Cá Kèo Thương Phẩm Tăng Giá Mạnh

--- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Kèo Thương Phẩm
  • Khô Cá Chỉ Vàng Hay Còn Gọi Là Cá Ngân Chỉ Là Loại Cá Biển, Là Loài Cá Nổi Sống Ven Bờ. Thân Cá Có Hình Thoi, Dẹp Hai Bên, Dọc Thân Cá Có Một Sọc Vàng Chạy Dài Từ Đuôi Mắt Tới Đuôi. Cá Chỉ Vàng Sống Thành Đàn.
  • Khô Cá Chỉ Vàng Loại Ngon Cà Mau
  • Nhập Nhèm Thị Trường Cá Khô Nỗi Lo Của Người Tiêu Dùng
  • Cập Nhật Giá Cá Khô Tháng 9/2020
  • Khoảng một tháng trở lại đây, giá cá kèo thương phẩm tại Bạc Liêu tăng mạnh và đang giữ giá ổn định.

    Hiện nguồn cung thiếu khiến giá cá kèo có chiều hướng tăng. Người dân cũng đang có xu hướng chuyển sang nuôi cá kèo, trước áp lực tôm rớt giá kéo dài.

    Nhiểu thương lái cho biết, hiện loại cá kèo hơn 100 con/kg, giá mua tại ao khoảng 100.000 đồng/kg, loại 40- 50 con/kg, có giá khoảng 140.000 đồng/kg, tăng gần gấp đôi so với trước đó. Mặc dù giá cá kèo đang đứng ở mức cao, nhưng nguồn cung không đủ cầu, khiến thị trường khan hiếm hàng, nhiều khả năng giá sẽ còn tăng trong những ngày tới.

    Cũng theo các thương lái, giá cá kèo tăng mạnh trong thời gian gần đây do nhu cầu xuất khẩu tăng mạnh. Ngoài nguồn cung cá kèo sống xuất bán ra ngoài tỉnh, các doanh nghiệp, công ty đẩy mạnh mua hàng chế biến xuất bán ra nước ngoài.

    Theo các địa phương, trước giá cá kèo tăng mạnh gần đây, ngoài diện tích làm muối trước đây nay đã chuyển sang nuôi cá kèo, người nuôi tôm cũng có xu hướng chuyển sang nuôi con này. Bởi theo người dân, với giá hiện tại nuôi cá kèo cho hiệu quả kinh tế cao hơn con tôm, trong khi giá tôm nguyên liệu rớt giá xuống thấp trong nhiều tháng qua, sản xuất thua lỗ.

    Tuy nhiên, theo khuyến cáo ngành chức năng tỉnh Bạc Liêu, người dân hết sức thận trọng, không nên chuyển sang nuôi cá kèo quá ồ ạt. Khi sản xuất phải đảm bảo điều kiện về cơ sở hạ tầng, nguồn nước, nằm trong vùng quy hoạch, nắm chắc khoa học kỹ thuật, hạn chế rủi ro về dịch bệnh, giá cả…

    Bên cạnh đó, vấn đề con giống cũng cần quan tâm, bởi hiện nay cá kèo giống chưa có quy trình lai giống nhân tạo, vì vậy người nuôi phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn giống khai thác từ thiên nhiên. Khi phát triển nuôi ồ ạt, đẩy giá cá giống tăng cao, chất lượng con giống không đảm bảo, rủi ro khi nuôi rất cao…

    Theo ngành nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu, những năm trước đây giá cá kèo thương phẩm ổn định, diện tích nuôi cá kèo của tỉnh này đạt khoảng 400 ha. Nhưng, do nhiều năm qua, giá cá kèo bấp bênh, diện tích nuôi con này cũng giảm theo, hiện còn khoảng 100 ha, nhưng người nuôi cũng không mấy mặn mà, họ chỉ nuôi một vài vụ trong năm, chủ yếu lựa vào thời điểm thị trường tiêu thụ mạnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cá Chạch Kho Làng Vũ Đại
  • Cá Kèo Sống Loại 1Siêu Thị Thực Phẩm Online
  • Cá Kèo Sống Giá Bao Nhiêu Tiền 1 Kg? Mua Ở Đâu Giá Rẻ?
  • Cá Kèo Sống Ở Đâu Giá Bao Nhiêu Tiền 1Kg
  • 【4/2021】Cá Kèo Sống Mua Ở Đâu Giá Rẻ, Giao Hàng Tận Nơi【Xem 556,083】
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Kèo Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Khô Cá Chỉ Vàng Hay Còn Gọi Là Cá Ngân Chỉ Là Loại Cá Biển, Là Loài Cá Nổi Sống Ven Bờ. Thân Cá Có Hình Thoi, Dẹp Hai Bên, Dọc Thân Cá Có Một Sọc Vàng Chạy Dài Từ Đuôi Mắt Tới Đuôi. Cá Chỉ Vàng Sống Thành Đàn.
  • Khô Cá Chỉ Vàng Loại Ngon Cà Mau
  • Nhập Nhèm Thị Trường Cá Khô Nỗi Lo Của Người Tiêu Dùng
  • Cập Nhật Giá Cá Khô Tháng 9/2020
  • 【Cập Nhật 2022】Khô Cá Chỉ Vàng Bao Nhiêu Tiền 1Kg Và Cách Nhận Biết Cá Chỉ Vàng Chất Lượng
  • Ao nuôi cá kèo cũng giống như ao nuôi các loài cá khác, là những ao đất thông thường. Ở vùng ven biển có thể sử dụng ao nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh hoặc ao nuôi quảng canh để nuôi luân canh cá kèo. Vùng làm muối có thể luân canh nuôi cá kèo trong ruộng muối vào mùa mưa khi nước bị giảm độ mặn không sản xuất được muốỉ.

    Cần lựa chọn ao có diện tích hợp lý để nuôi cá kèo. Ao có diện tích quá nhỏ thì việc đầu tư không lớn nhưng hiệu quả kinh tế không cao. Nếu ao quá lớn sẽ phải đầu tư lớn và cũng khó khăn trong công tác quản lý môi trường ao nuôi, chăm sóc cá nuôi và nhất là khó khăn khi thu hoạch. Từ những kinh nghiệm thực tế nuôi cá kèo ở các địa phương cho thấy, ao nuôi có diện tích từ 1.000 – 2.000 m2 là thích hợp nhất.

    Trước khi tiến hành thả cá giống nuôi, phải chuẩn bị và cải tạo lại ao thật kỹ, bao gồm các khâu sau đây:

    – Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ như cá chẽm, cá nâu, cá rô phi và tất cả các loài cá và địch hại khác. Nên dùng rễ cây thuốc cá ( Derris elliptica Benth) để diệt tạp, với liều lượng 1 kg rễ tươi cho 100 m3 nước ao. Theo Bùi Quang Tề, dây thuốc cá có hoạt chất chính là Rotenon (hay Tubotoxin; Derris), chất này có tác dụng độc đối với động vật máu lạnh, rất độc với cá nhưng không độc với người và các loài giáp xác (như tôm, cua) Để nước trong ao còn độ sâu 8-10 cm và tính toán thể tích nước có trong ao, rễ cây thuốc cá đập dập, ngâm trong nước từ 5-6 giờ rồi vắt lấy nước, hòa loãng, sau đó té đều khắp mặt ao. Tất cả cá sẽ chết hết và vớt đi rồi tháo hết nước hoặc bơm cạn ao để phơi đáy.

    – Cày hoặc xới đáy ao một lớp đất mỏng (5-7 cm) để đáy ao thoáng khí, tạo điều kiện cho sinh vật trong đáy ao phát triển để có nguồn thức ăn tự nhiên cho cá.

    – Bón lót cho ao bằng phân hữu cơ (ủ mục, hoai) liều lượng 20 – 30 kg/100 m2 ao.

    – Rải vôi bột xuống đáy ao để hạ phèn, diệt tạp, diệt các mầm bệnh, lượng dùng 8-12 kg/100 m2, sau đó có thể xới đảo bùn đáy để hòa trộn vôi và phân hữu cơ.

    – Phơi đáy từ 2 – 3 ngày. Những ao ở vùng bị nhiễm phèn thì không nên phơi đáy ao.

    Những ao đã nuôi tôm sú trước đó thì không cần bón lót phân hữu cơ, chỉ nên diệt tạp và cá dữ bằng rễ cây thuốc cá, rải vôi để diệt tạp, hạ phèn và diệt mầm bệnh trong đáy ao.

    – Lấy nước vào ao qua lưới chắn lọc để tránh địch hại và cá dữ, cá tạp lọt vào ao ăn hại cá và tranh giành thức ăn với cá nuôi. Khi mức nước đạt khoảng 0,3 – 0,4 m thì có thể thả cá giông. Những ngày sau đó tăng dần mức nưóc ao cho đến khi đạt theo yêu cầu

    Mùa vụ nuôi

    Hiện nay các địa phương đang nuôi cá kèo thường dựa vào điều kiện ao và mùa vụ xuất hiện giống tự nhiên để tiến hành vụ nuôi. Giống tự nhiên thường bắt đầu có từ tháng 4 – 5 kéo dài đến tháng 8 – 9. Tuy vậy ngư dân vẫn khai thác cá giống tự nhiên gần như quanh năm và kích cỡ cá giống cũng lớn nhỏ không đều ở các tháng ngoài vụ giống chính. Mùa vụ nuôi cá kèo từ tháng 4-5 khi bắt đầu có con giống tự nhiên. Ngoài ra người nuôi còn sử dụng ao nuôi tôm để nuôi cá kèo sau khi nuôi tôm vụ 1 (vào tháng 7-8).

    Kinh nghiệm ở một số địa phương cho thấy nếu nuôi sớm vào tháng 4-5 thì cá phát triển tốt, nhất là các tháng đầu tiên điều kiện môi trường thuận lợi cho cá do nhiệt độ cao nhưng không biến động nhiều, chưa có mưa nhiều nên độ mặn và các yếu tố của nước ít biến động. Nếu nuôi vào các tháng 7-8, thời tiết và môi trường có nhiều biến động do mưa lớn, độ mặn giảm, nhiệt độ thường thay đổi và chênh lệch lớn và nhất là vào các tháng cuối năm nhiệt độ hạ thấp nên ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cá. Ớ một số vùng ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long vào cuối mùa mưa, độ mặn ỏ các ao nuôi có khi xuống rất thấp, thậm chí gần như nước ngọt hoàn toàn. Vào những thời điểm này cá rất dễ bị nhiễm bệnh và chết, dẫn đến tình trạng hao hụt số lượng cá và tỷ lệ sống thấp khi thu hoạch.

