Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh Nhỏ / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Psc.edu.vn

Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh

Cá cảnh là tên gọi chung cho những loại cá được nuôi để làm cảnh hoặc trang trí trong một không gian, cảnh quan nào đó. Đặc điểm chung là những loại cá để nuôi làm cảnh bao giờ cũng có vẻ đẹp trội hơn so với các loại cá chỉ để lấy thịt thông thường.

Nuôi cá cảnh trở thành thú vui chơi mới lạ và là niềm đam mê của rất nhiều người hiện nay. Làm thế nào để cá phát triển và sinh trưởng tốt là vấn đề khá đơn giản với những người nuôi lâu, tuy nhiên đối với người mới thì không dễ dàng.

Nhiều người cho rằng kỹ thuật nuôi cá cảnh rất khó, nhưng nếu một người thực sự yêu thích và có đam mê thì sẽ dễ dàng hơn. Cũng như những công việc khác, nuôi cá sẽ có những quy tắc để người nuôi nắm bắt và thực hiện theo tiêu chí đó.

– Đối với những người mới tập nuôi cá cảnh cần phải tìm hiểu nhiều loại cá cảnh khác nhau, tập quán sinh sống của mỗi loại cá và lựa chọn giống cá phù hợp với nhau để nuôi chung.

– Chọn bể cá có kích thước phù hợp với số lượng cá nuôi, loại bể cá mini hoặc bể cá để bàn có thể nuôi khoảng 2-5 con, nếu sử dụng bể to và có trang bị hệ thống lọc nước đầy đủ thì có thể nuôi khoảng 10-20 con. Kích thước quá nhỏ nhưng lại nuôi nhiều cá thì sẽ thiếu oxy, nếu bể nuôi đủ dưỡng khí cho cá. Có thể chọn bể ương di động loại nhỏ để nuôi tạo môi trường thoải mái sẽ tăng khả năng sinh trưởng phát triển cho cá cảnh.

Môi trường nước và cách thay nước nuôi cá cảnh:

Môi trường nước là yếu tố rất quan trọng khi nuôi cá, tùy từng loại nước mà người nuôi có cách xử lý sao cho phù hợp để nuôi cá cảnh.

– Nước máy có lượng clo rất lớn và chất này không tốt khi nuôi cá, vì vậy trước khi sử dụng nước máy cần tiến hành khử clo trong nước bằng cách cho nước vào xô, chậu không đậy nắp và để trong khoảng 24h.

– Nước giếng cũng không thích hợp để nuôi cá vì thường có chứa phèn, pH thấp. Phương pháp xử lý nước giếng là sử dụng hệ thống xủi oxy mạnh.

– Nhiều người nghĩ rằng nước mưa rất phù hợp để nuôi cá, tuy nhiên trong nước mưa có hàm lượng pH cực thấp, hồ nước nhanh có tảo và rêu. Có thể sử dụng phương pháp như nước giếng để khắc phục tình trạng nếu sử dụng nước mưa để nuôi cá cảnh.

Cách thay nước hồ cá cảnh :

Không nên hút nước cũ 100% và thay nước mới, ta nên hút nước cũ từ 30 – 50% và chêm nước mới vào từ từ nhẹ nhàng để cá có thể thích nghi, hạn chế tình trạng cá bị sock nước do chênh lệch pH và nhiệt độ…

Hạn chế duy chuyển cá sang hồ khác, nếu muốn duy chuyển thì nên cân bằng pH và nhiệt độ cho phù hợp để cá không bị sock cũng như stress do thay đổi môi trường sống.

Dùng ống nhựa siphon hoặc ống bơm nước nhựa bằng tay có bán ở các cửa tiệm cá cảnh và dùng ống bơm tay này hút thức ăn dư thừa, cặn bã dưới đáy hồ, sau đó cho nước mới vào.

Chế độ thức ăn:

Nên cho cá ăn vừa đủ không nên để thức ăn dư thừa tránh làm thừa nhiều thức ăn gây ảnh hưởng đến chất lượng nước bể cá của bạn.

