà bầy con lại rất hiếm quý, bán được giá cao thì ngay từ đầu ta nên khéo léo cách ly cá cha mẹ ra khỏi ổ trứng mà nuôi “bộ”, như vậy mởi bảo toàn được ổ cá con

    Vậy thế nào là nuôi “bộ”?

    Nuôi bộ là cách nuôi không cần đến cá cảnh cha mẹ. Sau khi cá cha mẹ đẻ trứng vào cọng rong, vào rễ cây lục bình hoặc trên viên ngói (tuỳ theo thói quen của từng giống) ta làm liền một trong hai cách sau đây:

    Vớt hết cá cha mẹ ra ngoài nuôi riêng. Coi như việc đẻ trứng của chúng lứa này đã hoàn thành. Ổ trứng để lại tại hồ để ta có cách nuôi riêng.

    Nhẹ tay cẩn thận dời ổ trứng ra ngoài, đặt trong một hồ khác đã chuẩn bị sẵn để chờ ngày cá nở. Trong trường hợp này thì cá cha mẹ vẫn còn ở lại hồ cũ.

    Hồ nuôi bộ ổ cá cần phải chuẩn bị kỹ với những dụng cụ như sau:

    Máy cung cấp dưỡng khí: nên cung cấp dưỡng khí liên tục suốt ngày đêm vào nước hồ từ ngày đầu ấp trứng.

    Nước hồ phải sạch và hồ phải đặt vào nơi thoáng mát, yên tĩnh mới tốt. Chỉ sử dụng máy lọc nước khi cá con đã được vài tuần tuổi.

    10. Thức ăn cho cá con

    Cá cảnh con nở trong ba bốn ngày đầu không cần phải cho ăn, mà có cho ăn chúng cũng không biết ăn. Trong thời gian này cơ quan tiêu hoá của cá chưa phát triển đầy đủ nên chưa hấp thu được thức ăn, nhưng cá con vẫn không đói vì còn những chất dinh dưỡng dự trữ trong thân cá.

    Thức ăn ban đầu của cá con là những sinh vật cực nhỏ như bo bo chẳng hạn. Có thể cho cá con ăn lòng trắng trứng. Cá một tuần trở đi, có thể biết ăn lăng quăng, biscotte. Vài tháng tuổi trở về sau, cho ăn trùn chỉ, thức ăn hỗn hợp ….

    11. Cách làm biscotte cho cá cảnh ăn

    Dùng bột mì hay bánh mì khô hay gạo rang cho vào cối giã nhuyễn thành bột mịn. Cứ một lon bột ta trộn chung độ 5 cái lòng đỏ hột gà (hay hột vịt) rồi đem phơi nắng thật khô. Sau đó bóp nhuyễn rồi rây lại để lấy bột mịn dành cho cá ăn từ từ.

    Mỗi lần cho cá ăn, ta rắc bột biscotte lên mặt nước hồ để cá con trồi lên ăn. Đây là thức ăn bổ dưỡng cá cảnh con rất thích ăn.

    Nuôi bộ mà nuôi khéo, tỷ lệ hao hụt cá con không nhiều. Những nghệ nhân nuôi cá cảnh nhiều kinh nghiệm thường áp dụng cách nuôi bộ này và cũng nhờ đó mà thúc đẩy cá mẹ mau để lứa sau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Sinh Sản Của Cá
  • Thức Ăn Cho Cá Xiêm
  • Hướng Dẫn Cách Làm Thức Ăn Cho Cá Cảnh Tại Nhà
  • Cách Huấn Luyện Cá Betta Để Đá Hay, Chọi Tốt
  • Cây Giống Hồng Xiêm Xoài
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Đĩa Sinh Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Cá Đĩa Đỏ
  • Nguyên Nhân Cá Dĩa Bỏ Ăn Và Cách Điều Trị
  • Các Loại Cá Dĩa Hoang Dã
  • Cá Dĩa Có Khó Nuôi Không?
  • Kinh Nghiệm Nuôi Cá Dĩa
  • Cá Đĩa được nhiều người nuôi cá xem như là loài cá nước ngọt tuyệt vời nhất, vốn được ca tụng là “vua của hồ cá” có một bí ẩn bao trùm lên vẻ bề ngoài xinh đẹp và hành vi thú vị của loài cá này.

    Nguồn gốc

    Lưu vực sông Amazone, Brazil Nam Mỹ, thuộc họ từ điêu, hiện đã được nuôi phổ biến ở Châu Á.

    Hình dáng

    Kích thước khoảng 10 – 15 cm, chiều cao ngang bằng với chiều dài làm cho cơ thể có dạng giống như đĩa tròn. Miệng nhỏ, mắt to và thường có màu đỏ hoặc vàng. Con đực thường có kích thước to hơn con cái.

    Đặc điểm

    Cá cần không gian rộng để bơi lội, thích hợp với những nơi yên tĩnh, hay giật mình sợ hãi khi thấy bóng người. Thích sống nơi nước sạch có PH thấp từ 5 – 7, nhiệt độ từ 26 – 32 o C.

    Cá Đĩa là loài thiên về thức ăn động vật như: trùn chỉ, bo bo, lăng quăng, tim, gan, thịt bò xay nhuyễn…hoặc các loại thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm cao hơn 30%.

    Sinh sản

    Cá đực: hình dáng to, đầu hơi gù, vây bụng xệ, dưới bụng vùng giáp vây lõm vào trông rất rõ, hoạt động hung hăng hơn cá cái.

    Cá cái: thường nhỏ hơn cá đực gai sinh dục lồi ra ngắn , chia 2 thùy nhọn và hơi cong về phía sau.

    Cá có thể sinh sản sau 12-18 tháng tuổi. Khi trưởng thành chúng sẽ tự bắt cặp với nhau, tách đàn bơi riêng về một góc. Cá đĩa khó sinh sản nhân tạo, bể sinh sản nhân tạo nên có PH hơi chua(PH=5,5-6).

    Giai đoạn bắt cặp xảy ra trong thời kỳ sinh sản, cặp cá sẽ tự tách ra một góc bể, dùng miệng làm sạch nơi sẽ sinh đẻ. Đôi cá này thường kề sát miệng, quẫy mạnh đuôi, đuổi bắt nhau, xua đuổi những con khác lại gần chúng. Tiếp đó chúng bơi sóng đôi, quấn quít bên nhau. Trước khi đẻ một vài ngày, cá có hiện tượng rùng mình, rung toàn thân, xếp vây lại, đôi lúc đứng yên tại chỗ, ít bắt mồi. Khi sinh cá chúc đầu xuống 45 độ, lúc này gai sinh dục lộ rõ, màu sắc rực rỡ hẳn lên. Cá cái đẻ trứng theo chiều dọc giá thể, từ dưới lên, cá đực cũng theo lộ trình đó tiết tinh để thụ tinh cho trứng. Số trứng đẻ ra của cá cái tham gia lần sinh sản đầu tiên thường 70-80 đến 150, có khi nhiều hơn.

    Trứng đựơc thụ tinh có màu trong suốt. trứng không thụ tinh thì vẩn đục. Sau 24 giờ, trứng thụ tinh chuyển sang màu trắng xám. Ở 30 o C trứng nở trong vòng 55-57 giờ. Trong lúc này cá bố và cá mẹ thay phiên nhau quạt nước cho trứng để có đủ độ thoáng khí. Tỉ lệ trứng nở: 60-90%. Nên cho cá đẻ nơi yên tĩnh (quây, che bể cá lại).

    Ương cá bột: Sau khi trứng nở thành cá bột, cá bố mẹ dìu cá con đến một địa điểm khác. Nhờ sợi nhờn ở đầu, cá con bám vào thành bể hoặc một giá thể. Cá con chưa bơi lội được và sống nhờ chất dự trữ ở túi noãn hoàng dưới bụng. Con nào bị rớt sẽ được cá bố mẹ mang về chỗ cũ.

    Sau 60 giờ, cá con có thể bơi lội thành đàn quanh cá bố mẹ. Cá con sống nhờ ăn chất nhờn tiết ra từ mình cá bố mẹ trong vòng 12-15 ngày. Sau đó, cá con bắt đầu ăn được các sinh vật nhỏ trong nước. Khoảng 18 ngày, cá con ăn được thức ăn nhân tạo. Sau 21 ngày chúng có thể tự đi tìm thức ăn.

    Cá mới nở dài khoảng 1,2-2mm; sau 1 tuần cá dài 3mm. Khoảng 2 tuần tuổi, cá dài 1cm, thân có sọc thẳng, mắt màu nâu xám. Khi được 18 ngày, cá dài 1,5cm, vây lưng và vây bụng màu đen, lên màu. Khoảng 5-6 tuần, cá dài khoảng 2-2,5cm, có hình dạng như cá trưởng thành, nhưng chưa rõ màu sắc. Sau 3 tháng, cá dài 6-7cm và màu sắc thể hiện rõ, nhưng phải đến tháng thứ 5-6, cá mới có màu sắc sặc sỡ của cá trưởng thành.

    Trong thời gian đầu, từ ngày thứ 7, nên cho cá ăn bo bo (Moina) non (nhỏ), bọ một mắt (Cyclops) non, ngày vài lần, tránh cho ăn quá no. Thức ăn nên phân bố đều trong toàn bể, tránh cá lớn tranh ăn. Tiếp đó cho đến 2 tháng rưỡi, nên cho cá ăn rận nước (Daphnia). Cá 3-4 tháng cho ăn thêm lăng quăng, trùn chỉ. Sau đó cho ăn thêm ròng ròng, bảy màu nhỏ.