    Kích cỡ và mật độ thả giống nuôi Kích cỡ cá giống

    Nên chọn cá giống cỡ 3 – 5 cm hoặc 4 – 6 cm, cá giống ương nuôi trong ao là tốt nhất vì sẽ có kích cỡ đồng đều hơn, khỏe hơn vì đã thích nghi với điều kiện trong ao. Chọn cá khỏe mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không bị nhiễm bệnh, màu sắc tươi sáng, có nhiều nhớt.

    Kinh nghiệm ở nhiều người nuôi nếu thả con giống còn quá nhỏ không qua ương nuôi thì tỷ lệ hao hụt rất lớn, có khi tới 60 – 70%, do cá yếu và chưa thích nghi với điều kiện môi trường mới trong ao nuôi. Ngoài ra tỷ lệ lẫn giống tạp khác còn cao do quá trình ép lọc vẫn chưa loại bỏ hết, nên có tình trạng cá tạp tranh dành thức ăn của cá nuôi, làm giảm hiệu quả nuôi

    Mật độ thả nuôi

    Tùy theo điều kiện ao, khả năng quản lý chăm sóc và cỡ cá, có thể thả nuôi với mật độ 30 – 60 con/m2, trung bình 50 con/m2. Nếu cỡ cá nhỏ (3 cm) nên thả mật độ cao hơn so với cỡ cá lớn (5-6 cm) để trừ hao hụt trong khi nuôi. Nếu điều kiện quản lý và kiểm soát chất lượng nước chủ động, có thể tăng mật độ nuôi lên cao hơn 60 con/m2, Một số hộ nuôi bống kèo còn có kinh nghiệm thả với mật độ ban đầu rất cao (hơn 100 con/m2), sau hai tháng nuôi thì san thưa với mật độ 50 con/m2. Tuy nhiên biện pháp thả dày rồi san thưa chỉ nên áp dụng với những hộ có các ao nuôi gần nhau để chuyển cá nhanh chóng, tránh được hao hụt trong khi đánh bắt, vận chuyển và san thưa cá.

    Chăm sóc và quản lý ao nuôi Thức ăn cho cá

    Cá kèo có tính ăn tạp, ngoài thức ăn tự nhiên có trong ao như phù du động thực vật, sinh vật đáy, rong tảo sống bám, mùn bã hữu cơ… cá còn ăn được các thức ăn do con ngưòi cung cấp như thức ăn chế biến và thức ăn viên công nghiệp.

    Để duy trì thức ăn tự nhiên, phải định kỳ bón thêm phân hữu cơ đã ủ hoai 10-15 kg/100m2/tuần hoặc 100 – 150 gam phân vô cơ (DAP, NPK)/tuần. Thức ăn chế biến gồm cám gạo (60 – 70%) và bột cá (30 – 40%) được trộn đều và nấu chín, trộn thêm pmix khoáng và vitamin A,D,E,C (tổng cộng 0,2 – 0,3% tổng trọng lượng thức ăn). Hàm lượng đạm trong thức ăn dao động từ 25% ở 2 tháng đầu, sau đó giảm dần xuống 22% rồi 20% ở tháng thứ 3, 4 và 18% cho hai tháng cuối. Khẩu phần ăn 4-6% trọng lượng thân/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, cho ăn vào buổi sáng và chiều lúc trời mát.

    Cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp cần phải chọn loại kích cỡ thức ăn phù hợp với độ lớn và kích thước miệng để cá có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả nhất. Hàm lượng đạm trong thức ăn cũng dao động từ 18 – 25%, giảm dần theo tháng tuổi của cá. Khẩu phần ăn thức ăn viên công nghiệp từ 1 – 1,5% trọng lượng thân/ngày và cho cá ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát.

    Ngoài ra trong thời gian nuôi, thức ăn nên có bổ sung thêm một số loại men tiêu hóa nhằm kích thích cho cá ăn ngon và tiêu hóa thức ăn tốt hơn, tránh được hiện tượng cá bị chướng bụng, đầy hơi.

    Quản lý ao nuôi a- Quản lý chất lượng nước

    Nước ao cần được chủ động điều chỉnh tăng cao hoặc giảm thấp phù hợp với các giai đoạn phát triển của cá nuôi. Giai đoạn hai tuần đầu mới thả cá giống, mức nước ao cần đạt 0,4 – 0,5 m, sau đó tiếp tục dâng từ từ, mỗi tuần cao hơn 0,2 m cho đến khi mức nước đạt tối đa.

    Theo dõi mực nước hàng ngày, kiểm tra các yếu tố hóa lý của nước ao như nhiệt độ nước, pH, độ trong, độ mặn. Kiểm tra bờ và cống ao đề phòng bờ bị lỗ rò rỉ do cua còng đào hang, lưới chắn bị thủng do bị mục hoặc cua còng kẹp làm rách lưới. Vào mùa mưa, độ mặn nguồn nước cấp và nước trong ao có xu hướng giảm dần, chú ý độ mặn của nước cấp cho ao phải tương đương hoặc không quá chênh lệch với độ mặn của nước trong ao để tránh cá bị sốc. Độ mặn của nước ao nuôi cá bống kèo, dù vào mùa mưa cũng không nên để quá thấp dưới 3%o. Định kỳ mỗi tuần thay nước 1 lần, mỗi lần khoảng 30% lượng nước ao. Nếu nước ao bị nhiễm bẩn, màu nước xanh quá đậm hoặc chuyển màu nâu, có mùi hôi thì cần phải thay ngay nước mái trong sạch.

    Hình 7. Chài kiểm tra cá nuôi

    b- Phòng trừ địch hại

    Có nhiều loài địch hại săn bắt và ăn hại cá bống kèo như chim cồng cộc, rắn nước biển (con đẻn), cá nâu, cá rô phi, cá bống mọi, bống cát… Chim cồng cộc và rắn đẻn có thể lặn trong ao săn cá và ăn hại cá đáng kể, cá nâu cũng bắt ăn thịt cá bống kèo; cá rô phi bắt ăn cá kèo nhỏ và dành thức ăn của cá nuôi; cá bống mọi, bống cát cũng dành thức ăn của cá bống kèo.

    Để phòng trừ địch hại, khâu quan trọng khi cải tạo ao là phải tìm diệt hết mọi cá tạp cá dữ, khi lấy nước vào ao lúc cấp nước lần đầu hoặc các lần thay nước định kỳ, phải chắn lọc kỹ, không để cá nâu và rô phi, bống mọi, bống cát nhỏ lọt vào ao qua đường cấp nước. Đối với chim cồng cộc, nên đặt các bù nhìn trên bờ ao hoặc treo dây ngang dọc trên mặt ao có gắn các ống bơ (lon) sữa bò nhằm tạo ra tiếng kêu để xua đuổi chim. Có thể dùng ná (giàng thun) để bắn chim và đuổi chim cũng có hiệu quả.

    Ngoài ra, để bắt các loài cá bống cát. bống mọi, có thể điều tiết mực nước trong ao (dâng cao sau đó hạ thấp 5-10 cm) khi đó các loại cá bống mọi, bống cát có thể nằm lại ở phần mái bờ khi nước đã rút và dùng vợt thu gom.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cá Kèo Thương Phẩm Tăng Giá Mạnh
  • Cá Chạch Kho Làng Vũ Đại
  • Cá Kèo Sống Loại 1Siêu Thị Thực Phẩm Online
  • Cá Kèo Sống Giá Bao Nhiêu Tiền 1 Kg? Mua Ở Đâu Giá Rẻ?
  • Cá Kèo Sống Ở Đâu Giá Bao Nhiêu Tiền 1Kg
  • Nuôi Cá Lóc Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cá Lăng Hấp: 3 Món Cá Lăng Hấp Tuyệt Ngon Cho Ngày Se Lạnh
  • Loại Cá Cạnh Tranh Với Cá Tra
  • Fillet – The Alaska Guys Vietnam
  • Tim Hiểu Ăn Cá Mặt Quỷ Có Độc Hay Không?
  • 【7/2021】Cá Nục Giá Bao Nhiêu Tiền 1 Kg? Mua Ở Đâu Giá Rẻ?【Xem 536,877】
  • Đặc điểm sinh học

    Cá lóc thích sống vùng nước đục, nhiều rong cỏ. Có thể sống ở các khu vực nước chảy hay các ao tù do có cơ quan hô hấp phụ. Đây là loài cá dữ, ăn động vật như: cá, tôm, nòng nọc, côn trùng… Cá lóc có thể đẻ 5 lần/năm khi đạt 1 – 2 tuổi. Mùa vụ sinh sản từ tháng 4 – 8 nhưng tập trung vào tháng 4 – 5.

     

    Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất

    Chọn ao và chuẩn bị ao nuôi

    • Diện tích trung bình từ 500m2 – 1000m2
    • Độ sâu mực nước từ 1,2m – 1,5m. Đáy ao nghiêng về cống thoát nước để đảm bảo thoát hết nước trong ao
    • Bờ ao chắc chắn, không rò rỉ. Đỉnh bờ ao cao hơn mực nước từ 0,5m – 0,7m. Xung quanh ao có lưới bao cao khoảng 0,5m. Có hệ thống cấp và thoát nước
    • Tát cạn ao, vét bùn đáy, diệt cá tạp. Xử lý vôi CaCO3 từ 7 – 10kg/100m2. Phơi ao từ 2 – 3 ngày
    • Cấp nước vào ao qua lưới lọc, diệt khuẩn môi trường nước, bón phân gây màu nước. Sau 3 – 5 ngày khi nước có màu xanh đọt chuối thì thả giống.

    Thả cá giống

    • Chọn cá giống khỏe, kích cỡ đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn, không dị tật hay xây xát
    • Kích cỡ cá thả từ 300 – 1.000 con/kg. Mật độ thả 10 – 20 con/m2, có thể thả mật độ cao 30 con/m2. Trong khi vận chuyển, cần hạ thấp nhiệt độ để hạn chế tỉ lệ hao hụt
    • Trước khi thả cần xử lý muối ăn NaCl 2% (2kg muối ăn/100 lít nước) trong 2 – 3 phút để diệt ký sinh, sát khuẩn cá và loại bỏ cá yếu, cá bị xây xát. Để bao cá xuống nước ao từ 15 – 20 phút mới thả cá ra bên ngoài nhằm để cá thích nghi dần nhiệt độ. Thả cá vào buổi sáng hay chiều mát.