Cá có tập tính thấy mồi là đớp, nên nhiều người tưởng cá còn đói nên cho ăn nhiều sẽ làm cá bị đầy bụng mà chết. Vì thế cho ăn 2 lần/ngày : Sáng và chiều. Nếu lỡ để cá đói vài ngày cá không chết, chứ cho ăn no quá cá chết là bình thường. Ngoài thức ăn khô, tùy loại cá mà ta nên bổ sung thêm thức ăn tươi như cá con, cá trâm, cá chép mồi…

Ánh sáng, nhiệt độ và oxi cho hồ cá:

Nhiệt độ: thích hợp cho cá cảnh từ 26 – 28 độ C. Nếu chênh lệch vài độ thì cá sống vẫn tốt. Nếu ở khu vực Miền Nam thì không cần quá quan tâm đến vấn đề nhiệt độ, nếu ở khu vực Miền Bắc và các tỉnh lân cận có khí hậu lạnh thì cần quam tâm đến việc sử dụng nhiệt kế để đo nhiệt độ nước kết hợp với cách sử dụng cây sưởi nhiệt độ hồ cá cho phù hợp.

Ánh sáng cho hồ cá: Cần đặt hồ cá nơi tháng mát, tránh ánh sáng trực tiếp, nếu để hồ cá nơi tối tăm, không thoáng khí lâu ngày dễ làm cá phát bệnh. Tùy tình huống có thể sử dụng đèn công suất nhỏ cho hồ cá với liều lượng khoảng vài giờ trên/ngày (bật ban ngày dưới 8 tiếng và tắt ban đêm cho cá nghỉ ngơi). Nếu bể cá đặt ngoài trời cần tạo bóng mát, hạn chế tác động từ nắng, mưa…

Oxi: Cần bật oxi cho hồ cá thường xuyên 24/24h, bể trên 60cm thì nên sắm thêm máy lọc nước, nuôi thời gian lâu có kinh nghiêm thì áp dụng các biện pháp máy lọc tiên tiến hơn như là chế lọc ván, lọc tràn….

GỌI NGAY – 1800 6071

ĐỂ ĐƯỢC HỖ TRỢ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN HỆ THỐNG NUÔI TÔM TRÊN AO NỔI

CÔNG TY TNHH AQUA MINA

Địa chỉ: 39 Lương Hữu Khánh, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Tp.HCM

Hotline: 1800 6071

Email: aouongdidong@gmail.com

Kỹ Thuật Nuôi Cá Chép Cảnh

Kinh nghiệm nuôi cá chép Nhật

Cá có nguồn gốc từ Nhật và có tên theo tiếng Nhật là Nishiki Koi (có nghĩa là cá chép có màu gấm).

Nét độc đáo mà cá chép Nhật thu hút các nghệ nhân và những người thưởng ngoạn cá cảnh là sự đa dạng về màu sắc, hình dạng và kiểu vẩy, vây của cá, nhất là vây đuôi. Cá sống vùng nước ngọt, có thể sống trong môi trường nước có độ mặn 6%o, hàm lượng oxy trong bể nuôi tối thiểu: 2,5 mg/l, độ pH từ 4 – 9, (thích hợp nhất: pH = 7,6), nhiệt độ nước: 20 – 270 C. Cá chép Nhật rất thích hợp và sinh trưởng tốt với điều kiện nuôi tại Việt Nam.

Là loài cá ăn tạp, cá ba ngày tuổi tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài như: bo bo và các loài động phiêu sinh khác, cũng có thể ăn lòng đỏ trứng chín. Cá được 15 ngày tuổi bắt đầu chuyển tính ăn, ăn động vật đáy, do đó giai đoạn này, tỉ lệ sống bị ảnh hưởng lớn. Trong điều kiện nuôi, chúng ta phải cung cấp thức ăn bên ngoài như trùn chỉ, loăng quăng, hoặc gây nuôi tốt các động vật phiêu sinh và động vật đáy để có thể cung cấp tốt nguồn thức ăn tự nhiên cho cá… Vai trò của nguồn thức ăn tự nhiên trong giai đoạn này quyết định tỉ lệ sống của cá. Cá khoảng một tháng tuổi trở đi ăn thức ăn giống như cá trưởng thành, ăn tạp thiên về động vật như giun, ốc, trai, ấu trùng côn trùng. Cá còn ăn phân xanh, cám, bã đậu, thóc lép và các loại thức ăn tổng hợp dưới dạng viên hoặc sợi.

Thời gian tái phát dục của cá còn tùy thuộc vào bản thân loài và điều kiện sống, mùa vụ …

Thức ăn và chế độ cho ăn:

+Thức ăn: cám có 35 – 40% đạm, bón phân gây màu định kỳ tạo nguồn thức ăn tự nhiên, lượng phân bón tùy vào màu nước, phải dùng phân chuồng đã ủ hoai.