    Trong vài tuần đầu, nên giữ nhiệt độ nước 29-30 o C. Có ánh sáng khoảng 18 giờ. Nhưng không nên dùng ánh sáng quá chói chang.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Mánh Kích Thích Cá Dĩa Đẻ
  • Giàu Từ Nuôi Cá Dĩa Thương Phẩm
  • Hiệu Quả Kinh Tế Từ Nuôi Cá Dĩa Sinh Sản
  • Thiết Kế Hồ Nuôi Dĩa Bột
  • Cá Tầm Tươi Sống Ninh Thuận
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Dĩa Sinh Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Chả Cá Cho Bột Gì Để Có Miếng Chả Cá Ngon Và Dai Nhất ?
  • Bột Dừa Dùng Để Làm Gì? Những Công Dụng Hữu Hiệu Của Bột Dừa
  • Bột Canxi Cá Tuyết Nhật Bản Túi 140G Giúp Bé Tăng Chiều Cao
  • Bột Năng Làm Từ Củ Gì Dùng Làm Bánh Gì, Có Phải Là Bột Sắn Dây
  • Bột Xương Cá Có Vai Trò Thế Nào Trong Chăn Nuôi ?
  • I. Kỹ thuật nuôi cá dĩa sinh sản

    Cá dĩa được xếp vào loại cá cảnh khó nuôi vì thế để nuôi thành công được bể cá sinh sản tốt được xem người nuôi đã khá dày dạng kinh nghiệm. Tuy là loài hơi khó nuôi nhưng lại được rất nhiều người ưa chuộng với vẻ đẹp sặc sỡ đầy quyến rũ, lôi kéo và kích thích người nuôi thêm hứng phấn và thích thú khi ngắm nhìn chúng. Không chỉ ở dáng vẻ cách di chuyển khi bơi lội, chăm sóc con cũng làm người nuôi thích thú. Tuy nhiên, có nhiều khác biệt giữa nuôi để ngắm chơi và nuôi sinh sản về kích thước hồ, nơi đặt hồ, độ pH trong hồ….

    1.1. Hồ sinh sản

    – Kích thước hồ: từ 30 – 40 x 50 x 60 cm (cao, rộng, dài).

    – Mực nước trong hồ: Tuỳ theo kích thước cá nhưng thường thì khoảng 30cm.

    – Ánh sáng: Sáng mờ mờ (khi cá đã đẻ thuần thục điều kiện này không còn cần thiết), hồ cá sinh sản nên sơn 3 phía.

    – Âm thanh: Tránh gây tiếng động trong suốt quá trình cá đẻ đến khi tách bầy.

    – Nhiệt độ: Nắng gió phương nam không quan tâm đến yếu tố này (khoảng 28 – 30 o C là cá đẻ tốt).

    – pH từ 6,0 đến 6,5 (Nếu cá đẻ lần đầu hoặc không chịu đẻ nâng PH lên 6,6 – 7 (+ tăng ánh sáng) để cá sung lại).

    – Không sử dụng máy lọc.

    – Thổi khí nhẹ đến vừa phải (dùng lọc sinh học thì tốt hơn).

    – Cho một giá thể (máng đẻ) vào hồ. Cặp nào quấn lấy giá thể, đánh đuổi những em khác, thậm chí đẻ luôn trên giá thể thì bắt cặp đó cho vào hồ sinh sản đã chuẩn bị trước phần trên. Bổ sung các em khác vào nếu còn.Thông thường cá dĩa có thể đẻ sau 9 tháng tuổi nhưng thành thục phải từ tháng thứ 10 trở đi. Do vậy, trong thời gian này các bạn có nôn nóng cũng không làm được gì. Cá trống đang dọn ổ đẻ trong điều kiện môi trường nêu trên, có thể 3 giờ sau sẽ đẻ.

    – PH ổn định từ 6,0 đến 6,6 Tùy cá tơ hay già.

    – Cho ăn: ngày 1 – 2 lần (sáng, chiều) với lượng thức ăn rất ít chủ yếu là chất lượng, (Tim bò + Vitamin + Tảo + chất kết dính). Mỗi lần, mỗi em khoảng bằng đầu ngón tay út. Với pH dưới 6,5 cá ăn rất ít, thậm chí không ăn tránh cho ăn thừa làm hư nước, thối trứng. Nếu thuận lợi 1 đến 2 ngày cặp cá sẽ đẻ.

    1.4. Chăm sóc và bảo quản trứng

    Cá đẻ sau 1 giờ dùng Blu methylen phun lên trứng để ngừa mốc, thối hoặc mình dùng formol nồng độ 35% với lượng 2 cc/100 lít nước vừa ngừa mốc thối cho trứng vừa ngừa nấm cho cá bố mẹ. (Giữ được nước sạch thì không cần dùng hóa chất để bảo quản trứng). Cặp này to khỏe nuôi con tốt, một cặp nuôi 2 ổ trứng cũng không saoSau 36 giờ từ khi đẻ, trứng cá sẽ đổi màu:

    – Từ màu trắng trong sang màu trắng đục: Xong !!! Trứng hư, thối, do nhiều nguyên nhân:Trứng không thụ tinh do cá còn quá non, do nước hư làm thối trứng, … Chờ đẻ lại lần khác (khoảng 3 đến 7 ngày sau).

    II. Cá bột

    Cá mới nở là giai đoạn cá con bắt đầu bám cá bố mẹ đến khi tách bầy khoảng 12 – 15 ngày tuổi. Thời gian có thể dài hơn hoặc ngắn hơn tùy theo thể trạng cá bố mẹ.

    – Ngày thử 3 đến ngày thứ 5 nếu đàn con đã đu bám theo cá bố mẹ: Thay nước 10% mỗi ngày.

    – Mọi thao tác trong khu vực cá đẻ đều phải nhẹ nhàng, từ tốn.

    – Tăng cường lượng thức ăn cho cá bố mẹ ở mức độ vừa phải (hai lần trong ngày, khoảng đầu ngón tay cho mỗi lần/mỗi con). Cho atermia mới nở cho cá con ăn, đừng nhiều quá hư nước, chết cá.

    – Từ ngày thứ 6 trở đi tiếp tục cho cá bột ăn atermia vài lần trong ngày, nếu bầy con chịu ăn atremia sau 2 ngày, chúng ta có thể tách bầy khi cần thiết. Nhưng tốt nhất vẫn sau 10 ngày tuổi. Cũng có cách khác là trong thời gian tử ngày thứ 6 trở đi cho cá bố mẹ ăn trùng chỉ để cá bột “ăn ké” sau 10 ngày ta tách bầy.

    * Một số lưu ý:

    – Không thay hoặc thay nước rất ít trong ngày thứ 1 đến ngày thứ 3.

    – Ngày thứ 3 hoặc hơn nữa mới thay nước với lượng nước 5 – 10% cho lần thay đầu rồi tăng dần ở những lần sau nhưng không vượt quá 20%.

    – Chất lượng nước cho vào hồ cá hương phải tương đồng về pH, nhiệt độ.

    – Dùng đầu có gắn ống nhựa cứng rà theo mình cá bố mẹ, chúng sẽ phản ứng quyết liệt.

    – Mang xô chậu có chứa cá bột đến hồ nuôi, không đổ trực tiếp mà vẫn cách cũ hút từ xô chậu vào hồ nuôi. Từ lúc này hoặc vài ngày nữa chúng sẽ thành cá hương.

    – Nếu cá mới nuôi con 1 lần ta vệ sinh hồ sạch sẽ với lượng nước thay ra khoảng 60 – 80% sau khi tách bầy. Thực hiện lại phần “chăm sóc cá sinh sản” nêu trên khoảng từ 5 – 10 ngày cá sẽ đẻ lạ.

    – Nếu cho ra cá bột trước 10 ngày tuổi tiếp tục cho ăn atermia, vài ngày sau đó mới cho ăn trùng chỉ, nếu cho ra cá bột sau 10 cho ăn trực tiếp trùng chỉ cũng không sao.

    – pH 6,8 – 7,5.

    – Thức ăn trùng chỉ 3 – 8 lần trong ngày.

    – Mực nước trong hồ từ 8 – 15cm.

    – Thổi khí nhẹ, không sử dụng lọc. Giai đoạn này lo lắng cho đàn con tuy giảm nhưng nguy cơ vẫn còn: do shock nước, do nước dơ, do thời tiết thay đổi và do chúng ta là chủ yếu, … làm cá vẫn có thể chết.

    * Lưu ý: Trong suốt quá trình nuôi ở bất cứ giai đoạn nào cũng ngừng cho ăn trước và sau thay nước 1 giờ. Phòng bệnh hơn trị bệnh.

    IV. Kỹ thuật nuôi cá bé

    4.1. Phân lọai

    Dùng để chỉ cá ở độ size 2 – 3cm. Nếu các bạn nuôi vài em hoặc vài chục em thì không nhất thiết phải theo gợi ý này nhưng với số lượng lớn và có ý định tạo ra hàng, … khủng thì đây là cách của tôi, từ hạt lúa, đồng tiền (hình cá bé) sau 2 – 3 tháng.

    4.2. Chăm sóc

    – Mật độ nuôi: từ 100 – 150 con/hồ 30 x 50 x 120 cm.

    – Thay nước 1 lần trong ngày; từ 60 – 80%.

    – pH 6,8 đến 7,5.

    – Thức ăn trùng chỉ + Tim bò, ngày 4 – 6 lần.

    – Mực nước trong hồ từ 20 – 25cm.

    – Thổi khí vừa phải.

    – Sử dụng lọc lọai 8 – 12Wat, 8 – 10/24; (Tắt lọc khi chúng ta ngủ và khi cho ăn 20 phút). Giai đoạn này cá hầu như không bị bệnh ngoài những yếu tố chủ quan do ta gây ra như để nước dơ cá bị nấm, sinh tiêu, …; cho ăn nhiều sinh sình bụng, nhiễm trùng đường ruột, …

    – Thuốc trị cơ bản:

    + Nấm: có bán tại các tiệm cá cảnh; cephalêxin, Tetra vàng của nhật

    + Sình bụng: ngưng cho ăn tăng nhiệt lên 30 – 32 độ C (2 – 3 ngày).

    + Nhiễm trùng đường ruột: Metronidazon 500 có bán tại các tiệm thuốc tây (4-6viên/100lít nước).

    * Lưu ý:

    – Giảm hoặc ngưng cho ăn trong những ngày thời tiết thay đổi mưa bão, lạnh.

    – Loại bỏ những con khuyết tật như thiếu vây, hở mang, …

    – Sau 30 – 45 ngày phân lọai hoặc vớt bớt số lượng cá trong hồ ra vì chúng đã lớn mật độ như vậy không còn đảm bảo điều kiện sống tối thiểu.

    V. Kỹ thuật nuôi cá lớn

    5.1. phân lọai

    Dùng để chỉ cá ở độ size 3 – 7cm.

    5.2. Chăm sóc

    Giai đoạn này chăm sóc và phòng trị bệnh vẫn như giai đọan cá bé, ngoài một ít thay đổi như sau:

    Mật độ 50 – 70 con / hồ 40 x 50 x 120 cm.

    – Thay nước 1 lần trong ngày; từ 80% đến 100%.

    – PH 6,8 -7,2.