     Chăm sóc và quản lý ao nuôi

    Có rất nhiều loại thức ăn cho các lóc mà người nuôi có thể sử dụng, tùy vào từng giai đoạn phát triển của cá mà lựa chọn loại thức ăn phù hợp.  

    • Thức ăn tươi sống: cá biển, cá tạp, tôm, tép, cua, ốc…
    • Thức ăn chế biến hay còn gọi là thức ăn công nghiệp có bán trên thị trường với nhiều kích cỡ và chủng loại. Ví dụ như thức ăn dành cho cá lóc 9001 của tập đoàn De Heus
    • Cho cá ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát. Khẩu phần như sau:
    • Cá < 10g: cho ăn từ 10 – 12% khối lượng thân
    • Cá từ 11 – 100g: cho ăn 5 – 10% khối lượng thân
    • Khẩu phần ăn còn phụ thuộc vào từng thời điểm, điều kiện môi trường, thời tiết và tình hình dịch bệnh
    • Thường xuyên kiểm tra sức khỏe của cá, theo dõi nhu cầu thức ăn tránh cho ăn quá nhiều hay quá ít. Thay nước hàng ngày khoảng 30% đối với cá lớn, cá nhỏ sau 2 – 3 ngày thì thay nước 1 lần
    • Định kỳ bổ sung các loại vitamin, khoáng, men tiêu hóa 10 – 15 ngày/lần nhằm tăng sức đề kháng với mầm bệnh, giảm stress, hấp thu thức ăn tốt hơn và đồng cỡ hơn. Sát khuẩn môi trường nước thường xuyên 7 – 10 ngày/lần trong mùa có dịch bệnh hay từ 12 – 15 ngày/lần trong điều kiện bình thường.

    Thu hoạch

    Sau 4 – 5 tháng nuôi cá đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 500 – 800g.

    Kỹ thuật nuôi cá lóc trên bể lót bạt

    Mô hình nuôi cá lóc trên bể lót bạt giống với nuôi cá lóc trong ao đất nhưng có vài đặc điểm khác như sau:

    • Vị trí đặt bể: gần sông, ao, hồ… nơi thuận tiện cho việc thay nước
    • Chi phí lắp bể thấp, dễ làm, tận dụng những nơi trống xung quanh nhà và có thể chuyển đổi qua nuôi các đối tượng khác. Bể xây dựng theo hình chữ nhật, cao 1,2m. Dùng các cây trụ cắm xung quanh, rào bằng bố tre hay đắp đất xung quanh. Trải bạt dưới đáy, rào lưới quanh bể tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nghiêng về phía thoát nước, đặt cống thoát sát đáy bể nhằm xả hết chất bẩn và có lưới lọc để tránh cá thất thoát. Mực nước trong bể từ 0,8m – 1m. Có máy bơm nước để việc cấp nước được dễ dàng và nhanh chóng hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • 【7/2021】Cá Giò Sống Giá Bao Nhiêu Tiền 1 Kg? Mua Ở Đâu Giá Rẻ?【Xem 445,401】
  • Cá Dọn Bể Ăn Gì? Lưu Ý Về Thức Ăn Cá Dọn Bể
  • Bộ Máy Lọc Tự Nhiên Giúp Cho Bể Thủy Sinh Luôn Sạch Sẽ
  • Cá Tép Thầu Dầu Chiên Giòn
  • Cá Cược Thể Thao Tốt Nhất, Mẹo Cược Luôn Thắng
  • Nuôi Cá Rô Đồng Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nuôi Cá Rô Đồng, Chàng Trai Thu Lãi 400 Triệu Đồng/năm
  • Canh Cá Quỳnh Côi Thái Bình
  • Chồng Thèm Ăn Canh Cá Rô Nấu Rau Cải, Vợ Tức Tốc Nấu Như Này, Bạn Có Dám Ăn Không?
  • Cá Rô Đồng Dùng Để Chữa Bệnh
  • Top 8 Địa Chỉ Ăn Bánh Đa Cá Rô Đồng Ngon Tại Hà Nội
  • a/ Giống cá nuôi:

    + Cỡ cá rô đồng giống: 300 – 500 chúng tôi Cá đều cỡ, cá khỏe mạnh, cá không bị xây xát mất nhớt. Cá yếu được nhốt nuôi riêng khi thật khỏe mạnh mới nuôi chung. Mật độ nuôi 10 con/ m2 nơi có thức ăn đủ, nước tốt, nuôi tốt mật độ nuôi 20 – 30 – 50con/ m2.

    + Có thể thả ghép cá hường giống 1 con / 5-10 m2, cá mè trắng 1con/5-10 m2 để tận dụng thức ăn rơi rớt và làm sạch môi trường nước, không được thả cá mè vinh, chép, trê phi tranh mồi ăn của CRĐ, giá bán thấp.

    b/ Thức ăn cho cá:

    + Tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong vùng nước cho cá. + Có thể sử dụng phân heo, gà, cút cho cá ăn trực tiếp (cần lưu ý không để nước đái heo xuống ao nuôi). Ao 500 – 1000 m2 có thể sử dụng phân heo của 10 – 20 con làm thức ăn cơ bản cho cá, bổ sung thêm thức ăn nhân tạo. Tùy thực tế xem sức sức ăn của cá mà tăng hoặc giảm lượng thức ăn. Trước khi thu hoạch 2-3 tháng, ngưng cho cá ăn phân heo, mà cho cá ăn bằng thức ăn chế biến để cá sạch, béo. Thức ăn chế biến 3-5% trọng lượng cá, tùy cá ăn mà tăng giảm.

    – Cho cá ăn bằng thức ăn chế biến: Bột đầu tôm, phụ phế liệu nhà máy chế biến cá tôm và gia súc, bột cá, ruốc, ốc, cá tạp, bột đậu nành, … tỷ lệ đạm 30% + cám mịn và xác đậu nành 60% + tấm 7% + bột lá gòn 3% + Vitamin, Premit. hế biến thức ăn: Thức ăn thô (cá tạp, cua, ốc,…) được nghiền nhỏ. Nấu cháo tấm với bột cá cho nhừ, cho bột lá gòn vào, nếu có xác đậu nành nấu riêng, trộn cám và Vitamin vào thức ăn, vừa khô, đặc, dẻo. Có thể cho10% rau muống đã thái nhỏ và nấu mềm nhừ trộn lẫn với thức ăn trên. Thức ăn có độ đạm càng cao cá lớn càng nhanh, từ cá giống lên cá 7-15 con/kg có 4 tháng.

    – Cho cá ăn: Cá rô đồng lúc còn nhỏ chưa phân đàn, cho cá ăn bằng sàn treo ở đầu ao, cá vào sàn ăn, khoảng 50 – 80 m2 có một sàn. Khi cá lớn, dùng sàn thì cá lớn vào ăn trước, cá nhỏ vào ăn sau, cá lớn không đều, nên rải thức ăn đều ao cho cá ăn để cá lớn nhỏ đều được ăn. Tỷ lệ cho ăn 3-5% trọng lượng cá, ngày cho ăn 1-2 lần. Cho CRĐ ăn thức ăn hoặc lúa, đậu nành rang vàng thơm cho dầu dừa vào cho cá ăn.

    c/ Quản lý chăm sóc cá nuôi:

    – Giữ môi trường nước nuôi đến màu xanh lá chuối non. Nếu nước có màu sậm và mùi hôi phải thay nước ngay. Trung bình 7-15 ngày nên thay nước một lần, nếu nước ao nuôi vẫn tốt thì khi nước dơ mới thay. Thay nước tốt có lợi cho cá nuôi, song cá tạp vào nhiều tranh mồi ăn của cá nuôi.

    – Kiểm tra thức ăn của cá dư hay thiếu bằng xem cá có thức ăn trong bụng không và thức ăn còn lại khi cho vào sàn ăn 2 giờ. Nếu ruột cá không có thức ăn, mà thức ăn còn nhiều ở sàn là thức ăn không thích hợp , phải thay đổi thức ăn, hoặc xem cá yếu ăn vì lý do gì: nước dơ thì thay nước, thiếu đạm thì tăng đạm, có đạm mà yếu ăn tăng Vitamin C, Premit vào thức ăn và xem cá có bệnh hay không xử lý kịp thời.

    – Kiểm tra bộng bờ, lưới bộng, lưới bao nơi xung yếu khi mưa lũ. Nơi không có điều kiện bao lưới nơi xung yếu, có thể trồng cây sả dừng nhiều lớp ở bờ này.

    2/ Nuôi cá rô đồng ở ruộng lúa, rừng tràm, sông cụt:

    – Trong thời gian nuôi, cá phân đàn, cá lớn thì lớn nhanh, cá nhỏ chậm lớn vì không được ăn đều. Cần kiểm tra sau 4-6 tháng nuôi, dùng lưới kéo bắt cá lớn để vào ao nuôi vỗ riêng, bán. cá nhỏ còn lại tiếp tục nuôi và cá có phân đàn nuôi riêng.

    a/ Chuẩn bị nơi nuôi: Ruộng lúa rừng tràm thì có mương trong, bờ bao quanh, bờ cần cao hơn mực nước cao nhất 0,5m. Nơi xung yếu: đập có bộng, nước ra vào, lung trũng nối liền với nhau ngăn cách bằng bờ, nơi thấp,… Cần có lưới chắn hoặc trồng sả dầy để hạn chế cá đi. Nếu nuôi ở kênh rạch, sông cụt, xung quanh có bờ bao, lòng kênh dùng lưới chắn kỹ. Nơi nuôi được cải tạo, nhất là diệt các loài địch hại của CRĐ như cá lóc, lươn, rắn, rái cá,…

    b/ Giống nuôi: Giống cá rô đồng nên thả cỡ lớn 200 – 300 con/kg. + Thường nuôi ghép CRĐ với các loại cá khác nuôi ở ruộng lúa: mè vinh, sặt rằn, mè trắng, trôi, chép 70 – 80%, CRĐ 20 – 30%. Mật độ cá nuôi 1-3 con/ m2.

    + Nuôi ở rừng tràm: Cá rô đồng 0,3-0,7 con/ m2. nuôi ghép với cá sặt rằn, trê vàng, thát lát và cá lóc cùng cỡ 0,5- 1 con / m2 mặt nước.

    + Nuôi ở sông cụt: Cá rô đồng 5-10 con / m2 và ghép cá sặt rằn, cá hường, mè trắng.