+ Lượng thức ăn: 5 – 7% tổng trọng lượng đàn, có thể thay đổi tùy vào điều kiện khí hậu môi trường có thuận lợi hay không hoặc tùy vào sức khỏe đàn cá.

+ Cá chép Nhật tương đối dễ nuôi, việc chăm sóc cũng như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác.

+ Cải tạo ao trước khi thả giống: quy trình cải tạo ao trước khi thả giống cũng giống như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác. Tuy nhiên cần lưu ý: cá chép nói chung thích ăn mồi ở tầng đáy, chủ yếu là động vật đáy, do đó để nâng cao năng suất nuôi và hiệu quả sử dụng ao hồ cần quan tâm đến việc gây nuôi động vật đáy để làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Bón phân gây màu: phân chuồng đã ủ hoai 25 – 50 kg/100 m2 và phải bón định kỳ (tùy vào màu nước trong ao có thể bón 1 – 2 lần/tháng).

Chuẩn bị cho cá đẻ:

– Khi cá được 7 – 8 tháng tuổi là đến giai đoạn thành thục.

– Kiểm tra độ thành thục của cá bố mẹ để chọn cá cho sinh sản. Chọn cá có màu sắc và hình dạng như mong muốn và có độ thành thục tốt như sau:

+ Đối với cá cái: lật ngửa bụng cá, chọn những con bụng to, da bụng mềm đều, lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng, trứng có độ rời cao, nếu vuốt nhẹ bụng cá từ ngực trở xuống cá tiết ra vài trứng.

+ Cá đực: chọn những con có tinh dịch màu trắng sữa, kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ phần bụng gần lộ sinh dục. Tuy nhiên, không nên vuốt nhiều lần vì cá sẽ mất nhiều tinh dịch ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh.

Chuẩn bị bể đẻ và giá thể:

+ Bể đẻ là hồ xi măng, đáy bằng phẳng và không có vật nhọn. Diện tích 2,5 x 5 x 1,2 m, giăng lưới xung quanh bên trong với mục đích dễ thu gom cá bố mẹ sau khi sinh sản và tiện cho việc theo dõi cá sinh sản. Mực nước cấp vào bể đẻ ban đầu khoảng 0,5 m và phải lấy trước 2 ngày.

+ Cá chép Nhật là loài cá đẻ trứng dính trên cây cỏ thủy sinh nên giá thể là rất cần thiết. Có thể chọn bèo lục bình: vệ sinh sạch sẽ, ngắt bớt phần lá và rễ già để tạo chùm rễ thông thoáng, nên chọn phần rễ 30 cm, phần thân 20 cm là tốt nhất, ngâm vào nước muối 5% để sát trùng, loại bỏ ký sinh trùng khác.

Bố trí cho cá sinh sản:

– Phối màu: màu sắc không nên phối hợp một cách tùy tiện và theo các hướng tương đối sau:

+ Cá bố mẹ đều có màu gấm vàng hay màu gấm bạc cho sinh sản riêng và không phối sinh sản với các màu sắc khác, để có được thế hệ cá con có màu sắc chủ yếu như cá bố mẹ.

+ Cá bố mẹ tương đối có hai màu trên thân là đỏ, đen hay trắng, đen hay đỏ, trắng được cho sinh sản chung với cá có ba màu đỏ, đen, trắng.

– Mật độ, tỉ lệ đực cái tham gia sinh sản.

+ Trung bình 0,5 – 1 kg cá cái/m2 bể đẻ (khoảng 2 cá cái/m2 bể đẻ).

+ Tỉ lệ đực: cái tham gia sinh sản = 1,5/1 đến 2/1 để đảm bảo chất lượng trứng thụ tinh.

– Việc lựa chọn cá bố mẹ thường được tiến hành vào buổi sáng: 8 – 9 giờ, khi cá bố mẹ được lựa chọn phù hợp thì cá được đem lên bể đẻ, kích thích dưới ánh sáng mặt trời. Độ chiếu sáng trung bình trên hồ là 8/24 giờ. Đến xế chiều, 16 – 17 giờ cho giá thể vào và tạo dòng nước chảy nhẹ vào hồ. Bố trí hệ thống sục khí để tăng cường oxy. Việc phơi nắng và tạo dòng chảy hay tăng cường oxy là các yếu tố kích thích sự sinh sản của cá.

Hoạt động sinh sản của cá:

– Cá được đưa lên bể như trên sẽ đẻ trứng ngay vào hôm sau, khoảng 4 – 5 giờ sáng. Nếu cá chưa sinh sản thì phải bố trí lại từ đầu và tiếp tục sử dụng các yếu tố kích thích như ban đầu.