    – Thức ăn trùng chỉ + Tim bò, ngày 3 lần.

    – Mực nước trong hồ 35cm.

    – Thổi khí vừa, mạnh.

    – Sử dụng lọc lọai 8 – 12Wat, 8 – 10/24; (Tắt lọc khi chúng ta ngủ và khi cho ăn 20 phút).

    – Theo thông tin của nhiều lão thành nuôi cá chuyên nghiệp trong giai đoạn này cá chủ yếu bệnh nhiễm trùng đường ruột. Cách điều trị: Metronidazon 400mg (6viên/100lít nước); Tinidazon 100mg: 2viên/100lít cho vào bể nuôi. Từ giai đọan này trở đi ta đã có những cá thể hoàn chỉnh, đẹp. Việc chăm sóc ngày càng đơn giản hơn: giảm dần mật độ cá trong hồ, giảm lượng thức ăn và số lần cho ăn trong ngày. Vẫn duy trì việc thay 100% nước mỗi ngày.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Nuôi Cá Dĩa Đúng Kỹ Thuật Và Hiệu Quả
  • Nuôi Cá Dĩa Bột Với Am4
  • Thiết Kế Hồ Nuôi Cá Dĩa Bột
  • Cách Nuôi Cá Dĩa Bột
  • Nên Hay Không Việc Sử Dụng Bột Cá Trong Khẩu Phần Của Gia Cầm?
  • Cá Phượng Hoàng Ngũ Sắc, Lam, Vàng Lửa, Xanh. Kỹ Thuật Nuôi Sinh Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngư Dân Nghệ An Bắt Được Cá Sủ Vàng Quý Hiếm Giá Gần Tỉ Đồng
  • Kinh Nghiệm Rán Cá Vàng Ruộm, Giòn Tan Dù Chảo Không Chống Dính
  • Cách Chiên Cá Vàng Giòn Thơm Ngon
  • Mẹo Rán Cá Vàng Giòn, Không Sát Chảo Thơm Ngon Hơn Ngoài Hàng
  • Nằm Mơ Thấy Cá Là Điềm Báo Gì? Có Ý Nghĩa Gì?
  • Tổng Quan Về Cá Phượng Hoàng

    Cá Phượng Hoàng có tên khoa học là Mikrogeophagus ramirezi. Chúng là một loài cá đặc hữu tự nhiên của lưu vực sông Orinoco, ở các savan của Venezuela và Colombia tại Nam Mỹ.

    Cá Phượng Hoàng thuộc bộ cá vược, họ cá rô phi. Ngoài ra, nó còn có tên là cá Phụng Hoàng. Cá phượng hoàng trong giới thủy sinh cá cảnh còn được mệnh danh là nữ hoàng sắc đẹp.

    Các nhà lai tạo giống đã lai tạo ra được 3 loại cá Phượng Hoàng:

    • Phượng Hoàng xanh lam
    • Phượng Hoàng lùn
    • Phượng Hoàng vàng

    Cá Phượng Hoàng có chiều dài trung bình lúc trưởng thành là từ 5 cm đến 7 cm. Cá có tốc độ tăng trưởng nhanh. Sau một tháng cá đạt khoảng 2 cm đến 3 cm. Sau 3 tháng cá đạt khoảng 3 cm đến 3,5 cm. Chiều dài tối đa ngoài tự nhiên của cá đạt được khoảng 4 cm đến 10 cm. Cá Phượng Hoàng tương đối hiền có thể sống chung với các loài cá khác.

    Cá Phượng Hoàng rất khỏe trong hồ thủy sinh, khi cá đã khỏe thì sống rất dai. Cá Phượng Hoàng là loài ăn thịt vì vậy nếu nuôi chung với các loài cá dễ đẻ thì chúng sẽ ăn cá con khác. Cá Phượng Hoàng đa số bơi yên một chỗ và bảo vệ lãnh thổ riêng của mình.

    Phủ khắp cơ thể cá phượng hoàng là màu xanh. Cá Phượng Hoàng có vây bụng, chót đuôi và vây lưng có màu đỏ, ở trên có nhiều đốm màu lam sáng. Nếu bạn để ý thì ở đầu vây lưng của cá Phượng Hoàng có màu đen, ngoài ra nó còn có màu vàng, đỏ và xanh sẫm.

    Phân Biệt Cá Phượng Hoàng Cái Và Đực

    Để có thể phân biệt được cá Phượng Hoàng đực và cái thì bạn phải chăm sóc nó tới tuổi thành thục vào khoảng 6 đến 8 tháng thì cá đực và cá cái mới có sự khác nhau về hình dạng bên ngoài.

    • Cá Phượng Hoàng đực: Cá đực có vi lưng, vi bụng, vi hậu giương cao. Cá có màu sắc sặc sỡ và thường thì kích thước lớn hơn cá cái.
    • Cá Phượng Hoàng cái: Cá có kích thước nhỏ, màu sắc các vây nhạt và các vi không giương cao. Khi sinh sản cá cái có bụng to nhìn rất rõ.

    Chăm Sóc Cá Phượng Hoàng

    Bể nuôi cá Phượng Hoàng cần có thể tích khoảng 90 lít nước với chiều dài bể khoảng 60 cm. Khi làm bể cần phải chừa nhiều không gian mở để cá bơi lội.

    Đặc biệt, cá cũng cần vài cái hang để ẩn nấp và nếu nuôi để gây giống thì bạn cần cho đá phẳng vào để cá cái có thể đẻ trứng lên đó.

    Nhiệt độ thích hợp nhất để nuôi cá Phượng Hoàng là từ 25 đến 28 độ C. Nếu nóng quá hoặc lạnh quá cá không chịu được và sẽ dễ sinh bệnh. Trong môi trường tự nhiên, cá Phượng Hoàng sống trong nhiệt độ khoảng 26 độ đến 29 độ C. Cá có thể thích nghi tốt với nước có độ cứng thấp và có tính kiềm từ 5 đến 6,5.

    Cá Phượng Hoàng sống ở mọi tầng nước nên kỹ thuật nuôi ghép trong bể cần có nhiều cây thủy sinh. Đặc biệt phải để ánh sáng vừa phải, nhất là cần phải sục khí nhiều lần để phòng bệnh cho cá. Bạn cũng cần phải định kỳ thay nước vì cá rất nhạy cảm với nitrít độc hại sinh ra bởi phân thải và thức ăn thừa.

    Sinh Sản Của Cá Phượng Hoàng

    Cá Phượng Hoàng đẻ quanh năm nhưng tập trung vào tháng 3 đến tháng 10. Trứng cá thuộc dạng trứng dính. Nên tách cá đẻ nuôi riêng từng cặp khi cho cá sinh sản để đạt kết quả tốt nhất. Bể dùng để nuôi cá sinh sản có thể tích 10 đến 15 lít/1 cặp, mực nước trong bể khoảng 10 cm đến 12 cm.

    Cá Phượng Hoàng thường có tập tính bắt cặp và dọn tổ trước khi đẻ. Trung bình cứ 1 con cá cái đẻ khoảng 150 đến 400 trứng. Trứng cá sẽ nở sau 2 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ bên ngoài. Cá Phượng Hoàng có tập tính giữ con tốt nhưng đôi khi cá cũng ăn cả trứng và cá bột khi bị hoảng sợ.

    Chính vì vậy, bạn nên vớt trứng cá chuyển sang bể ấp có xử lý thuốc Metylen Blue trong khoảng 36 giờ, sau đó chuyển trứng sang bể nở. Thời gian cá phát dục trở lại trong khoảng 15 đến 20 ngày.

    Phòng Bệnh Cho Cá Phượng Hoàng

    Cá Phượng Hoàng hoạt động nhiều và rất nhanh nhẹn. Cá thích hợp nuôi thành cặp hoặc thích hợp trong bể nuôi chung với nhiều loại cá khác nhau. Cá sống trong môi trường nuôi tốt sẽ lên màu rất đẹp.

    Đặc điểm nhận dạng của cá bệnh là chúng sẽ bị sẫm màu hoặc xuất hiện những sọc đen đậm dọc thân. Khi đó, bạn cần kiểm tra lại chất lượng nước trong bể nuôi. Nếu có thể hãy thay nước sạch khác cho cá đồng thời vệ sinh sạch sẽ bể để đảm bảo cá luôn được khỏe mạnh.

    Cá Phượng Hoàng Có Giá Bao Nhiêu

    Cá phượng hoàng có giá không quá đắt. Giá của chúng thuộc hàng trung bình mặc dù vẻ đẹp không kém cạnh những loài đắt giá khác. Bạn có thể tìm mua cá Phương Hoàng ở các cửa hàng cá cảnh với giá khoảng 10000 đồng một con. Tùy vào độ đẹp của cá mà cá có giá dao động trong khoảng 10000 đến 50000 đồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cá Phượng Hoàng: Giới Thiệu, Hình Ảnh, Thức Ăn Và Cách Nuôi Sinh Sản
  • Tranh Cá Vàng Ý Nghĩa Cách Treo Hợp Phong Thủy Đón Tài Vượng
  • Ý Nghĩa Tranh Cá Vàng Trong Phong Thủy Nhà Ở
  • Cá Phong Thủy: Cách Nuôi, Hướng Đặt Bể Cá Cảnh Theo Tuổi, Mệnh
  • Tìm Hiểu Về Biểu Tượng Cá Rồng Trong Phong Thủy
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Dĩa Thương Phẩm, Sinh Sản

    --- Bài mới hơn ---

  • Quận Phú Nhuận , Tp Hồ Chí Minh
  • Đại Gia Bỏ Tiền Triệu Ăn Trứng Cá Đen Nhân Tạo
  • 【7/2021】Cung Cấp Trứng Cá Hồi Muối Thơm Ngon, Giá Cả Cạnh Tranh【Xem 283,041】
  • 【7/2021】Trứng Cá Hồi Muối Giá Bao Nhiêu Tiền – Mua Trứng Cá Hồi Ở Đâu【Xem 403,821】
  • 【7/2021】Kinh Doanh Trứng Cá Hồi Muối An Toàn, Giá Cả Cạnh Tranh【Xem 64,449】
  • KHPTO – Theo các chuyên gia, cá dĩa là loại cá cảnh khó nuôi nhất trong các loại cá cảnh nhiệt đới bởi các đặc điểm khác biệt về nhu cầu sinh thái, đặc điểm sinh học so với họ hàng cá rô phi của chúng nói riêng và các loài cá cảnh nước ngọt nói chung. Do đó, để nuôi cá dĩa đạt hiệu quả cao, cần đặc biệt chú ý đáp ứng đầy đủ điều kiện sống và cách chăm sóc, đảm bảo lựa chọn giống đủ tiêu chuẩn.