    3/ Thu hoạch cá nuôi:

    d/ Quản lý chăm sóc cá nuôi: như ở ao

    Theo sách NXB Nông nghiệp Nuôi cá rô đồng thương phẩm bằng con giống nhân tạo

    Cá nuôi 4-5 tháng đạt 60 – 100g/con, 6-9 tháng đạt 100 – 150g/con. Chọn thời điểm thị trường ít các loại cá khác, thu hoạch CRĐ cán được giá. trước khi thu hoạch 2 tháng cần tăng cường cho cá ăn đủ số và chất, thay nước sạch vào ao. Dùng lưới bắt cá lớn bán, cá nhỏ để lại nuôi tiếp bán. Cần theo dõi hàng ngày ghi chép để rút kinh nghiệm.

    Được Trạm KN huyện Tam Nông (Đồng Tháp) hỗ trợ 40% tiền mua con giống và 20% tiền mua thức ăn cho cá, anh Nguyễn Ngọc Tước – ngụ ấp K8, xã Phú Đức đã tận dụng diện tích mặt nước ao sau nhà để thực hiện mô hình nuôi cá rô đồng thương phẩm bằng con giống nhân tạo và đã thu được lợi nhuận hết sức khả quan. Anh Tước vui vẻ cho biết: “Nuôi cá rô đồng nhân tạo rất dễ, ít đòi hỏi kỹ thuật vì cá rất thích nghi với môi trường, chịu chật chội với những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên và ít bệnh. Theo tôi, trong quá trình nuôi cần chú ý cho ăn đầy đủ theo chu kỳ phát triển của cá, thức ăn đủ chất, đảm bảo độ đạm cần thiết… Bên cạnh đó, cần quản lý chất lượng nước và rào chắn cẩn thận trong mùa mưa lũ để tránh thất thoát…”

    Với 1 cái ao cũ 800m2 phía sau nhà, vào trung tuần tháng 7/2003, anh Tước cho vét bùn non dưới đáy ao rồi rải 10kg vôi bột/m2 để sát trùng… Tiếp đó, anh bơm nước sạch vào ao và thả 40.000 con cá rô đồng giống nhân tạo vào nuôi. Nguồn thức ăn chính của cá rô đồng được anh Tước sử dụng thức ăn viên công nghiệp có chứa nhiều độ đạm. Thời gian đầu cá còn nhỏ khoảng 10 – 15gr/con, anh cho cá ăn 4 lần/ngày, mỗi lần khoảng 10kg thức ăn. Hơn 1 tháng sau khi nuôi, cá lớn từ 20-25gr/con, anh cho cá ăn 3 lần/ngày và lượng thức ăn tăng lên 15kg/lần… Và anh tăng dần lượng thức ăn lên trong mỗi lần cho cá ăn theo quá trình tăng trưởng của cá. Bình quân cứ hao tốn gần 2,5kg thức ăn thì sẽ đạt 1kg cá rô đồng thương phẩm! Để tránh bẩn nguồn nước trong ao, anh Tước thường xuyên thay nước ao, định kỳ 1 tháng 1 lần anh bổ sung vào thức ăn cho cá những vitamin, chất khoáng, thuốc xổ giun, sán và những ký sinh trùng bám ngoài da… nhằm kích thích cá rô đồng mau phát triển, tránh được một số loại bệnh thường gặp ở cá rô…

    Cứ như thế, anh Tước luôn cần mẫn chăm sóc, thường xuyên theo dõi diễn biến tình trạng tăng trưởng cũng như dịch bệnh của cá để có cách chữa trị kịp thời… Từ đó, đàn cá nuôi của anh đã phát triển tốt, tăng trọng nhanh, tỷ lệ hao hụt thấp… Đến nay, sau gần 4 tháng nuôi, anh Ngọc Tước đã cho tát ao và thu hoạch được trên 2,6 tấn cá rô đồng thương phẩm, bán được trên 60 triệu đồng. Trừ tất cả chi phí đầu tư như: Cải tạo ao, mua con giống, thức ăn, thuốc trị bệnh cho cá và công chăm sóc… tổng cộng hơn 37 triệu đồng, anh Nguyễn Ngọc Tước còn lời gần 23 triệu đồng!

    Chọn và nuôi cá rô đồng theo hướng bán thâm canh

    Mô hình nuôi cá rô đồng thương phẩm bằng con giống nhân tạo của anh Nguyễn Ngọc Tước đang được các ngành chức năng nghiên cứu phát huy và nhân rộng để giúp người dân huyện vùng sâu Đồng Tháp Mười chuyển đổi cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện của gia đình, nhanh chóng thoát nghèo vươn lên khá – giàu từ mô hình này.

    – Nên chọn cá giống đạt chất lượng tốt ở những cơ sở cá giống uy tín và nên chọn cá ở kích cỡ có thể chọn lọc được cá cái để nuôi (thường từ 180-200 con/kg).

    – Có thể sử dụng thức ăn viên hoặc thức ăn chế biến cho cá ăn nhưng cần có độ đạm cao (25-30%) để cá tăng trọng nhanh, tăng năng suất, rút ngắn thời gian nuôi, tăng hiệu quả kinh tế.

    – Nên cho cá ăn dặm thêm vào buổi tối (8-9 giờ) cá sẽ lớn nhanh hơn.

    – Cần tính toán thời gian nuôi thích hợp, không nên thu hoạch cá vào mùa lũ, giá cá thấp, hiệu quả kinh tế không cao.

    – Khi cá nuôi khoảng 5 tháng mà trọng lượng trung bình nhỏ hơn 70g/con (15 con/kg) thì không nên nuôi tiếp vì cá đã mang trứng lớn chậm, không có hiệu quả kinh tế.

    – Tận dụng những bưng biền, ruộng trũng cải tạo thành ao để nuôi cá rô đồng rất tốt vì có mực nước sâu, gần sông rạch nên cấp sạch và thoát nước dễ dàng. Tuy nhiên cần phải gia cố, cải tạo bờ ao chắc chắn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Rô Đồng Thương Phẩm Trong Ao Đất
  • Đặc Điểm Sinh Học Cá Rô Đồng
  • Nuôi Cá Rô Đồng, Không Lo “được Mùa Mất Giá”
  • Bình Dị Và Ngọt Lành Canh Bánh Đa Cá Rô Đồng
  • Hướng Dẫn Cách Làm Món Cá Rô Đồng Kho Tiêu Ngon Tuyệt
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Nheo Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Áp Dụng Tiến Bộ Kỹ Thuật Nâng Cao Chất Lượng Cá Nheo Thương Phẩm
  • Nuôi Cá Nheo Mỹ Thương Phẩm Trên Hồ Thác Bà
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Nheo
  • Bán Cá Nheo (Cá Leo), Cá Nheo Sông Đà Sỉ Lẻ Mọi Số Lượng Giao Toàn Quốc
  • Yên Bái: Sản Xuất Thành Công Cá Nheo Giống, Cung Ứng Ra Thị Trường
  • Ngày đăng: 2022-12-21 09:39:33

    Đưa giống cá nheo có giá trị kinh tế cao vào nuôi tại hộ gia đình, qua đó so sánh, đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình với các mô hình nuôi thủy sản khác trên địa bàn và đề xuất nhân rộng mô hình nếu có hiệu quả kinh tế cao

    1. Chuẩn bị ao nuôi và cung ứng giống, chế phẩm sinh học cho cá nheo.

    – Ao nuôi cá của hộ gia đình ông Nguyễn Đức Cơ có chất đất là đất thịt, ao không bị rò rỉ nước (đất thịt dễ gây mầu và giầu chất dinh dưỡng); ao gần nguồn nước để giúp cho việc cấp thoát nước dễ dàng; có đường giao thông thuận tiện giúp cho việc vận chuyển vật tư, trang thiết bị, con giống, thức ăn và tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng.

    – Ao nuôi có diện tích 5.000m2, có mức nước sâu 1,5-2,5m. thuận lợi cho việc cấp thoát nước. Trước khi thả cá nuôi, ao được thực hiện theo quy trình hướng dẫn của cơ quan chuyên môn.

    – Chuyển giao giống: Con giống khỏe mạnh, không dị tật, có sức sinh trưởng và phát triển tôt. Chế phẩm cung ứng đảm bảo đủ số lượng, chất lượng theo quy định.

    2. Kỹ thuật chăm sóc cá nheo:

    – Cá Nheo Mỹ có thể nuôi ở hình thức nuôi ao hoặc nuôi lồng. Hình thức nuôi ao, có thể thả ghép thêm cá Chép, cá mè trắng để tăng hiệu quả kinh tế và tận dụng nguồn thức ăn thừa của cá Nheo Mỹ.

    – Nuôi ghép, đối tượng nuôi cá nheo làm chính. Mật độ nuôi 0,6 con/m2. Mẫu thả 10con/kg.

    – Thức ăn là một trong những yếu tố quyết định đến năng xuất cá nuôi, thức ăn có chất lượng ổn định không những đảm bảo cho năng xuất cao mà còn rút ngắn thời gian nuôi, chủ động thu hoạch vào thời điểm giá cao cho hiệu quả kinh tế cao trên mỗi đơn vị diện tích nuôi.

    – Chế độ cho ăn và khẩu phần ăn phụ thuộc vào kích cỡ cá, lượng thức ăn công nghiệp có bổ sung thức ăn tinh dao động từ 2-8%… Thức ăn chia làm 02 phần, cho cá ăn vào buổi sáng (8-9 giờ) và buổi chiều (16-17 giờ). Cần cho ăn đúng giờ để tạo phản xạ cho cá ăn.

    – Thường xuyên theo dõi mực nước trong ao để luôn duy trì mực nước phù hợp, kiểm tra màu nước, mùi nước ao, nhiệt độ, độ pH; thường xuyên quan sát hoạt động bơi lội và khả năng bắt mồi của cá để nắm bắt tình hình sức khoẻ của cá.

    – Định kỳ hàng tháng kiểm tra tốc độ tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn và có chế độ chăm sóc hợp lý.