– Tương tự như cá vàng hay cá chép thường, trước khi sinh sản, có hiện tượng cá đực rượt đuổi cá cái. Dưới sự kích thích của nước mới, cá vờn đuổi nhau từ bên ngoài và chui rúc vào ổ đẻ, tốc độ vờn đuổi càng lúc càng tăng thì cá sẽ đẻ dễ dàng. Cá cái quẫy mạnh phun trứng, cá đực sẽ tiến hành thụ tinh nơi trứng vừa được tiết ra. Trong suốt quá trình sinh sản, cá đực luôn bám sát cá cái để hoàn tất quá trình sinh sản.

– Đối với trường hợp cá không sinh sản, cần vớt giá thể ra vào khoảng 9 – 10 giờ sáng hôm sau, hạ bớt một phần nước trong hồ, tiếp tục để cho cá được phơi nắng trong hồ đến xế chiều cho thêm nước mới vào để kích thích cá đẻ tiếp tục và cho giá thể vào. Tạo điều kiện môi trường như lần đầu, hôm sau cá sẽ đẻ lại.

Ấp trứng:

– Thường xuyên cho nước chảy nhẹ nhàng hoặc thay một phần lượng nước trong thau ấp bằng lượng nước đã dự trữ sẵn. Thau trứng luôn được sục khí liên tục, nhất là trứng sắp nở. Tránh sự chiếu sáng trực tiếp của ánh sáng mặt trời.

– Trứng thụ tinh sau khoảng 24 giờ sẽ thấy hai mắt đen li ti. Quá trình phát triển phôi cần lượng oxy rất cao, nhất là thời điểm trước và sau khi trứng nở, vì cơ thể cá chuyển từ trạng thái phôi bất động sang trạng thái vận động, quá trình trao đổi chất tăng. Mặt khác, các enzym được tiết để phá vỡ mối liên kết màng trứng chỉ hoạt động trong điều kiện giàu oxy, nếu thiếu oxy thì enzym bị ức chế dẫn đến tỉ lệ nở thấp.

– Trong giai đoạn cá mới nở, cá dễ chết hàng loạt nếu trên bề mặt có lớp váng. Do thiếu oxy, vì vậy phải tăng cường sục khí sau khi trứng nở.

Ương cá bột:

– Cá mới nở tự dưỡng bằng noãn hoàng trong vòng 3 ngày.

– Cá từ 3 ngày tuổi cá ăn phiêu sinh, bột đậu nành pha loãng trong nước. Sau giai đoạn này một số cá sẽ trổ màu nhưng chưa rõ nét.

– Sau 7 – 10 ngày có thể thả cá ra ao. Ao đã được chuẩn bị sẵn và được gây màu thật tốt (bón phân gây màu như đã được trình bày trong phần chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ). Nguồn thức ăn tự nhiên trong ao lúc này đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tỉ lệ sống của cá bột phụ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên này. Ao ương cá bột cần quản lý khắt khe nguồn cá tạp (diệt tạp trước khi thả cá bột, quản lý chặt chẽ nguồn nước ra vào ao thông qua cống, các hang mọi, trời mưa, nước tràn bờ,…).

– Sau khi thả ra ao vài ngày có thể cho cá tập ăn cám hỗn hợp, tăng dần lượng thức ăn.

– Việc chăm sóc trong giai đoạn ương quan trọng nhất là theo dõi và quản lý màu nước. Luôn giữ nước có màu xanh lá non, ao luôn được thông thoáng, mặt ao có gió lùa. Tùy điều kiện có thể thay nước 2 – 3 lần/tháng.

– Để phòng bệnh cho cá cần tuân thủ đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật từ quá trình chuẩn bị ao, bể đẻ, nuôi vỗ cá bố mẹ,… đến khâu quản lý ao ương cá con.

– Khi cá được khoảng 4 – 5 tháng tuổi, bắt đầu phát triển kỳ, vây theo kiểu dáng, màu sắc đặc trưng của cá là có thể thu hoạch để bán.

(St)

Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh Cơ Bản

Lưu ý đến vấn đề nguồn nước để nuôi cá chính là yếu tố quan trọng hàng đầu bạn cần lưu ý.