    Với những đặc điểm sinh học khác biệt của cá dĩa, đòi hỏi người nuôi cần nắm chắc. Khi nuôi trong bể kiếng, cá tăng trưởng chậm, sau từ 6 – 8 tháng nuôi có thể đạt từ 6 – 10 cm (kích cỡ thương phẩm). Đối với cá trưởng thành, sinh sản sau 10 – 20 tháng tuổi, cá đẻ trứng dính bám vào giá thể, khoảng 50 – 60 giờ (tùy nhiệt độ) trứng sẽ nở.

    Về công tác chuẩn bị nuôi, có thể theo các hình thức nuôi trong bể kiếng hoặc bể xi măng. Vị trí nuôi phải đáp ứng đủ các điều kiện không gian yên tĩnh, ánh sáng vừa, tránh gió lùa và có nhiệt độ thích hợp. Đối với nguồn nước nuôi, nếu là nước máy cần sục khí nhẹ trên 2 ngày để loại bỏ clor trong nước và tăng cường

    hòa tan oxy, kết hợp xử lý ozon, kiểm tra độ pH. Còn đối với nguồn nước giếng, cần kiểm tra chất lượng nước để có giải pháp xử lý cụ thể, nước đạt tiêu chuẩn sử dụng cho sinh hoạt phải tiếp tục xử lý cho qua bồn lọc cơ học, sục khí tăng cường và kiểm tra độ pH đạt 6,5 – 6,8.

    Cá dĩa là một trong những loài cá rất nhạy cảm với tác động của môi trường xung quanh, do đó đòi hỏi rất cao về nhiệt độ và môi trường nước. Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cá, làm thay đổi trực tiếp nhiệt độ cơ thể cá. Đồng thời, nhiệt độ nước cũng tác động đến quá trình sinh hóa trong cơ thể cá. Sự thay đổi nhiệt độ quá lớn và đột ngột sẽ làm rối loạn quá trình sinh hóa trong cơ thể và ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường. Nhiệt độ thích hợp của cá dĩa trưởng thành là 26 – 28 độ C, cá con mới nở 5 – 6 cm là 28 – 30 độ C. Để đảm bảo nhiệt độ thích hợp nên đặt bể nuôi trong phòng có nhiệt độ ổn định, dùng sưởi để kiểm soát nhiệt độ trong bể.

    Khâu thả giống cũng đóng vai trò quan trọng quyết định trực tiếp đến mô hình nuôi có hiệu quả hay không. Khi mua cá bố mẹ cần chú ý chọn cá có thân hình tròn, đầy đặn, khỏe mạnh, kỳ vây nguyên vẹn, phản xạ nhanh nhẹn, mua từ những nghệ nhân nuôi thành công. Nếu mua cá con cần biết rõ nguồn gốc, chú ý các biểu hiện như đàn cá khỏe mạnh, đồng đều, phân tán đều trong bể, không tụm lại góc bể, phản xạ nhanh nhẹn, thường tập trung lại máng ăn.

    Về quá trình chăm sóc, cần lưu ý đến các loại thức ăn cho cá dĩa bao gồm trùn chỉ, cá lóc nhuyễn, trùng huyết, bo bo đông lạnh hoặc thức ăn tự chế biến. Đối với trùn chỉ và cá lóc nhuyễn, chú ý mua về để vài giờ nhằm loại bỏ hết chất thải trong ruột của chúng, rửa qua nước sạch vài lần, vớt những con sống cho cá ăn, sau đó sục khí tiếp để lại cho lần ăn sau. Đối với trùng huyết và bo bo đông lạnh, cần mua tại những cơ sở uy tín, phải còn tươi thả trực tiếp vào bể lượng vừa đủ. Loại thức ăn tự chế biến, tất cả phải được xay nhuyễn, bỏ vào túi nylon, cán dẹp, để ngăn đá tủ lạnh và cho ăn dần. Cá dĩa ăn rất ít, bởi vậy cần cung cấp lượng thức ăn vừa đủ hoặc hơi thiếu, dựa vào việc theo dõi sức ăn hàng ngày để điều chỉnh cho phù hợp nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 【7/2021】Chuyên Cung Cấp Trứng Cá Tầm Chất Lượng Ngon Nhất Hiện Nay【Xem 64,548】
  • Trứng Cá Tầm Giá Sỉ Bao Nhiêu Tại?
  • 【7/2021】Kinh Doanh Bán Trứng Cá Tầm Caviar, Giá Rẻ Và Cách Dùng【Xem 53,856】
  • Giá Rượu Beluga Và Hương Vị Đặc Biệt Của Dòng Beluga
  • Rượu Beluga Giá Bao Nhiêu? Mua Rượu Beluga Xách Tay Ở Đâu Chuẩn?
  • Kỹ Thuật Nuôi Sinh Sản Nhân Tạo Cá Rô Đồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Nuôi Cá Rô Trong Bể Xi Măng Đạt Hiệu Quả Cao
  • Bí Quyết Nuôi Cá Rô Đồng Trong Bể Xi Măng Đạt Năng Suất Và Thu Nhập Cao
  • Cách Kho Cá Rô Với Tương Bần Thơm Ngon Nhất
  • 1️⃣ Cách Kho Cá Rô Đồng Với Dưa Chua, Nghệ, Khế, Kho Tộ Thơm Ngon Tại Nhà
  • Cách Nấu Cá Rô Đồng Kho Với Thịt Ba Chỉ Đúng Chất Dân Gian Truyền Thống
  • 1. Chọn cá làm đàn bố mẹ : Cá bố mẹ có thể được chọn từ cá thương phẩm từ vụ trước, muốn làm cá bố mẹ thì cá ít nhất cũng từ 10 – 12 tháng tuổi. Cá được chọn phải khỏe mạnh, không trầy xước, dị hình, trọng lượng tối thiểu là 50 gr/con.

    Cách phân biệt đực cái như sau:

    Cá đực: cỡ nhỏ hơn, thân thon dài, màu sậm hơn.

    Cá cái: lớn hơn, thân tương đối tròn, mùa sinh sản bụng to.

    2. Nuôi vỗ

    – Ao nuôi có thể là ao đất hay ao lót bạt, diện tích tối ưu là từ 200 – 300m2, độ sâu nước ao từ 0,8 – 1,2m, chủ động trong cấp thoát nước, nếu là ao đất thì cũng được cải tạo kỹ như ao nuôi thương phẩm, xung quanh ao nên có lưới bao cẩn thận.

    – Trước khi nuôi vỗ, nên tính trước lượng cá cần cho một lứa đẻ, theo kinh nghiệm của nhiều nơi, để có 1.000.000 cá bột thì cần khoảng 3 – 5kg cá cái (nếu đàn bố mẹ có cỡ lớn thì đẻ nhiều hơn), số cá đực nuôi vỗ bằng cá cái, cá đực và cá cái nuôi chung.

    – Mật độ thả từ 1 – 1,5 kg/m2 mặt nước.

    – Thức ăn khi nuôi vỗ phải là loại có đạm cao, có thể tự chế biến bằng bột cá lạt hay cá tươi xay nhỏ trộn với cám và gạo đã nấu chín, tỷ lệ cám và bột cá là 1:1.

    – Thức ăn tự chế phải được cho ăn trong các sàn ăn đặt quanh ao.

    – Lượng thức ăn trong ngày chiếm từ 5 – 7% trọng lượng đàn cá, một số hộ còn dùng lúa, các loại đậu,… ủ cho lên mầm và cho cá ăn thêm.

    – Mỗi ngày cho ăn 2 bữa, vào lúc sáng sớm và chiều mát.

    – Khi thấy nước dơ thì cần phải thay nước, mỗi lần thay không được quá 1/3 nước ao.

    – Cách tuần lại trộn vào thức ăn các loại thuốc bổ như sau, cho ăn liên tiếp 3 ngày:

    Supastock Fish: 100gr cho 3kg thức ăn

    Grow Fish, Aqua C Fish: 100gr cho 3kg thức ăn

    Aquazyme P: 100gr cho 3 kg thức ăn

    Sau 1 tháng nuôi vỗ, có thể chọn cá cho sinh sản, tỷ lệ thành thục sau nuôi vỗ cao và đồng đều hay không còn phụ thuộc nhiều vào sự chăm sóc của người nuôi.

    3. Kỹ thuật cho cá đẻ nhân tạo

    Dụng cụ cho cá đẻ

    Dụng cụ cho cá đẻ rất đơn giản, có thể là bể xi-măng, ao lót bạt hay thau nhựa,… mực nước từ 30 – 40cm và phải có lưới che, nơi cá đẻ phải yên tĩnh, sạch sẽ.

    Chọn cá bố mẹ

    Cá bố mẹ phải được đánh bắt và chọn lựa nhẹ nhàng, nên dùng lưới có cỡ mắt lưới nhỏ, cá bắt xong cho vào vèo (giai) rồi mới tiến hành lựa.

    – Cá đực: Khỏe mạnh, không trầy xước, vuốt nhẹ về đuôi hơi nhám, vuốt nhẹ bụng thấy có tinh dịnh trắng sữa chảy ra (chỉ thử vài con),…

    – Cá cái: Khỏe mạnh, không trầy xước, có bụng to nhô ra hai bên hông, bụng cá mềm đều, lỗ sinh dục có màu hồng.

    – Tỷ lệ đực cái cho đẻ từ 1:1 đến 1,5:1

    – Cá lựa xong cho vào vèo hay bể để cá nghỉ vài giờ trước khi tiêm kích dục tố.

    – Số lượng cá cái chọn nên phù hợp với lượng cá bột cần có (khoảng 3 – 5kg cá cái/1.000.000 cá bột).

    Tiêm kích dục tố:

    Kích dục tố phổ biến cho cá là HCG và LHRHa, hiện nay một số cửa hàng thuốc thủy sản có bán (đặt trước) hoặc bà con liên hệ trực tiếp Viện NCNT Thủy Sản II, số 16 Nguyễn Đình Chiểu, Q3, TP Hồ Chí Minh, bà con vùng Bình Dương có thể liên hệ ở các trạm Khuyến nông.