    Từ khóa: mô hình nuôi cá nheo thương phẩm trong ao đất, hướng dẫn cách cá nheo mỹ thương phẩm, quy trình nuôi cá nheo thương phẩm, kinh nghiệm nuôi cá nheo mỹ cho hiệu quả kinh tế cao, cung cấp giống cá nheo mỹ, mua bán cá nheo mỹ

    TIN TỨC KHÁC :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Săn Cá Ngát Trên Sông Ở Cà Mau
  • “3 Đời” Săn Cá Ngát Bằng Tay
  • Du Lịch Giá Rẻ Trong Ngoài Nước: Săn Cá Ngát Trên Sông Ở Cà Mau
  • Cá Ngát Sốngsiêu Thị Thực Phẩm Online
  • Phú Yên Mua Cá Ngựa Ở Vũng Tàu Uy Tín
  • Phương Pháp Nuôi Cá Chép Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lợi Ích Không Ngờ Từ Cá Chép Bạn Không Nên Bỏ Qua
  • Giá Trị Dinh Dưỡng Của Cá Chép Giòn
  • Cá Chép Tự Nhiên Loại 2
  • Tượng Cá Chép Đá Đỏ Tự Nhiên
  • Hoàn Thiện Tượng Cá Chép Hóa Rồng Đá Tự Nhiên Giá Tốt
  • Đặc Điểm Sinh Học

    Cá chép (tên khoa học là Cyprinus carpio), là một loài cá nước ngọt phổ biến rộng khắp có quan hệ họ hàng xa với cá vàng thông thường và chúng có khả năng lai giống với nhau.

    Có nguồn gốc ở châu Âu và châu Á, loài cá này đã được đưa vào các môi trường khác trên toàn thế giới. Nó có thể lớn tới độ dài tối đa khoảng 1,2 mét (4 ft) và cân nặng tối đa 37,3 kg (82,2 pao) cũng như tuổi thọ cao nhất được ghi lại là 47 năm. Mặc dù cá chép có thể sống được trong nhiều điều kiện khác nhau, nhưng nói chung nó thích môi trường nước rộng với dòng nước chảy chậm cũng như có nhiều trầm tích thực vật mềm (rong, rêu). Là một loại cá sống thành bầy, chúng ưa thích tạo nhóm khoảng từ 5 cá thể trở lên.

    Chúng sinh trưởng ở vùng ôn đới trong môi trường nước ngọt hay nước lợ với pH khoảng 7,0 – 7,5, độ cứng của nước khoảng 10,0 – 15,0 dGH và khoảng nhiệt độ lý tưởng là 3-24 °C (37,4 – 75,2 °F.

    Môi Trường Sống Của Cá Chép

    Cá chép hoang dã sống ở giữa và hạ lưu sông, ở vùng ngập nước và trong vùng nước cạn, như hồ, kênh, rạch. Cá chép chủ yếu sống dưới đáy nhưng tìm kiếm thức ăn ở lớp giữa và trên mặt nước. Các ‘ao cá chép’ điển hình là những ao nông cạn, nhiều sinh vật phù du với đáy bùn và thảm thực vật thủy sinh dày đặc ở đê. Cá chép tăng trưởng tốt nhất đạt được khi nhiệt độ nước nằm trong khoảng từ 23 ° C đến 30 ° C.

    Cá có thể sống sót trong thời kỳ mùa đông lạnh. Độ mặn lên đến khoảng 5%. Độ pH tối ưu là 6,5-9,0. Các loài cá chép có thể tồn tại nồng độ oxy thấp (0,3-0,5 mg / lít) cũng như hòa. Cá chép là loài ăn tạp, có xu hướng tiêu thụ thức ăn động vật cao, chẳng hạn như côn trùng nước, ấu trùng của côn trùng, giun, động vật thân mềm và động vật phù du. Tiêu thụ động vật phù du là chủ yếu (ngoại trừ thức ăn thuỷ sản được sản xuất công nghiệp) trong ao nuôi cá mật độ thả cao.

    Ngoài ra, cá chép tiêu thụ thân, lá và hạt của thực vật thủy sinh và trên cạn, thực vật thủy sinh bị phân hủy, vv Việc nuôi cá chép thương phẩm không thật sự phức tạp như bạn nghĩ, khả năng sinh tồn của của loài này khá cao, cũng như chúng là loại ăn tạp nên người nuôi có thể tận dụng các thực phẩm thừa trong nhà, hoặc các phụ phẩm nông sản đều có thể chế biến thành thức ăn cho cá chép được.

    Tăng Trưởng Và Sinh Sản

    Sự tăng trưởng hàng ngày của cá chép có thể là 2%-4% trọng lượng cơ thể. Cá chép có thể đạt 0,6 đến 1 kg trọng lượng cơ thể trong vòng một mùa trong các ao nuôi cá đa canh của vùng nhiệt đới / cận nhiệt đới. Tăng trưởng chậm hơn nhiều ở vùng ôn đới: ở đây cá đạt trọng lượng cơ thể từ 1 đến 2 kg sau 2 đến 4 mùa nuôi. Ở vùng ôn đói, cá chép cái cần khoảng 11.000 đến 12.000 ngày để đạt đến độ trưởng thành.

    Cá chép đực trưởng thành trong khoảng thời gian ngắn hơn 25 – 35%. Thời gian trưởng thành của các loài cá chép châu Á ngắn hơn một chút so với một số loài ở khuc vực khác. Quá trình sinh sản của cá chép châu Âu bắt đầu khi nhiệt độ nước là 17-18 ° C. Các loài cá chép châu Á bắt đầu sinh sản khi nồng độ ion của nước giảm đột ngột vào đầu mùa mưa. Cá chép thuần hóa thường được tiêm chất kích thích nội tiết, cá chép giải phóng trứng chín của chúng trong một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều. Số lượng trứng được giải phóng là 100 đến 230 g / kg trọng lượng cơ thể. Vỏ trứng trở nên dính sau khi tiếp xúc với nước.

    Sự phát triển phôi của cá chép mất khoảng 3 ngày ở 20 – 23°C. Trong điều kiện tự nhiên, cá con nở ra dính vào đế. Khoảng ba ngày sau khi nở, phần sau của bàng quang bơi phát triển, ấu trùng bơi theo chiều ngang và bắt đầu tiêu thụ thức ăn bên ngoài với kích thước tối đa 150-8080m (chủ yếu là luân trùng).

    Nuôi Cá Chép Thương Phẩm

    Chuẩn Bị Ao Nuôi Hoặc Lồng Nuôi

    Ao Nuôi

    Điều quan trọng nhất có trong kỹ thuật nuôi cá chép thương phẩm đó chính là khâu chuẩn bị ao thả cá. Cũng giống như những loại nuôi trong ao khác, điều kiện của ao hay bể để nuôi cá chép là đất không bị nhiễm phèn, độ PH không vượt mức không cho phép, phải gần nơi nguồn nước sạch, không chứa các mạch nước ngầm độc hại gây hại cho cá.

    Nên đào ao theo diện tích hình chữ nhật, trong đó chiều dài ao gấp 2 đến 3 lần chiều rộng và tốt nhất ao nuôi cá nên được quy hoạch và đặt xa chuồng trại chăn nuôi và gần nơi ở để tiện cho việc chăm sóc và quản lý, và gần tuyến đường giao thông để thuận tiện cho quá trình di chuyển cá giống và vận chuyển cá thịt khi thu hoạch.

    Trong kỹ thuật nuôi cá chép tại ao thì môi trường nuôi cá phải luôn được vệ sinh kỹ càng, thoáng đãng, sạch sẽ, vùng đất không bị ô nhiễm, nhiệt độ trung bình trong ao từ 25 đến 27 độ C, độ PH luôn nằm trong khoảng 6,5 đến 7,5 là tốt nhất.

    Nguồn nước trong ao thả cá phải được kiểm tra và xử lý thường xuyên, màu nước luôn xanh nõn chuối để tạo nguồn thức ăn và chất dinh dưỡng tự nhiên cho cá giống sinh trưởng và phát triển. Trước khi bà con chuẩn bị thả cá bố mẹ xuống ao nuôi, bà con cần phải hút hết cạn nước trong khu nuôi dưỡng, nên dọn dẹp sạch rác, cây cỏ xung quanh và tiến hành rắc vôi cho ao với liều lượng từ 7 đến 10 kg/100 m2 để khử trùng, khử khuẩn và các sinh vật tạp nham có trong ao. Sau do, đến quá trình phơi đáy ao từ 5 đến 7 ngày và tiến hành bón lót bằng các loại phân xanh từ 30 từ 40 kg hoặc từ 25 đến 30 phân chuồng cho 100 m2/ao.

    Lồng Nuôi

    Khung lồng: Được làm bằng tre, nứa, gỗ, nhôm.

    Lưới lồng: được làm bằng lưới P E không gút, kích thước mắt lưới tùy thuộc vào cỡ cá thả nuôi.

    Kích thước lồng: Kích thước lồng có thể thay đổi tùy theo điều kiện. Kích thước lồng phổ biến 4 x 3 x 1,5m(2m) hoặc 6 x 3 x 1,5 m(2m)…Nên chọn lồng có kích thước hình chữ nhật là tốt nhất. Chọn nơi có nguồn nước thông thoáng, sạch sẽ, không bị nhiễm phèn, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của nguồn nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp…

    • Có dòng nước chảy liên tục, lưu tốc thích hợp là 0,2 – 0,5 m/s
    • Mực nước chỗ đặt lồng phải sâu hơn đáy lồng 0,5-1m.
    • Khoảng cách lồng đặt cách bờ 3 – 5 m để dòng chảy được lưu thông qua lồng và tiện chăm sóc quản lý
    • Lồng này cách lồng kia ít nhất từ 5 -10 m. Nếu đặt theo cụm thì khoảng cách giữa các cụm lồng ít nhất từ 30 – 50m.
    • Lồng trong một cụm nên đặt so le để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.

    Môi trường nước nơi đặt lồng

    • t0: 25 – 280C
    • pH nước: 6,5 – 8.

    Lưu Ý

    • kiểm tra kỹ các thanh nang lồng đảm bảo an toàn, lưới lồng kiểm tra kỹ có kế hoạch may vá lại.
    • Vệ sinh cọ rữa sạch các chất vẩn bám các thanh nang lồng, lưới lồng

    Chọn và thả giống

    Chọn giống: Chất lượng cá giống là một yếu tố rất quan trọng, có ý nghĩa rất lớn quyết định đến hiệu quả của nghề nuôi cá. Chất lượng cá giống tốt như:

    • Cỡ cá: Giai đoạn từ 150 – 250; chiều dài cá (mm) từ 100 – 300; khối lượng cá giống 90g và thời gian nuôi khoảng 120 ngày.
    • Màu sắc: Chọn những con cá có màu vàng da cam nhạt.
    • Ngoại hình: Toàn thân phủ kín vẩy, trơn nhẵn, không xây xát và không dị hình dị dạng.
    • Trạng thái hoạt động bình thường, bơi chìm trong nước theo đàn.