– Nuôi cá bằng nước máy: Hầu hết nước cho bể cá hiện nay đều là nước máy. Do vậy, bạn cần xử lý chất Clo rồi mới dùng để nuôi cá. Bạn để nước máy trong các thau, chậu, bồn không có nắp đậy trên 24h, để cho nước máy tự bốc hơi clo. Để hiệu quả cao và nhanh chóng hơn thì có thể đặt các dụng cụ chứa nước này ở nơi thoáng có nhiều ánh nắng và bật thêm máy xủi oxy. Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng dung dịch khử clo trong nước máy bán tại các cửa hàng cá cảnh. Bạn nhỏ khoảng 5 giọt cho 20 lít nước, sau 5 phút là có thể dùng để nuôi cá. Tuy nhiên nên hạn lạm dụng, chỉ áp dụng lúc bạn cần nước gấp, hoặc không có thời gian trữ nước đã khử clo.

– Nước giếng nuôi cá: Nước giếng thường có PH thấp cỡ 4,5, cũng như hàm lượng oxi ít, thậm chí 1 số vùng có nước giếng bị nhiễm phèn nặng thì cần phải xử lý kỹ hơn. Để xử lý nước giếng nuôi cá, bạn chứa nước giếng trong các bể chứa, kết hợp xủi oxy thật mạnh để tăng hàm lượng oxi và tăng pH. Có thể cho thêm san hô vụn vào hộp lọc để tăng độ pH.

+ Xử lý nước giếng bị nhiễm phèn: Ngoài việc xử lý như trên cần bỏ than hoạt tính vào bồn chứa nước. Trung bình số lượng than chiếm 1/3 thể tích bồn chứa nước.

– Nuôi cá cảnh bằng nước mưa: Nước mưa mát sẽ kích thích cá bơi lội trong mùa hè, tuy nhiên nước mưa có độ pH thấp nên cần xử lý như nước giếng và thêm các yếu tố khác. Tuy nhiên vì nước mưa làm cho hồ cá nhanh có tảo rêu nên bạn hạn chế sử dụng.

Xử lý thật sạch nguồn nước trước khi nuôi là yêu cầu quan trọng nhất

2. Cách cho cá cảnh ăn

Cần phải lưu ý cho ăn với liều lượng vừa đủ, tránh dư thừa thức ăn sẽ làm đục nước cũng như phát sinh mầm bệnh. Cá có tập tính thấy mồi là đớp, nên nhiều người tưởng cá còn đói nên cho ăn nhiều sẽ làm cá bị đầy bụng mà chết. Vì thế cho ăn 2 lần/ngày vào sáng và chiều. Ngoài thức ăn khô, tùy loại cá mà ta nên bổ sung thêm thức ăn tươi như cá con, cá trâm, cá chép mồi…

3. Ánh sáng, nhiệt độ và oxi cho hồ cá

– Nhiệt độ thích hợp cho cá cảnh từ 26 – 28 độ C. Nếu chênh lệch vài độ thì cá sống vẫn tốt. Nếu bạn ở khu vực Miền Nam thì không cần quá quan tâm đến vấn đề nhiệt độ, nếu ở khu vực Miền Bắc và các tỉnh lân cận có khí hậu lạnh thì cần quan tâm đến việc sử dụng nhiệt kế để đo nhiệt độ nước kết hợp với cách sử dụng cây sưởi nhiệt độ hồ cá cho phù hợp.

– Ánh sáng cho hồ cá: cần đặt hồ cá nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp vì nếu để hồ cá nơi tối tăm, không thoáng khí lâu ngày dễ làm cá phát bệnh. Tùy tình huống có thể sử dụng đèn công suất nhỏ cho hồ cá với liều lượng khoảng vài giờ trên/ngày (Bật ban ngày dưới 8 tiếng và tắt ban đêm cho cá nghỉ ngơi). Nếu bể cá đặt ngoài trời cần tạo bóng mát, hạn chế tác động từ nắng, mưa…

– Cần bật oxi cho hồ cá thường xuyên 24/24h, bể trên 60cm thì nên sắm thêm máy lọc nước, nuôi thời gian lâu có kinh nghiêm thì áp dụng các biện pháp máy lọc tiên tiến hơn như là chế lọc ván, lọc tràn….