    Liều tiêm

    – Đối với cá cái:

    + HCG: 1.500 – 2.000 UI/kg cá (lọ thuốc 10.000 UI).

    + Hoặc LHRHa: 0.2 mg + 2 viên DOM (hoặc 2 viên Motilium)/kg cá.

    – Đối với cá đực:

    Liều tiêm bằng ½ liều cá cái

    Có thể dùng chung cả hai loại kích thích tố (KTT) trên.

    Cách pha nước: Ví dụ cụ thể cho 10 kg cá cái, 12 kg cá đực, KTT là HCG.

    – Lượng HCG cần: cá cái (10 x 2.000) + cá đực (12/2 x 2.000) = 32.000 UI (vì cá đực bằng ½ liều cá cái).

    Đây là liều cao nhất nên nếu lọ HCG là 10.000 UI thì chỉ cần 3 lọ.

    – Tính tổng lượng cá cần tiêm, ví dụ cá bình quân cỡ 25 con/kg, tổng lượng cá là: cá cái (10 x 25) + cá đực (6 x 25) = 400 con.

    Mỗi con chỉ nên tiêm 0,1cc thuốc, do vậy lượng nước cần pha là 0,1 x 400 = 40cc.

    – Nước pha là nước cất(có bán ở các cửa hàng thú y), KTT nếu dùng có thêm DOM thì phải nghiền mịn và trộn đều với nước pha.

    – Chích cá cái trước, sau đó thêm 8cc nước vào hỗn hợp thuốc và chích cho cá đực cũng với liều 0,1cc/con.

    Vị trí tiêm: Thường tiêm ở gốc vi ngực hoặc vi lưng, chỉ tiêm một lần duy nhất.

    Thời gian hiệu ứng thuốc:

    Sau khi tiêm khoảng 8 – 10 giờ thì cá đẻ, thời gian đẻ kéo dài 2 – 3 giờ.

    Mật độ cá thả cho đẻ từ 4 – 6 cặp/m2, tỷ lệ đực : cái khoảng 1-1,5 : 1.

    4. Kỹ thuật ấp trứng

    Vớt trứng:

    Sau khi cá đẻ xong, vớt trứng bằng vợt lưới mịn, thao tác vớt nhẹ nhàng. Rửa lại trứng bằng cách tưới nước sạch lên vợt.

    Dụng cụ ấp:

    Dụng cụ ấp có thể là bể xi-măng, ao lót bạt hay thau nhựa, các dụng cụ phải sạch.

    Nước ấp trứng là nước sạch, đã được lắng lọc kỹ (nếu là nước máy thì phải để qua một đêm cho bay hết clor).

    Mật độ ấp:

    – 30.000 – 40.000 trứng/thau nhựa đường kính 60cm (một kg cá cái đẻ khoảng 200.000 -400.000 trứng).

    – 90.000 – 100.000 trứng/1m2 bể ấp.

    Nếu bể ấp có sục khí thì có thể tăng mật độ.

    Chăm sóc, quản lý:

    Nơi ấp trứng phải có mái che, thoáng mát.

    Thường xuyên vớt trứng thối (có màu trắng đục), các tạp chất nếu có (rất dễ vớt, dùng một mảnh lưới mùng hoặc một que tre như là tăm bông).

    Bệnh thường xảy ra khi ấp trứng là nấm bông gòn, xử lý bằng cách vớt trứng thối và không ấp trứng trong mùa có nhiệt độ thấp, nơi ẩm mốc.

    Mỗi ngày thay 30% lượng nước trong bể ấp.

    Trong điều kiện nhiệt độ 28 – 30oC sau từ 18 – 20 giờ thì cá nở. Sau khi nở 2 – 3 ngày thì chuyển đi ương (không cho ăn gì cả vì cá sống bằng noãn hoàng).

    Mỗi 1cc cá bột chứa khoảng 3.000 con.

    5.Thu hoạch cá bột:

    Với các hộ cho ấp cá trong bể xi-măng, thao tác thu họach cá bột lần lượt như sau:

    – Dùng vợt vải dù bắt cá, không bắt một vợt quá lâu và quá nhiều cá, thau đựng cá phải có sục khí.

    – Khi lượng cá trong bể ít đi, mới tiến hành xả đáy bắt cá, thao tác nhẹ tránh đục nước.

    – Cá theo cặn cuối cùng trong bể nên để riêng một thau, khi thả không cần tính số lượng.

    Theo Trung tâm Khuyến ngư Tiền Giang, trong mùa vụ chính:

    Tỷ lệ cá đẻ từ 96 – 100%.

    Tỷ lệ trứng thụ tinh 82 – 93%.

    Tỷ lệ nở 87 – 98%.

    6. Ương cá bột lên cá giống

    Hiện nay, do điều kiện ao hồ ít, có một số hộ nuôi bỏ qua giai đoạn ương mà thả thẳng cá bột xuống ao và nuôi cho đến thu hoạch, điều này là không tốt vì thời gian nuôi quá dài sẽ làm cho ao trong các tháng sau cùng ô nhiễm không thể xử lý được. Do vậy, nếu không chủ động được ao thì nên liên kết nhiều hộ với nhau để ương chung.

    Chuẩn bị ao ương

    Ao ương là ao đất hay ao trải bạt, diện tích từ 300 – 1.000 m2 hay lớn hơn.

    Tiêu chuẩn ao, cải tạo ao như nuôi cá thịt.

    Lấy nước

    Nước lấy qua lưới lọc mịn, sạch, trước thả cá khoảng 5 ngày.

    Tạo thức ăn tự nhiên

    Ngoài cách gây màu nước, để tăng thức ăn tự nhiên cho cá bột thì tiến hành bón cho ao bằng các loại tinh bột (làm ngay sau khi lấy nước), các loại bột có thể dùng được như sau:

    – Bột mì: 10 kg/1.000m2(chỉ cần mua loại dùng cho thức ăn gia súc). – Bột đậu nành: 5 kg/1.000 m2.

    Dùng một trong hai loại trên, hòa nước tạt liên tục mỗi ngày cho đến khi thả cá

    Mật độ ương

    Mật độ ương từ 400 – 500 con/m2.

    Thả cá

    Cá nên được thả vào buổi sáng sớm hay chiều mát, sáng sớm là tốt nhất.

    Cá bột đựng trong bọc ni-lon hay thau, xô,… đều phải theo các nguyên tắc sau:

    – Nếu khoảng cách từ bể ấp đến ao ương xa nhau, tốt nhất là đóng bao nilon có bơm oxy.

    – Không nên đựng cá bột với mật độ quá dày đặc.

    – Vị trí thả cá nơi đầu gió.

    – Khi thả cá phải thả từ từ cho nhiệt độ nước ao và nhiệt độ nước chứa cá cân bằng, cho nước ao vào bao cá từ từ trước, sau đó mới thả hết ra ngoài.

    Thức ăn

    Khẩu phần thức ăn cho 100.000 cá bột/ngày như sau:

    Loại thức ăn

    Không cho ăn

    Supastock Fish, 1kg/1.000m2/ngày, tạt quanh mé ao

    Tạt 1 lần vào buổi sáng

    7 – 10

    4 lòng đỏ trứng + 400 gr bột đậu nành

    Supastock Fish, 100 gr

    3 lần

    (7h, 1h, 17h)

    10- 20

    300 gr bột đậu nành + 300 gr cám + 300 gr bột cá

    – Supastock Fish, 100 gr – Aqua C Fish, 20 gr

    3 lần (7h, 1h, 17h)

    20- 30

    800 gr cám + 800 gr bột cá

    – Aqua C Fish, 20 gr

    – Aquazyme P, 20 gr

    tập cho ăn sàn

    3 lần (7h, 1h, 17h)

    30- 60

    50% cám + 50% bột cá

    – Aqua C Fish, Aquazyme P 10gr/kg thức ăn

    15% trọng lượng cá (2-5kg thức ăn)

    3 lần

    (7h, 1h, 17h)

    * Ghi chú:

    – Lòng đỏ trứng gà hay vịt đều tốt.

    – Bột cá mua loại 60% đạm.

    – Cám, bột đậu nành trước khi cho ăn nên nấu chín.

    – Để thức ăn nguội mới trộn thuốc vào.

    – Mỗi ao nên làm nhiều sàn ăn xung quanh, thức ăn không cho vào sàn thì hòa một ít nước rồi tạt đều ao.

    Các lưu ý khi ương cá

    – Trong khi ương hạn chế thay nước, tốt nhất là bơm thêm nước sạch bù lượng hao hụt.

    – Vệ sinh sàn ăn mỗi ngày, kiểm tra lượng thức ăn còn dư trên sàn để điều chỉnh hợp lý.

    – Cho ăn đúng, cung cấp đủ các dưỡng chất sẽ giúp cá mau lớn, tỷ lệ sống cao, chất lượng cá giống tốt.

    – Sau 50 – 60 ngày ương, tỷ lệ sống trung bình từ 20 – 30%, cỡ cá trung bình 500 – 700 con/kg.

    7. Thu hoạch và vận chuyển cá giống

    – Khi cá đạt khoảng 500 – 700 con/kg thì tiến hành thu hoạch được.

    – Trước khi thu cá một tuần, luyện cá bằng cách dùng lưới thưa hay sào tre khoáy đảo ao, làm từ ít tới nhiều vào buổi sáng (sau 9 giờ) cho cá quen dần.

    – Khi thu hoạch dùng lưới mùng, thao tác nhẹ nhàng tránh trầy xước cá.

    – Cá thu được cho vào vèo hay ao bạt, để 2 ngày cho cá khỏe mới chuyển đi.