    Phương pháp thả: Trước khi tiến hành các thao tác như vận chuyển đến ao, lồng nuôi mới hoặc san thưa, cần tiến hành ép cá bằng phương pháp cho cá nhịn ăn khoảng 1 ngày. Chuyển cá vào lúc trời mát, sáng sớm hoặc chiều tối.

    Cá đưa vào nuôi vây vẩy hoàn chỉnh, không xây xát, không mất nhớt, cỡ cá đồng đều. Trạng thái hoạt động linh hoạt, bơi lội nhanh nhẹn, bơi chìm trong nước theo đàn; không có dấu hiệu bệnh.

    Mật độ thả: Cá chép giòn có thể nuôi được 1 – 2 vụ/năm, thời gian 3 – 5 tháng/vụ; Cá được chọn nuôi có kích thước lớn từ 1,2 – 1,8 kg. Mật độ nuôi trong ao 0,5 – 1 con/m2, mật độ nuôi lồng 5 – 7 con/m3, tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc.

    Cá chép nuôi khoảng 9 tháng khi đạt trên 1 kg, lúc này người nuôi mới vỗ béo bằng đậu tằm để quyết định độ giòn của thịt cá

    Thức Ăn Cá Chép:

    • Thức ăn tự nhiên: Chúng ta có thể sử dụng các phụ phẩm, các loại nông sản để nghiền nhỏ để chế biến thành thức ăn cho cá chép.
    • Thức ăn công nghiệp. Để giúp cá tăng trưởng nhanh trong quá trình nuôi, tăng khả năng kháng bệnh thì chúng ta có thể chọn mua các loại thức ăn cho cá ở các công ty sản xuất thức ăn thuỷ sản uy tín, nhằm đảm bảo chất lượng nguồn thức ăn thuỷ sản.

    Quản Lý Và Chăm Sóc

    Hàng ngày thăm ao 2 lần vào sáng sớm và chiều mát; nếu có các hiện tượng khác thường, như: cá nổi đầu, nước ao bạc màu, … thì đấy là biểu hiện cá đói, no, bị bệnh, nước ao thiếu oxy… từ đó điều chỉnh việc cho ăn, chăm sóc và xử lý các tình huống ảnh hưởng xấu đến cá.

    Phải thường xuyên giữ đủ nước theo đúng quy định, hằng ngày kiểm tra bờ, cống rãnh, chuẩn bị trước đăng mành, cọc để phòng lũ lụt cá đi mất.

    Mỗi tháng đùa khuấy ao một lần, hàng tuần vớt sạch rác, thức ăn thừa; sau khi đùa ao kết hợp cấp thêm nước mới. Thường xuyên theo dõi màu nước để quyết định tăng hay giảm số lượng thức ăn và phân bón.

    Khi trời nắng oi bức, màu nước quá béo cá dễ bị nổi đầu do thiếu oxy. Nếu thấy cá nổi đầu khắp ao, nghe tiếng động mạnh cũng không lặn xuống mà vẫn cứ bơi lờ đờ trên mặt nước, màu sắc trên lưng cá mè, trắm cỏ ngả sang hơi vàng, môi dưới của cá dài ra, đó là hiện tượng nổi đầu nghiêm trọng.

    Yêu Cầu

    • Cá khỏe mạnh, sức đề kháng tốt, ít bệnh tật và chi phí phòng trị bệnh thấp.
    • Cá nhanh lớn, đúng kế hoạch.
    • Cá hấp thu thức ăn tốt và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp.
    • Chăm sóc, quản lý cá giống trong quá trình nuôi dễ dàng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    Thu Hoạch

    Trước khi tiến hành thu hoạch thì nên cho cá nhịn ăn 1 ngày. Để cá khỏe mạnh khi đến tay người tiêu dùng, các bạn nên thu hoạch cá trong ao và chuyển lên bể, giống nước sạch và sục khí, sau 1 giờ sử dụng ống nhựa dùi lỗ tháo hết nước đục ra và cấp nước mới vào, dùng vợt vớt bỏ hết cát sỏi và tạp chất dưới đáy bể. Khi vận chuyển nên chuẩn bị đầy đủ bao tải, túi nylong, bình oxy,… để đảm bảo cá khỏe mạnh.

    Một phần cá chép được chuyển trực tiếp đến các chợ và được bán sống. Phần lớn sẽ chuyển đến các nhà máy chế biến cá để phân phối vào các hệ thống siêu thị, hoặc xuất khẩu đến các nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Chép Thương Phẩm Hiệu Quả
  • Nuôi Cá Chép Thương Phẩm Thu Bạc Tỉ, Tưởng Không Dễ Mà “dễ Không Tưởng”
  • Bán Tượng Cá Chép Phong Thủy Bằng Đá Cẩm Thạch Đỏ Giá Tốt
  • Bán Tượng Cá Chép Phong Thủy Đá Cẩm Thạch Đen Giá Tốt
  • Cặp Tượng Cá Chép Phong Thủy Size Để Bàn Giá Rẻ
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Mú Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Cá Mú Sao Xanh 04/2021
  • Cá Mú Sao Xanh Sống Mua Ở Đâu
  • Giá Bán Cá Mú Sao Xanh 04/2021
  • Giá Cá Mú Sao Xanh_ Món Ngon Chế Biến Từ Cá Mú Sao Xanh.
  • Những Món Cá Mú Sao Đỏ Ngon Miệng Từ Các Nhà Bếp Tại Gia
  • Nhìn chung, tuổi thành thục lần đầu của cá mú vào khoảng 3 -4 tuổi . Tùy theo kích cỡ của từng loài, đến giai đoạn thành thục, chúng sẽ có trọng lượng khác nhau. Trong giống Epinephelus, loài cá mú lớn nhất là loài Epinephelus lanceolatus (cân nặng tối đa 400kg), còn thông thường thì một số loài chỉ có trọng lượng khoảng 2-3 kg

    Trong tự nhiên, vào mùa hè, có mú thường sống ven biển, còn mùa đông thì di cư ra ngoài khơi. Chúng thường sống trong dải đá ngầm, san hô, nơi đầy cát, sỏi hoặc bùn…

    Thức ăn của cá mú khá đa dạng, từ cá nhỏ cho tới loài giáp xác, động vật chân đầu, động vật thân mềm…; ở giai cá con chúng thường ăn thịt lẫn nhau.

    Mùa sinh sản cá mú thây đổi theo từng loài và vùng địa lý, khí hậu. Ở Đài Loan, mùa sinh sản của cá mú từng từ tháng 3 đến tháng 10, ở Trung Quốc từ tháng 4 đến tháng 10, còn ở miền Bắc Việt Nam từ tháng 4 đến tháng 7, ở miền Trung khoảng tháng 12 đến tháng 3 năm sau, riêng Nam bộ thì cá có thể đẻ quanh năm.

    Mỗi loài cá mú sản xuất số lượng trứng khác nhau trong một lứa đẻ. Loài E. akara: 150.000-500.000 trứng, loài Epinephelus malabaricus 600.000-1.900.000 trứng/ kg.

    Tốc độ tăng trưởng của cá mú cũng thây đổi theo từng loài. Ở nước ta, sau khi nuôi 1năm, loài Epinephelus malabaricus có trọng lượng 0.8kg, loài E. lancelatus nặng 3-4kg.

    I. Nuôi vỗ cá cha mẹ

    Bạn có thể sử dụng nguồn cá cha mẹ đánh bắt trong tự nhiên hay nguồn nuôi từ ao, đĩa, lồng đều được. Dĩ nhiên khi chọn nguồn cá người ta đã bắt đầu nuôi từ trước thì bạn dễ nuôi hơn, vì chúng đã thích hợp với đều kiện nuôi nhốt.

    Nếu đánh bắt cá trong tự nhiên, bạn nên dùng lưới không nên dùng bẫy tre hoặc dùng chất cyanide để bắt. Sau khi bắt xong bạn vận chuyển ngay về trang trại của bạn. Trong quá trình vận chuyển, nếu sử dụng bồn chứa hoặc chứa có máy sục khí của bạn không cần gây mê cá.

    Khi đưa cá về trại, bạn tắm cá 24 giờ trong dung dịch formol 25 ppm pha trộn kháng sinh Oxytetracyline với nồng độ 2mg/l hoặc tiêm 20mg/kg cá để phòng chống nhiễm khuẩn cho cá.

    Bạn thả cá vào bể nuôi vỗ có thể tích 150 – 300 m2 , chứa nước biển sạch có độ mặn 29-33%0 và nhiệt độ nước duy trì thường xuyên ơ mức 28-30o C. Chú ý, nước trong bể phải được lọc qua cát trước khi bơm vào bể nuôi.

    Mật độ thả nuôi khoảng 1 kg cá/m3. Tỷ lệ đực và cái 1-1 đến 1-2. Mỗi ngày bạn thay nước bể từ 50 đến 100%.

    Thức ăn nuôi vỗ cha mẹ là cá thu, cá nục, cá bạc má …những loài cá rẻ tiền khác. Mỗi ngày, bạn cho cá ăn 2 lần với khối lượng thức ăn khoảng 1-2 % tổng trọng lượng cá.

    Trong quá trình nuôi, bạn cần đều chỉnh lượng thức ăn hằng ngày để tránh tình trạng thiếu thức ăn hoặc dư thừa quá nhiều ảnh hưởng xấu đến môi trường trong nước

    Nhìn chung, bạn cần cân đối các thành phần dinh dưỡng trong thức ăn cho cá mú. Thức ăn cần có hàm lượng trên 40% đạm (protein), 6-8% chất béo (lipid), ngoài ra còn bổ sung dầu cá vitamin E, C vào thức ăn.

    Kỹ thuật nuôi đúng chuẩn, thức ăn đủ khối lượng và chất lượng sẽ có tác động lớn đến sự sinh trưởng, khả năng thành thục, tỷ lệ sinh sản, tỷ lệ trứng nở của cá mú. Việc bổ sung các nguồn chất béo giàu acid béo không no (Huga) sẽ có tác động trực tiếp đến sự thành thục của cá mẹ.

    1. Kích thích cá thành thục

    Trong đều kiện nuôi nhốt, cá mú rất dễ thành thục. Thường khi con nhỏ chúng là con cái, đến lúc thành thục chúng chuyển thành cá đực.

    Để giúp cá thành thục sớm, bạn có thể áp dụng kỹ thuật cấy hỗn hợp Cholestrerol, LHRH và 17 – a Methyltestosterone. Biện pháp này giúp cá thành thục đồng loạt.