4. Kích thước hồ cá

– Cần phải đủ rộng và thoáng, mật độ cá thả vừa phải. Nếu mật độ cá đông sẽ làm hồ cá thiếu oxi, nước nhanh đục và bẫn

– Các loài cá có tập tính cắn rỉa vây cá khác ở mức nghiêm trọng thì cần có chế độ tách nuôi riêng cho phù hợp

– Nuôi cá trong bể thủy tinh, chậu thủy tinh sẽ làm cá thiếu oxi, nước nhanh bẩn, nên cá chết. Vì vậy các chậu thủy tinh chỉ nuôi vài con loài cá nhỏ như cá bống, cá betta…

5. Cách thay nước hồ cá

Với công đoạn xử lý nước, bạn cần chú ý:

– Không nên hút nước cũ 100% và thay nước mới, ta nên hút nước cũ từ 30 – 50% và chêm nước mới vào từ từ nhẹ nhàng để cá có thể thích nghi, hạn chế tình trạng cá bị sock nước do chênh lệch pH và nhiệt độ…

– Hạn chế duy chuyển cá sang hồ khác, nếu muốn duy chuyển thì nên cân bằng pH và nhiệt độ cho phù hợp để cá không bị sock cũng như stress do thay đổi môi trường sống.

– Dùng ống nhựa xiphong hoặc ống bơm nước nhựa bằng tay có bán ở các cửa tiệm cá cảnh và dùng ống bơm tay này hút thức ăn dư thừa, cặn bã dưới đáy hồ, sau đó cho nước mới vào.

6. Chọn cá cảnh nuôi chung với nhau

Nếu bể cộng đồng nuôi chung các loài cá thì cần chú ý lựa chọn các loài cá hiền lành có thể nuôi chung với nhau. Tránh các loài cá có tập tính cắn rỉa vây cá khác. Một số loài cá khá hiền như: cá sặc gấm, cá mã giáp…

7. Cách thả cá vào hồ

Để tránh tình trạng cá bị sock nước dẫn đến chết thì cá mới mua về cần ngâm bịch cá trong hồ khoảng 15 đến 20 phút. sau đó mới mở miệng túi ra và múc 1 ca nước từ trong hồ vào túi cá.

Sau đó hạ miệng túi xuống, tay mở miệng túi to ra, tay kia kéo từ từ đáy túi lên, để cá trôi ra khỏi túi. Tuyệt đối không đổ liền 1 lúc.

Kỹ Thuật Nuôi Cá Cảnh Không Cần Oxi

Đã là bình thủy sinh nhỏ thì chắc chắn rất khó để lắp hệ thống máy sủi oxy, vì thế lựa chọn loại cá thích hợp và mật độ cá thể trong bình là điều quan tâm hàng đầu. Chỉ nên chọn những loại cá khỏe mạnh, có khả năng chống chọi tốt với môi trường nghèo oxy.

Còn về mật độ nuôi, vì bình thủy sinh nhỏ nên chỉ nên nuôi từ 1-2 cá thể thôi, như vậy sẽ tốt nhất.

Cách thay nước

Trước đây tôi cũng đã từng chia sẽ về cách thay nước cho cá trong hồ thủy sinh, và trong bình thủy sinh mini cũng giống như vậy thôi, nhưng vì bình mini nên nước rất nhanh bẩn, vì thế có thể thay nhiều hơn hồ thủy sinh, 1 tuần vài lần cũng được.

Lưu ý quan trọng nhất khi thay nước nuôi cá ở bất cứ hồ nào là không nên thay 100% nước mới cho cá, mà chỉ nên thay khoảng 1/3 lượng nước cũ đi thôi, để tránh cá bị sock nước, dễ chết!

Các loại cá cảnh đẹp được nuôi trong bình thủy sinh mini

Cá betta, không cần sủi bọt oxy, thay nước 1 lần/tuần, cho ăn ít (để tránh cá ăn không hết, thành thừa, nước nhanh bị bẩn), và cũng rất dễ nuôi.

Một số lưu ý khác

Nếu bạn muốn rải sỏi cho sạch và đẹp bình thì nên chọn các loại sỏi rất nhỏ và rải vừa phải thôi, một lớp mỏng để tránh làm mất diện tích hồ.

Nếu muốn sử dụng máy bơm oxy thì chọn loại có công suất nhỏ nhất, và bật từ 1-2 tiếng trong ngày, vì nếu công suất lớn và bật nhiều, cá sẽ bị mệt, dễ chết và có thể làm tóe nước ra ngoài.

Trong bể cá mini thì nên cho cá ăn các loại côn trùng như trùng chỉ hoặc lăng quăng là tốt nhất, vì chúng còn sống, bơi lại trong nước, và cá có thể ăn bất cứ lúc nào, còn như thức ăn khô, cá ăn không hết, để lâu sẽ mất chất và mùi vị, cá cảnh sẽ không ăn nữa và làm bẩn bể thủy sinh.