    – Cá được chuyển tốt nhất bằng bao ni-lon bơm oxy, lượng cá tối đa là 3kg/bao, nếu ao gần thì chuyển bằng xô nhưng không được chứa nhiều cá quá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nuôi Cá Rô Đồng Sinh Sản Bằng Phương Pháp Nhân Tạo
  • Cách Nấu Bún Cá Rô Đồng Siêu Ngon, Chuẩn Vị Hải Dương
  • Cách Kho Cá Rô Phi Đồng Thơm Ngon Theo Phương Pháp Kho Tộ Với Tiêu Và Mía
  • Dạy Nấu Canh Bánh Đa Cá Rô Để Mở Quán
  • Dân Dã Với Món Ăn Từ Cá Rô Đồng Miền Tây
  • Kỹ Thuật Sinh Sản Và Nuôi Thương Phẩm Cá Lóc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Cá Ranchu Sinh Sản Như Thế Nào
  • Nuôi Cá Chép Nhật Sinh Sản Như Thế Nào?
  • Tải Game Bắn Cá Vàng Ios Apk / Cùng Nhau Săn Thẻ Cào Ở Đại Dương
  • 【1/2021】Cá Mú Sao Xanh Biển Mua Ở Đâu
  • Cá Mú Sao Xanh Tươi Sống
  • Vì thế, nghề nuôi cá lóc vừa phù hợp với những hộ nghèo nguồn vốn đầu tư ít, vừa phù hợp với các doanh nghiệp đầu tư nuôi với quy mô trang trại. Đây vừa là mô hình nuôi góp phần xóa đói giảm nghèo, vừa là mô hình làm giàu cho các doanh nghiêp của Việt Nam, nên cần được đầu tư phát triển và nhân rộng.

    A. Kỹ thuật sinh sản và ương ấp

    I. Một số đặc điểm của cá lóc

    – Cá lóc thường sống ở đồng ruộng, sông, kênh rạch và có khả năng thích ứng cao với sự biến động về nhiệt độ nước của môi trường.

    – Thức ăn ưa thích là động vật và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cá.

    – Cá lóc là loài có tốc độ tăng trưởng khá nhanh, trong điều kiện nuôi tốt thì sau 6 – 8 tháng cá có thể đạt 0,5 – 1,2 kg/con; cá cái thường lớn nhanh hơn cá đực.

    – Cá lóc đẻ lần đầu khoảng 5 – 6 tháng tuổi, tốt nhất ở giai đoạn 1 – 4 tuổi, sinh sản tập trung từ tháng 4 – 8 và có tập tính bảo vệ trứng và cá con.

    II. Nuôi vỗ cá lóc trong ao

    – Diện tích ao: 200 – 1.000m2, mật độ: 40-50 kg/100m2

    – Thức ăn: Nếu dùng cá tạp, phế phẩm lò mổ, khẩu phần 5 – 7% khối lượng/ngày. Nếu dùng thức ăn viên (đảm bảo 45% đạm) 1,5-2% khối lượng cá/ngày.

    – Nuôi khoảng 45 – 60 ngày cá thành thục.

    – Chọn cá bố mẹ: Cá đực cơ thể thon, bụng nhỏ, màu sắc rõ các vạch trên thân, không xây sát. Cá cái: bụng to, mềm, lỗ sinh dục màu hồng, lồi, trứng vàng rơm, bóng, đều.

    III. Cho cá lóc đẻ và ấp trứng 1. Cho cá đẻ tự nhiên trong ao

    – Có thể đào hố đất nhỏ (2-4 m2), độ sâu 0,8-1,2m, có nguồn nước cấp vào ao đẻ. Mặt hố có thể thả ít bèo, rau muống hoặc làm vỉ che nắng. Mật độ 1 cặp/1 ao (1 đực, 1 cái).

    – Nếu sử dụng ao to cho cá lóc đẻ cần tiến hành như sau:

    + Cải tạo ao, vét bùn, rải vôi, phơi đáy.

    + Lấy nước vào ao, để lắng trong 3-5 ngày. Duy trì mực nước 0,8-1m.

    + Làm tổ cho cá đẻ bằng lá dừa cắm xuống ao hoặc rau, bèo, mỗi tổ cách nhau 3-4m, cắm cách đáy 0,3-0,5m. Để sẵn trong tổ rau muống, rơm rạ để giữ trứng khi cá đẻ.

    2. Kích thích cá lóc đẻ bằng phương pháp nhân tạo

    – Yêu cầu: Chọn cá chính xác, đặc biệt cá đực; kích thích tố có hoạt tính cao.

    – Đối với cá đực: Tiêm trước cá cái 8-10 tiếng, liều lượng: HCG 3.000 – 4.000 UI/kg hoặc tiêm cùng với lần tiêm thứ nhất của cá cái.

    – Đối với cá cái: tiêm 2 lần:

    + Liều 1: 500 – 1.000 UI/kg cá cái.

    + Liều 2: tiêm sau lần 7 – 8 giờ tiếp tiêm lần 2: liều lượng: 3 – 5 não + 3.000 – 4.000 HCG UI/kg cá cái.

    + Sau 12 – 15 giờ cá sẽ đẻ trứng

    + Sau khi tiêm xong, có thể cho cá đẻ trong bể xi măng, bể đất lót bạt hoặc cho cá đẻ dưới ao. Bể đẻ có diện tích 2-3m2, độ sâu 0,3-0,5m; mật độ 1 cặp/1 bể. Nếu cho đẻ dưới ao cần cắm tổ cho cá, các tổ cách nhau 3-4m.

    3. Ấp trứng

    – Có thể sử dụng nhiều phương tiện sẵn có để ấp trứng cá lóc: thau, bể nhựa,…

    – Mực nước: 0,2-0,5m

    – Mật độ ấp trứng trung bình: 2.000 trứng/dm2

    – Thay nước: 6 giờ/lần

    – Nguồn nước ấp: sạch, không nhiễm bẩn và nhiễm bệnh

    – Chú ý: loại bỏ trứng ung (có màu trắng đục)

    – Sau khi cá nở 2 ngày có thể chuyển cá ra các dụng cụ có diện tích lớn hoặc các ao nhỏ đã được cải tạo đúng kỹ thuật.

    Cá lóc giống

    IV. Kỹ thuật ương cá lóc 1. Ương trong bể

    – Thức ăn:

    + Dùng động vật phù du hoặc trứng đã luộc chín đánh tan trong nước cho cá ăn.

    + Cho ăn 4-6 lần/ngày.

    + Lượng cho ăn: thỏa mãn nhu cầu

    – Mật độ ương: 2.000-4.000 con/m2.

    – Sau 30 ngày, san thưa còn 1.000-2.000 con/m2

    – Mực nước: 0,5-0,8m.

    – Ngày thay nước 2-4 lần, mỗi lần thay 30% thể tích nước.

    – Sau khoảng 10 ngày ương, tập cho cá ăn tép, cá nhỏ băm nát.

    2. Ương trong giai/vèo

    – Yêu cầu: loại lưới mùng mắt nhỏ cá bột không lọt. Nước ao sạch, mát.

    – Mật độ: 10.000-20.000/m2 sau 1 tháng san thưa còn 5.000-10.000 con/m2

    – Thức ăn: tương tự như ương trong bể xi-măng, bể nhựa.

    – Sau khoảng 10 ngày ương, tập cho cá ăn tép, cá nhỏ băm nát.

    B Nuôi cá Lóc thương phẩm

    1. Nuôi cá Lóc trong giai đặt trong ao đất

    – Thông thường mùa vụ nuôi tập trung từ tháng 5 – 9, trong đó tập trung nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8.

    – Giống cá Lóc chọn thả nuôi phải có kích cỡ đồng đều, khỏe mạnh, nhiều nhớt, không bị thương tích hay bệnh tật. Cỡ cá giống phải đạt từ 20 – 30g/con, mật độ thả từ 80 – 100 con/m3 là tốt nhất.

    – Thành phần thức ăn

    Cá Lóc là loài cá ăn động vật, thành phần thức ăn bao gồm nhiều loại động vật tươi sống như: cá, tép, ếch nhái… Trong quá trình nuôi, có thể tập luyện cá giống quen dần với loại thức ăn chế biến từ cá nguồn nguyên liệu địa phương như cá tạp, tấm cám, bắp, và vitamin…có hàm lượng đạm cao hơn 20 % hoặc sử dụng thức ăn công nghiệp hay thức ăn tự chế biến để nuôi cá.

    – Khẩu phần ăn

    + Khẩu phần thức ăn từ 5-15% trọng lượng cá. Khẩu phần này được điều chỉnh tùy thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng, tình hình sức khỏe và các giai đoạn phát triển của cá.

    + Thông thường ở thời điểm mới thả giống, do kích thước cá còn nhỏ, thức ăn cần được xay nhuyễn; đến khi cá lớn, thức ăn có thể cung cấp trực tiếp. Việc dùng sàn cho cá ăn được khẳng định mang lại hiệu quả cao trong quá trình nuôi.

    b) Chăm sóc và quản lý

    Hoạt động chăm sóc và quản lý cá Lóc cần phải được thực hiện thường xuyên. Các hoạt động này bao gồm: kiểm tra giai (hệ thống dây, lưới…) và tình hình sức khỏe của cá nuôi, vệ sinh giai tránh rong bám nhiều ô nhiễm môi trường nuôi.

    Thời gian nuôi cá Lóc thường ít nhất là 6 tháng, thông thường là 7 – 8 tháng. Trọng lượng cá khi thu hoạch có thể đạt kích cỡ trung bình 0,5 – 1,5 kg/con. Trước khi thu hoạch 1 – 2 ngày không nên cho cá ăn. Khi thu hoạch có thể dùng vợt vớt cá.

    2. Kỹ thuật nuôi cá Lóc trong ao đất a) Chuẩn bị ao

    – Diện tích ao: 100 – 1.000 m2, độ sâu: 1,5 – 2 m, nhiệt độ 23 – 32oC, pH từ 6 – 8.

    – Ao được cải tạo, dọn dẹp môi trường xung quanh, cống bọng chắc chắn. Bờ bao phải cao hơn đỉnh lủ cao nhất 0,5m. Dùng lưới chắn hoặc đăng tre cao 0,8 – 1m để tránh cá nhảy ra ngoài.

    b) Mật độ thả nuôi

    Mật độ nuôi trung bình 15 – 30 con/m2, không nên nuôi quá dày ảnh hưởng đến sức lớn của cá

    c) Cho ăn và quản lý chăm sóc

    – Thức ăn giống như ở nuôi cá trong giai, khẩu phần ăn 5-10 % trọng lượng cá.

    – Dùng sàn để cho cá ăn và dễ theo dõi cá. Ngày cho ăn hai lần vào buổi sáng và buổi chiều.

    – Thường xuyên kiểm tra hệ thống công trình nuôi và hoạt động của cá. Theo dõi sự biến động chất lượng nước trong ao nuôi, cần giữ nước sạch, định kỳ 2 – 3 tuần thay nước một lần. Nếu có điều kiện thì cho nước lưu thông nhẹ thường xuyên.