    Nếu nhận thấy số lượng ca đực quá ít, bạn có thể tiêm hoặc cấy 17 – a Methyltestosterone để tăng số lượng cá đực.

    2. Chọn cá đẻ

    Để nhận biết cá đực và cái thành thục, bạn căn cứ vào những yếu tố sau: đối với cá đực khi vuốt nhẹ vùng gần lỗ sinh dục xuất hiện sẹ (tinh dịch) màu trắng đục chảy ra, còn đối với cái, bạn quan sát đường kính trứng, nếu trứng có đường kính khoảng 0,4-0,5mm là đạt yêu cầu sinh sản.

    3. Sinh sản

    Việc cá mú đẻ trứng có sự tác động của chu kỳ trăng. Chúng thường đẻ trước hoặc sau vài ngày kỳ trăng non hoặc trăng tròn. Vài ngày trước trăng non hoặc trăng tròn, bạn cần thây đổi bể nước, tạo dòng chảy liên tục, để kích thích cá phóng tinh và đẻ trứng. Cứ để cá đẻ tự nhiên, bạn không cần phải tiêm thuốc kích thích như đối với một số loài cá khác. Thời điểm cá đẻ trứng thường vào ban đêm

    4. Ấp trứng

    Sau khi cá đẻ, trứng thụ tinh sẽ nổi lơ lửng gần mặt nước (đường kính 0,8-0,9mm). Bạn vẫn tiếp tục bơm nước liên tục vào bể để tạo thành dòng chảy. Bên trong bể, bạn đặt một giai thu trứng mắt lưới 0,2-0,3mm.

    Sau khi cá đẻ trứng vào hôm trước, sáng hôm sau bạn cần thu gom trứng ngay. Trứng thu từ bể đẻ thường dính tảo và những chất bẩn khác, do đó bạn cần lọc trứng qua lưới có đường kính mắt lướt 1mm.

    Xong công đoạn này, bạn cho trứng vào ngay bể ấp (đặt trong bể ương). Mật độ ấp khoảng 4000 – 5000 trứng/ m3. Suốt quá trình ấp, bạn sục khí vừa đủ tạo sự lưu thông nước trong bể ấp.

    Sau 16-18 giờ, trứng sẽ nở trong môi trường nước có độ mặn 30-33‰, nhiệt độ 28 – 300C.

    II. Ương cá bột thành cá giống 1. Ao ương

    Bạn có thể ương cá bột trong bể ximăng, bể composit, giai đặt trong bè hay ao đất. Hiện nay bể ương phổ biến nhất là hình chữ nhật hoặc tròn (tùy bạn chọn). Bể cần có thể tích từ 5 đến 12 m3, sâu 1-1,6 m. Sau khi chuẩn bị bể xong bạn bơm nước vào (nước đã lọc sạch xử lý Chlorin 30ppm). Nước có độ mặn 30-34‰ , duy trì thường xuyên nhiệt độ 28-30 độ C.

    2. Ương cá bột

    Bạn có thể thực hiện việc ấp trứng trong bể ương hoặc ấp trứng trong bể khác sau khi nở, bạn đưa cá bột vào bể ương. Tùy hệ thống ương bạn sử dụng cách ương với mật độ thưa từ 4-5con/L đến mật độ dày 20-30con/L.

    Sau khi nở 60 giở, cá bột sẽ tìm nguồn thức ăn ngoài. Lúc này, bạn cần cho cá ăn luân trùng SS(đã được làm giàu bằng acid béo không no (Hufa)), mật độ 6-10 cá thể/ml. Để duy trì chất lượng nước tốt đồng thời làm thức ăn cho cá, bạn bỏ tảo Chlorella vào bể ương duy trì ở mật độ 3×105/ml.

    Từ lúc cá bột được 6 ngày tuổi, bạn cho luân trùng L vào bể ương thay thế cho luân trùng SS. Đến khi cá được 15-20 ngày tuổi, bạn cho ăn thêm ấu trùng Artemia 1-3 cá thể/ml. Từ ngày tuổi 30-35, cá bột có thể ăn được Moina, Artemia trưởng thành và các sinh vật phù du lớn hơn.

    Cách thay nước

    Trong giai đoạn cá bột mới nở đến 10 ngày tuổi thứ 10, bạn chỉ bổ sung nước mới vào bể ương, không thay nước. Đến khi cá được 10-20 ngày tuổi, bạn thay nước 10-20% ngày rồi tăng lên 30%/ngày. Lúc cá được 30-40 ngày tuổi, thay nước 40%/ngày và tăng dần lên 50%/ngày cho đến khi cá bột chuyển thành cá giống.

    II. Nuôi trong lồng tre

    Trước hết bạn phải chọn vị trí đặt lòng nuôi: eo biển, vịnh, đám, phá, – những nơi ít gió bão, sóng nhẹ, nhiệt độ khoảng 200C trở lên và độ mặn trongphạm vi 10-33‰

    Nơi nuôi cá phải có nguồn nước sạch, không bị ảnh hưởng bởi nước thả công nghiệp và nước thải sinh hoạt. Mực nước phải thường xuyên đạt ở 1-2 m, khi thủy triều xuống, độ sâu tối đa từ 2,5 -3 m, lưu tốc khoảng 0,2-0,4 m/giây. Nơi nuôi cá phải thuận tiện với giao thông đường bộ và dường thủy, gần nơi cung cấp nguồn thức ăn cho cá, dễ chăm sóc và bảo vệ cá

    3. Thiết kế lồng

    Bạn sử dụng lồng dưới hoặc tre đều được. Song để tiết kiệm chi phí bạn có thể sử dụng lồng tre. Dĩ nhiên không bền của lồng có giới hạn.

    Bạn chọn tre dày 1-1,5 m, rộng 3-4 cm, dài 1,2-2 m. Đây chỉ là tiêu chuẩn thiết kế lồng tượng trưng, còn tùy ý không gian và độ sâu của nơi đặt lồng mà bạn xây phù hợp

    Lồng nuôi cần có hình tròn, đường kính từ 2,5-3 m, cao 1,5-2 m. Lồng cần có tay cầm để tiện di chuyển. Bạn bện chung quanh lồng khoảng 2-4 hàng cước (đường kính 0,18-0,2cm) còn đường ở giữa dùng tre tốt uốn dẽo để ràng quanh.

    Riêng về nắp lồng, bạn sử dụng tre hoặc lưới cước đều được, song cần có một cửa vuông để bạn ra vào, kiểm tra lồng. Kích cỡ khoảng 70×70 cm hoặc 80×80 cm. Đáy lồng làm bằng sạp tre đan khít để cá không lọt ra ngoài.

    Bạn đóng 4 cột xuống nền đáy để treo lồng vào đó, lồng cách đáy khoảng 0,5 cm cao hơn mặt nước 0,4 – 0,5 m.

    4. Chọn cá giống

    Bạn chọn con kích cỡ 9-12 cm, không bị trầy sước, bệnh tật hay mang mầm bệnh từ trước. Nhìn chung, cá phải mạnh khỏe, bơi lội nhanh nhẹn, có màu sắc chuẩn của loài cá mà bạn muốn nuôi. Nuối thả cá nuôi là loại cá sinh sản nhân tạo hay từ cá cha mẹ do con người nuôi thì chúng cần có tiểu sử rõ ràng, tức có lý lịch cá cha mẹ thuộc loài nào ngày sinh trọng lượng v.v

    Về mật độ thả nuôi thì tùy theo địa phương, nguồn nước, nhiệt độ, có nuôi ghép với những loài khác hay không để bạn tính cần thả bao nhiêu con là vừa.

    Ở nơi có nguồn nước sạch, dòng chảy liên tục, thức ăn đầy đủ, bạn thả với mật độ dày (khoảng 40-50 con/m3), còn những nơi khác thì nên thả mật độ trung bình là 10-35 con/m3.

    Nếu nuôi ghép bạn có thể chọn cá hồng, cá dìa.. nuôi chung với cá mú.

    Thời điểm thả giống thích hợp nhất là lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Trước khi thả, bạn tiêu độc cho cá bằng dung dịch thuốc xanh Malachine (liều lượng 5-10 g/m3), tắm cá trong dung dịch khoảng 20-25 phút rồi thả chúng từ từ vào lồng. Cẩn thận hơn bạn có thể cho từng nhúm cá giống vào trong bao nilon chứa nước của môi trường nuôi rồi đặt bao vào lồng khoảng 15 phút để cá quen dần với nước và nhiệt độ. Sau đó, mở miệng bao thả từng con ra ngoài.

    5. Cách cho ăn

    Bạn cho cá mú ăn những loài cá tạp nhỏ, hải sản sống, rẻ tiền. Thí dụ như các vụn các loại (kể cả cá biển), cua, ghẹ, các loài nhuyễn thể tươi, thịt tươi các loại. Bạn băm nhỏ những loại thức ăn này để cá mú dễ ăn.

    Sau khi thả cá giống vào lồng, khoảng hai ngày sau, bạn hãy cho cá ăn. Dù sử dụng thức ăn băm nhỏ hay sinh vật sống với miệng cá bạn cũng không nên đổ hàng loạt thức ăn vào lồng.

    Mỗi ngày bạn cho cá ăn hai lần (sáng sớmvà chiều tối). Hãy rải đều thức ăn vào khắp lồng, không tập trung thức ăn vào một chỗ. Bạn cho cá ăn từ từ, tập cho cá quen dần với thức ăn mới. Bao giờ nhận thấy cá táp mồi nhanh, bạn mới tăng dần tốc độ cho ăn lên. Song, xin lưu ý, cá mú không thích những thức ăn rơi nằm trên đáy lồng, do đó bạn cần điều chỉnh làm sao để thức ăn rơi xuống nước thì cá ăn ngay, như vậy mới không phí thức ăn.

    Bạn cho cá ăn theo tỷ lệ 5-10% thức ăn/tổng trọng lượng ca/ ngày.

    Thông thường, nếu thời tiết thay đổi ngột (nóng quá hay lạnh quá), nhiệt độ nước tăng giảm bất thường, dòng chảy biến động nhiều thì cá sẽ bị tress, giảm ăn. Do đó, trong ngày mưa bảo, bạn chỉ cần cho cá ăn một lần giảm thức ăn xuống còn ½-1/4 lượng thức ăn hàng ngày.