    Hạ mực nước ao còn khoảng 40 – 50 cm lấy lưới kéo đánh bắt dần. Khi thu hoạch toàn bộ thì phải tát cạn. Chu kỳ nuôi kéo dài ít nhất là 6 tháng, trọng lượng trung bình 0,5 – 1 kg/con.

    Theo Minh Anh, Trung tâm Khuyến Nông Quốc Gia,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cá Cầu Vồng Madagascar Đặc Điểm, Cách Chăm Sóc
  • Sinh Sản Cá Bống Tượng Ở Tp Hcm
  • Cho Sinh Sản Nhân Tạo Cá Bống Tượng
  • Kỹ Thuật Sinh Sản Cá Bống Tượng
  • Nằm Mơ Thấy Cá Đánh Số Mấy Dễ Trúng Chi Tiết Toàn Tập?
  • Kỹ Thuật Sinh Sản Cá Bống Tượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Cho Sinh Sản Nhân Tạo Cá Bống Tượng
  • Sinh Sản Cá Bống Tượng Ở Tp Hcm
  • Cá Cầu Vồng Madagascar Đặc Điểm, Cách Chăm Sóc
  • Kỹ Thuật Sinh Sản Và Nuôi Thương Phẩm Cá Lóc
  • Tìm Hiểu Cá Ranchu Sinh Sản Như Thế Nào
  • 13/04/2017 01:38

    Cá bống tượng thân hình thoi tròn, thịt dày, ngon, có giá trị kinh tế, được nuôi nhiều ở các tỉnh phía nam

    Chọn cá bố mẹ

    Ao nuôi vỗ có diện tích 500 – 1.000m2, mực nước sâu 1 – 1,2m. Cải tạo ao thật kỹ, bón vôi bột 2 – 10 kg/100m2, phơi đáy ao 3 – 5 ngày, sau đó lấy nước vào ao.

    Ao nuôi vỗ cá bố mẹ cần đảm bảo: nhiệt độ nước 28 – 310C; pH 6,5 – 8; ôxy hòa tan 3 – 4 mg/l.

    Mật độ và chăm sóc

    Cá bố mẹ thả với mật độ 0,2 – 0,3 kg/m2 ao. Nếu nuôi riêng cá đực 0,5 kg/m2; cá cái 0,2 kg/m2. Nếu nuôi vỗ chung thì tỷ lệ đực cái 1:1.

    Cá bố mẹ được thả với mật độ 0,2 – 0,3 kg/m 2 ao – Ảnh: Trần Út

    Hằng ngày cho cá ăn bằng cá vụn, cá tạp tươi sống, ốc, tép. Thức ăn cắt vừa miệng cá, cho thức ăn vào sàng để kiểm tra sức ăn của cá bố mẹ và điều chỉnh. Cứ 50m2 thì đặt 1 sàng ăn. Cho cá ăn ngày 2 lần, sáng và chiều.

    Hằng ngày kiểm tra thức ăn, chất lượng nước, định kỳ 1 tuần thay 20 – 30% lượng nước ao.

    Kiểm tra độ thành thục của cá: Khi cá đã thành thục, vuốt nhẹ gần gai sinh dục sẽ có sẹ trắng chảy ra. Cá cái có gai sinh dục lớn hơn, dài, đầu gai sinh dục tròn, có màu đỏ ửng, bụng to tròn; dùng que thăm trứng thấy trứng đều, hơi rời, kích thước 0,5 – 0,6mm là cá đã sẵn sàng đẻ trứng.

    Cho cá đẻ tự nhiên trong ao

    Ao cho cá đẻ được cải tạo và diệt tạp tốt, thả cá bố mẹ vào nuôi vỗ, mật độ nuôi 5 – 10 kg/100m2 ao.

    Đặt giá thể xuống ao (gạch tàu, mê bồ), đặt ở bào ao nghiêng 450, cách đáy ao 20cm.

    Đến nước ròng, cho nước chảy vào ao nuôi mạnh, cá kích thích tự sinh đẻ và trứng nở tự phát triển trong ao.

    Thời gian này, gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên cho cá; cho cá con ăn bằng thức ăn nhân tạo như ương cá con. Cá lớn vẫn tiếp tục cho ăn cỡ lớn vừa, cá phát dục đẻ tiếp trong ao.

    Cho thức ăn vào sàng để kiểm tra thức ăn của cá bố mẹ

    Cho cá đẻ nhân tạo

    Muốn thu được nhiều trứng phải dùng kích dục tố: Liều lượng sử dụng cho 1kg cá cái là 1 – 2mg đối với não thùy và 250 – 300 UI đối với HCG, liều lượng tiêm cho cá đực bằng 1/3 – 1/2 cá cái.

    Sau khi tiêm kích dục tố, thả cá vào ao đặt sẵn giá thể, thường sau 10 – 12 giờ tiêm thì cá đẻ.

    Thụ tinh nhân tạo và ấp trứng

    Sau khi tiêm kích dục tố, đến thời điểm cá rụng trứng, tiến hành vuốt trứng và sẹ, sau đó rải trứng lên giá thể rồi đem ương. Nếu ấp trứng bằng bình Weys thì phải khử dính trứng bằng nước dứa hoặc dung dịch tananh.

    Mật độ ấp 1.000.000 – 1.500.000 trứng/m3 nước. Nếu ấp trứng theo phương pháp nước tĩnh có sục khí thì mỗi ngày thay nước 2 lần, mỗi lần 50 – 80%. Tùy thuộc nhiệt độ và phương pháp ấp, trứng sẽ nở sau 34 – 82h. Cá nở sau 2 – 3 ngày chuyển sang bể ương.

    Ương cá bột

    Chuẩn bị ao ương: Ao ương có diện tích 200 – 500m2, nước sâu 0,8 – 1m. Ao được cải tạo kỹ (san vét bùn đáy, lấp hang hố, sạch cây cỏ…). Nước bơm vào ao cần được lọc kỹ qua lưới lọc. Nếu trong ao có cá thì cần diệt bằng dây thuốc cá 2 kg/100m3 nước.

    Đáy ao được san phẳng, thấp dần về phía cống thoát. Dùng vôi bột liều lượng 7 – 10 kg/100m2, phơi nắng ao 2 – 5 ngày. Ao ương cần đảm bảo nhiệt độ nước 28 – 300C, hàm lượng ôxy hòa tan 4 – 5 mg/l, pH 6,5 – 7,5

    Mật độ thả: Cá bột sau 3 ngày vừa hết noãn hoàng, thả với mật độ 200 – 300 con/m2.

    Chăm sóc và cho ăn

    Sau khi thả cá bột vào ao ương phải cho ăn ngay.

    10 ngày đầu cho cá ăn 5 lòng đỏ trứng gà (vịt) và 0,5kg bột đậu nành/100m2 ao trong ngày. Cho ăn 5 lần/ngày.

    15 ngày tiếp theo 6 – 8 lòng đỏ trứng và 0,6 – 0,7kg bột đậu nành/100m2/ngày. Cho ăn 4 lần/ngày.

    Từ ngày thứ 26 đến 40 (cá đạt 2 – 3cm): cho ăn trùn chỉ, cá tạp, tép, ốc xay nhuyễn. Lượng thức ăn trong ngày 0,5 – 1,5 kg/ngày/100m2 ao.

    Lưu ý: Cá sau 20 ngày tuổi có thể ăn được động vật phù du, côn trùng… Vì vậy có thể gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên.

    Kiểm tra cá: Dùng ống tre hoặc ống nhựa PVC đặt dưới ao để cá chui vào; khi muốn kiểm tra thì bịt hai đầu ống rồi đưa cá lên.

    Sau giai đoạn này có thể ương tiếp 3,5 – 4 tháng nữa, cá sẽ đạt 8 – 10cm. Từ giai đoạn này nuôi thêm 2 tháng sẽ thành cá lứa 50 – 70g/con để nuôi thành cá thịt.

    Nếu ương cá bống tượng trong bể xi măng hoặc bể bạt thì phải sục khí trong suốt quá trình ương, xiphong bể để loại bỏ chất thải, thức ăn thừa. Khi cá giống lớn, thay hằng ngày 10 – 20% lượng nước trong bể, để đảm bảo cá phát triển và phòng dịch bệnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nằm Mơ Thấy Cá Đánh Số Mấy Dễ Trúng Chi Tiết Toàn Tập?
  • Nằm Mơ Thấy Cá Lóc Nên Đánh Số Mấy? Khám Phá Ý Nghĩa Giấc Mơ
  • 1️⃣ Nằm Mơ Thấy Bắt Được Cá Lóc Đánh Con Số Mấy, Là Điềm Báo Gì? ™️ Xemweb.info
  • Nằm Mơ Thấy Cá Trê Đánh Số Mấy Và Nên Đánh Con Gì?
  • Mơ Thấy Cá Chép, Cá Trê, Cá Trắm, Cá Sấu Là Điềm Gì? Đánh Số Mấy?
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Vàng

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Mua Đất Hẻm Con Cá Vàng, Đh Lạc Hồng Cơ Sở 5, P Bửu Long Giá 30 Triệu/m2
  • 【1/2021】Mua Cá Lăng Vàng Ở Đâu Bán Tại Tphcm
  • Hướng Dẫn Cách Xử Lý Bể Cá Mới Bằng Kính An Toàn Cho Cá
  • Hướng Dẫn Cách Thả Cá Mới Vào Bể Để Cá Không Chết
  • Cá Dĩa Mới Mua Về Có Thả Vào Bể Cá Liền Được Không?
  • Bước 1: Chuẩn bị trước khi nuôi cá vàng

    – 1 hoặc 2 con cá vàng

    Một số dụng cụ và phụ kiện chuyên dụng khác

    Bước 2: Bể cá

    Mặc dù nuôi cá vàng trong bể tròn sẽ đẹp hơn nhưng nhìn chung đây không phải là loại bể cá cảnh lý tưởng. Bể cá tròn thường dễ mang đi mang lại và cọ rửa nhưng diện tích mặt nước lại quá nhỏ để có thể cung cấp đủ oxy cho cá. Sẽ tốt hơn cho cá cảnh nếu chúng được nuôi trong những bể có bề mặt phẳng. Nên lưu ý rằng cá vàng không phải là vật nuôi hoàn toàn trong nhà. Chúng sẽ khỏe mạnh hơn nếu được nuôi ở môi trường bên ngoài ví dụ như ao cá ở ngoài vườn.

    Bể cá tròn thường dễ mang đi mang lại và cọ rửa nhưng diện tích mặt nước lại quá nhỏ để có thể cung cấp đủ oxy cho cá.

    Bước 3: Cách chọn cá vàng đẹp và khỏe mạnh

    Sau khi nhận biết được thời điểm thích hợp để thả cá vào hồ, việc kế tiếp là chọn mua cá. Nhiều người cho rằng cá vàng chậm chạp, thật ra điều đó không đúng vì chúng rất linh hoạt, bơi suốt ngày và ít đứng yên nếu cá khỏe.

    Có 2 loại cá vàng

    Loại thứ nhất có thân dài là loại cá vàng phổ biến hay gặp. Ví dụ như loại cá vàng Comet hay còn gọi là cá vàng sao chổi.

    Loại thứ hai là loại có thân tròn gọi là Fancy. Cá Fancy cũng chia ra làm nhiều loại nhỏ với đặc trưng là đuôi dài, mắt lồi và đầu to hơn mình. Cá Fancy bao gồm các loại như Moors, Orandas, Ranchus, loại mắt bong bóng, cá thiên đàng, đầu sư tử và loại đuôi quạt.

    Không nên nuôi cùng lúc cả hai loại cá thân dài và cá thân tròn trong cùng 1 bể. Vì loại cá thân dài bơi nhanh hơn nên chúng sẽ chiếm hết thức ăn và khoảng không gian trong bể cá của loại cá thân tròn.

    Cách nhận biết cá khoẻ mạnh:

    – Cá phải luôn luôn linh động và nhanh nhẹn, không ở một chổ, không nằm dưới đáy hồ, không nổi đầu lên mặt nước để ngáp (do thiếu oxy, cá sắp chết).

    – Vây bơi linh hoạt, không có chỉ máu, đuôi xoè, vảy óng ánh, không bị xù hay tróc hoặc chảy máu, không bị xuất huyết.

    – Không có những chấm nâu hình oval viền trong ở ngoài, hơi đậm ở trong vì có khả năng là cá bị rận, rận cá nếu quan sát kỹ sẽ di chuyễn trên mình cá (thay đổi vị trí).

    – Cá không được nhảy dựng bất thường (có khả năng do nhiễm rận và ký sinh).

    – Môi cá không bị phù, miệng đớp nước đều đặn, thích bơi ngược dòng và không bị trôi theo dòng chảy, không lật ngược lật xuôi và bị hút dính vào máy lọc nước, khi bơi phải nằm ngang, không chổng ngược chổng xuôi.

    – Không ghẻ chóc, không nổi những bệt trắng có gồ (nhiễm nấm), mắt cá phải trong hoặc đen rõ rệt, không được đục, bể tròng.

    Lưu ý: Dù cá đẹp đến cỡ nào nếu không đạt các tiêu chuẩn trên thì đừng mua vì cá sẽ dễ chết, không sống lâu.

    Khi mua cá vàng dù gần hay xa, cũng phải nói người bán bơm oxy thật đầy, cá vàng không cần nhiều nước mà chỉ cần nhiều oxy, thậm chí nước xâm xấp lưng cá cũng không sao, trung bình cứ 1 con cá vàng thì túi đựng cá phải có từ 1-2 lít (thể tích khí) như vậy với hai con cá vàng thì ít nhất cũng phải có hai lít khí bơm vào.

    Cách cho cá vào hồ

    Không chỉ riêng đối với cá vàng mà với tất cả các loại cá cảnh khác, trong điều kiện thay đổi môi trường sống một cách đột ngột (từ chỗ bán cá về nhà, từ nơi này sang nơi khác) đều làm cho cá bị sốc dẫn đến cá không được khoẻ và dễ chết.

    Bước 1: Ngâm cả bịch cá còn cột dây thun vào hồ. Mục đích giúp nhiệt độ nước trong hồ và trong bịch cá cân bằng nhau, mặc khác giúp cá quen với khung cảnh trong hồ.

    Bước 2: Mở bịch ra và múc một ít nước từ trong hồ cho vào bịch. Tiếp tục cho thêm nước vào bịch (mỗi lần cách nhau 5 phút). Mục đích là để cá quen dần với nguồn nước mới.

    Bước 3: Từ từ nghiêng bịch để cá tự động bơi ra. Không nên trút bịch cá quá nhanh.

    Lưu ý: Sau khi thả cá vào hồ hãy quan sát hành động của chúng:

    – Nếu cá bơi lội bình thường như lúc ở tiệm thì bạn đã thành công.

    – Nếu thấy cá bơi hoảng loạn và đâm đầu vào bể hay các vật trang trí thì bạn hãy dời bể cá đến nơi không có người qua lại, không có tiếng động để chúng hồi phục lại và quen với hồ mới, nếu không chúng sẽ chết chỉ trong vài ngày.

    Bước 4: Thức ăn của cá vàng và cách cho cá ăn

    Cá vàng là loài ăn tạp nên thích hợp với nhiều loại thức ăn

    Người nuôi chủ yếu cho cá vàng thức ăn tổng hợp dễ tiêu hoá và ít bẩn nước, còn dinh dưỡng thì trùn chỉ, lăng quăng (mình thường lược trùn chỉ qua nước muối nồng độ cao trước khi cho ăn để diệt hết khả năng gây bệnh)

    Lâu lâu để một ít loại rau vào nước đến khi úng thì cá mới ăn dc, những loại trái cây mềm như bưởi, dưa hấu sầu riêng… tụi cá vàng rất thích

    Mấy lần đầu cá sẽ không ăn những món đó, phải kiên nhẫncá của bạn không bị gì đâu, nếu như cá nằm dưới đáy hồ ít cử động nghĩa là chúng đang ngủ đấy, không có gì đâu, chỉ có điều ngủ không đúng giờ giấc thôi nếu có thời gian thì khi cho ăn nhớ tắt máy lọc (vẫn để sủi khí), khoảng 30 phút sau cá ăn hết thì bật lại

    Thức ăn cho cá vàng có nhiều loại khác nhau chẳng hạn như dạng viên và dạng mảnh. Loại viên chìm chậm rất tốt cho cá cảnh vì các loại cá ở mặt bể hay đáy bể đều có thể ăn được. Chỉ nên thả lượng thức ăn cho cá ăn trong khoảng 3 phút. Bạn nên cho loại cá vàng còn nhỏ và đang phát triển ăn khoảng 2-3 lần một ngày, còn loại cá vàng lớn tuổi hơn chỉ một lần một ngày. Bạn cũng có thể bổ sung vào chế độ ăn của cá kiểng thêm giun sống và tôm (loại có sẵn từ các cửa hàng cá kiểng).

    Bước 5: Thay nước cho bể cá

    Trước khi mua cá 1 ngày, hứng nước vào thau, mực nước ước cao hơn lưng cá một tí, thêm muối 2%, sủi oxy. Giúp cá khỏi phải bơi nhiều lúc đang mệt mỏi.

    Sau khi mua cá về, thau nước để sau 12h đã đc khử hết Clo. Đặt bao cá còn nguyên tem vào thau nước. Giúp cá quen với nhiệt độ của môi trường nước mới.

    Cho vào 1/2 thuốc trong viên con nhộng Tetracylin, mua ở tiệm thuốc. Tăng sức đề kháng cho cá.

    Quan sát tình hình sau 1 ngày, nếu thấy cá khoẻ thì vớt cá vào hồ mới. Nếu không, thay một ít nước (đã để qua đêm) và tiếp tục dưỡng.

    Ngâm với thuốc tetra sẽ sinh ra nhiều bọt vàng, vớt sạch bọt trên bề mặt nước khi thấy quá dày đặt dọn bề mặt thoáng cho cá thoải mái.

    Thường cá mới mua về sẽ đi phân. Vớt hết phân sau một ngày, và không nên cho cá ăn ngay.

    Cá vàng sẽ khỏe mạnh và lớn nhanh nếu được sống trong môi trường nước an toàn. Bạn nên thay nước và làm sạch bể cá kiểng thường xuyên. Nhưng mỗi lần bạn chỉ nên thay một phần nước để cá dễ dáng thích nghi được với môi trường sống mới

    Bước 6: Cách phòng và trị bệnh cho cá vàng

    Những vật dụng , thuốc cần thiết khi chữa bệnh cho cá vàng :

    – Bể bệnh viện ( nếu có bể bé thì tốt , hoặc là cái xô , cái chậu )-(chú ý rửa sạch và dùng riêng)-(sau khi chữa bệnh cho cá xong bắt buộc phải để khô ráo , sạch sẽ)

    – Nhíp (dùng riêng, để sạch)

    – Máy sủi ô xy (loại nào cũng được)

    – Máy lọc (công suất nhỏ thôi vì ít dùng – có cũng được không có cũng chả sao)

    – Thuốc Tetracylin dạng viên nhộng ( có bán tại các hiệu thuốc tây)

    – Xanh metylen ( có bán tại các hiệu thuốc)

    – Muối hột ( loại không có i ốt)

    Như bất kì loại cá cảnh khác, cá vàng cũng dễ bị nhiễm nhiều loại bệnh. Hãy quan sát cá vàng của bạn thường xuyên để phát hiện ra bất kỳ nào thay đổi trong hành vi hay ánh mắt của chúng. Đây có thể là những dấu hiệu để phát hiện ra bệnh đốm trắng và nấm vây. Hầu hết các loại bệnh ở cá vàng đều có thể được chữa trị bằng thuốc. Khi cho thuốc vào bể cá kiểng, trước hết hãy trộn đều nó vào một ly nước rồi từ từ đổ vào bể. Đôi khi phải cách ly con cá vàng bị bệnh trong một bể cá riêng để tránh lây nhiễm sang các con cá khác.

    Mặc dù cá vàng là loại cá cảnh khá đơn giản nhưng chúng cần được chăm sóc cẩn thận và chú ý trang trí bên trong cho đẹp. Hãy tham khảo ý kiến của các cửa hàng bán cá cảnh, sách hướng dẫn hay những người nuôi cá cảnh có kinh nghiệm để được tư vấn khi cần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chăm Sóc Cá Vàng Thời Kỳ Sinh Sản
  • Nhận Biết Thời Điểm Cá Sinh Sản
  • Điều Gì Xảy Ra Khi Một Con Cá Vàng Bắt Đầu Có Màu Đen?
  • Nuôi Cá Cảnh Nhỏ Trong Bể Thủy Tinh
  • Hướng Dẫn Nuôi Cá Cảnh Trong Bình Thủy Tinh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100