    Bạn cần theo dõi lượng thức ăn thường xuyên, chỉ cho cá ăn vừa đủ theo nhu cầu tăng trưởng của chúng, không cho ăn quá nhiều hoặc quá thiếu. Nếu cung cấp nhiều thức ăn đến mức dư thừa thì phải tăng thêm chi phí, còn thiếu cá chậm tăng trưởng, giảm trọng lượng, có thể dẫn đến sức đề kháng bệnh kém.

    6. Chăm sóc quản lý

    Bạn cần kiểmt tra thường xuyên lồng nuôi. Khoảng 4-5 ngày bạn vệ sinh lồng một lần, cọ rửa các nan tre và lưới, tháo bỏ rác rưởi bám chung quanh lồng, dọn sạch thức ăn thừa, trên đáy lồng. Làm sao để lồng thông thoáng lưu thông dễ dàng, giúp hạn chế bệnh cho cá (mặc dù loại cá này hiếm khi bị bệnh).

    Hàng tháng kiểm tra cá một lần, tách những con lớn nuôi riêng để tránh tình trạng cá lớn ăn thịt cá nhỏ hoặc cắn xé khiến cá nhỏ trầy sước và có thể chết. Nói cách khác, nuôi từng đàn có kích cỡ đều là tốt nhất.

    Trong những ngày khí áp thấp, bạn cần lấy mái chèo khấy nước trong lồng để cá đủ không khí, không bị ngột dẫn đến tình trạng giảm ăn hoặc chết.

    7. Thu hoạch

    Thả nuôi 6-8 tháng, cá sẽ đạt trọng lượng trung bình khoảng 0,5-0,8 kg/con. Lúc này, bạn thu hoạch được rồi. Tùy theo loài cá sẽ có trọng lượng khác nhau. Do đó, bạn cần căn cứ vào nhu cầu thị trường trong nước hoặc nước ngoài để nên biết thu hoạch cá có trọng lượng ra sao.

    Thời điểm thu hoạch tốt nhất trước mùa lạnh, vì nhiệt độ xuống con 180C, cá sẽ ngưng ăn không tăng trọng. Nếu nuôi ở vùng không có sự biến động nhiệt độ nhiều thì không sao. Ví dụ như ở miền Nam Việt Nam, còn ở miềnTrung và miền Bắc cần chú ý đến chi tiết này.

    IV. Nuôi trong ao nước lợ

    Hiện nay, người ta nuôi khá nhiều loài cá mú Epinephelus merra ở những tỉnh ven biển của Việt Nam. Việc nuôi cá mú Epinephelus merra tỏ ra đơn giản hơn việc nuôi tôm, cua và động vật thân mềm khá nhiều.

    Nếu nuôi loài cá mú trên (hoặc loài khác), bạn xây dụng ao theo tiêu chuẩn kỹ thật có hệ thống cấpvà thoát nước tốt. Bạn chọn con giống có trọng lương 20-30 g/con có nguồn tự nhiên, thả vào ao nuôi từ tháng hai đến tháng ba với mật độ 1-2 con/2m2.

    Ca mú Epinephelus merra loài ăn tạp. Thức ăn chủ yểu của chúng là cá chải có kích thước nhỏ và cá biển rẻ tiền. Bạn hãy băm nhỏ cá rồi cho cá mú ăn. Trong 3 tháng đầu thả nuôi bạn cho ăn khoảng 30-40% thức ăn/ tổng trọng lượng cá (mỗi con dài từ 1-3 cm). Đến tháng tư lượng thức ăn giảm xuống còn 15-20%/tổng trọng lượng cá (lúc này mỗi con dài 3-4 cm).

    Mỗi ngày bạn cho cá mú ăn hai lần, thức ăn được rải đều khắp ao. Hằng ngày, trong quá trình cho ăn, bạn đều chỉnh lại lượng thức ăn để tránh tình trạng dư thừa hoặc thiếu thức ăn cho cá.

    Sau 7 tháng nuôi, cá mú đạt trọng lượng trung bình 0,5 kg/con. khả năng kháng bệnh của loài cá này mức tương đối, do tỷ lệ sống của chúng vàokhoảng 80-85%/ bầy cá.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cá Mú Trân Châu Phú Yên
  • Thuê Xe Máy Đi Ăn Đặc Sản Cá Mú Phú Yên
  • Cá Mú Nướng Phú Quốc
  • Nơi Bán Cá Mú Đen Phú Quốc Giá Tốt Nhất
  • Cá Mú Bao Nhiêu 1 Kg
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Vược Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Cung Cấp Cá Viên Chiên, Bò Viên, Tôm Viên, Xúc Xích, Phô
  • Bảng Báo Giả Sỉ Cá Viên Chiên
  • Bí Quyết Kinh Doanh Cá Viên Chiên {Hái 1
  • Báo Giá Xe Bán Cá Viên Chiên Rẻ Nhất 2022
  • Cung Cấp Cá Viên Đk Food, Minh Đạt, Việt Sin, Tân Việt Sin
  • Cá vược (Lates calcarifer) là loài cá có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Có thể sống trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn; tốc độ phát triển tốt. Sau 6-8 tháng nuôi, cá đạt cỡ thương phẩm từ 0,5-0,8kg/con, tỷ lệ sống đạt trên 70%.

    Hiện nay, đối tượng nuôi đặc sản nước ngọt chưa đa dạng, việc đưa cá vược vào nuôi trong ao nước ngọt sẽ góp phần chuyển đổi, đa dạng đối tượng nuôi thuỷ sản và tăng hiệu quả kinh tế.

    Cá vược là loài cá dữ, phân đàn, thường ăn thịt lẫn nhau. Do vậy, để hạn chế tỷ lệ hao hụt, nuôi cá vược nên chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn ương cá giống và giai đoạn nuôi cá thịt.

    I. Giai đoạn ương cá giống 1. Bố trí ao ương

    – Ao có kích thước từ 500 -1.000m2.

    – Mức nước trong ao từ 1,2-1,5m.

    – Cửa cống có lưới chắn với kích thước mắt lưới là 1mm để ngăn sự xâm nhập của địch hại và sinh vật cạnh tranh thức ăn, đồng thời hạn chế cá giống thoát ra ngoài.

    2. Chuẩn bị ao ương

    – Tháo cạn ao nuôi, nạo vét bùn đáy, diệt cá tạp.

    – Bón vôi nung: 30-50 kg/1.000m2. Phơi đáy ao từ 3 – 5 ngày.

    3. Cách thuần dưỡng cá

    Mặc dù cá vược có thể nuôi trong ao nước ngọt, lợ hoặc mặn, nhưng cá con cần phải thuần hoá dần với nồng độ muối nơi cung cấp giống gần tương ứng với nồng độ muối trong ao ương để giảm tỷ lệ hao hụt.

    4. Thao tác thả cá giống

    Việc thả cá giống được tiến hành vào buổi sáng (6-8 giờ) hoặc chiều tối (17-18 giờ). Trước khi thả giống cần ngâm bao cá giống trong môi trường nước ao khoảng 5 – 10 phút. Sau đó mở miệng bao để cho cá từ từ bơi ra. Cỡ cá thả từ 2 – 3 cm, mật độ từ 20 – 50 con/m2.

    5. Thức ăn và cách cho cá ăn

    – Cá tạp xay nhuyễn hoặc băm nhỏ (cỡ mồi 4 – 6mm).

    – Tuần thứ nhất: Cho cá ăn với tỷ lệ 100% khối lượng thân và cho ăn 2 lần/ngày (8 giờ và 17 giờ).

    – Tuần thứ hai: Cho cá ăn với tỷ lệ 60% khối lượng thân.

    – Tuần thứ ba: Cho cá ăn với tỷ lệ 40% khối lượng thân.

    – Thời gian và vị trí cho cá ăn cần cố định. Cá vược bắt mồi chủ động và không ăn thức ăn chìm ở đáy ao, nên cho cá ăn từ từ. Khi ăn no cá phân tán thì ngừng cấp thức ăn. Trong vài ngày đầu sau khi thả cá nên cho cá ăn 5 – 6 lần/ngày đến khi cá thích nghi hoàn toàn thì có thể giảm số lần cho ăn còn 2 lần/ngày.

    – Sau 2 – 3 tuần, cá giống đạt cỡ 8 – 10cm thì chuyển sang ao nuôi cá thịt.

    II. Giai đoạn nuôi cá thịt 1. Chuẩn bị ao nuôi

    Gồm các bước như chuẩn bị ao ương.

    2. Thả cá giống

    – Mật độ thả cá: 2-3 con/m2.

    – Cỡ cá giống: 8-10 cm.

    – Công thức thả ghép 1: cá vược 23%, rô phi 38%, mè 19%, trôi 15%, chép 5%. Thả cá vào buổi sáng sớm hoặc buổi chiều mát.

    Cá vược được thả trước từ 7-15 ngày sau đó mới thả các loại cá khác. Mục đích là cho cá vược quen ăn mồi chết.

    Cá rô phi 20-30 con/kg, trôi 10-15 con/kg, mè 8-10 con/kg, chép 8-10con/kg.

    – Công thức thả ghép 2: thả 100-200 kg cá rô phi ta (80-50g/con)/30.000-50.000m2. Sau 25-30 ngày mới thả cá vược giống cỡ 8-12 cm với mật độ 2 con/m2. Mục đích, cá rô phi sinh sản nhanh làm mồi cho cá vược, giảm thiểu lượng thức ăn bổ sung.

    3. Thức ăn và cách cho cá ăn

    – 2 tháng đầu: Cho cá ăn từ 10-15% khối lượng thân, 2 lần/ngày.

    – Các tháng sau: Cho cá ăn từ 5-7% khối lượng thân, 1 lần/ngày.

    – Khi cá đạt cỡ 1-1,2 kg/con cho ăn từ 3-5% khối lượng thân.

    – Thức ăn được cắt nhỏ hoặc để nguyên con khi cá lớn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Vược Thương Phẩm (Tiếp Theo)
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Vược Thương Phẩm (P1)
  • 【4/2021】Cung Cấp Bán Cá Vược Giá Sỉ Lẻ Tại Tphcm Bao Nhiêu 1 Kg【Xem 655,875】
  • 【4/2021】Khô Cá Sửu Bán Ở Đâu Tại Tphcm
  • Thay Đổi Khẩu Vị Với Món Cá Chỉ Vàng Nướng Sa Tế
  • Kỷ Thuật Nuôi Cá Bớp Thương Phẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Cá Mai Tươi Bao Nhiêu Tiền 1Kg Tại Tphcm
  • Giá Cá Mặt Quỷ Bao Nhiêu Tiền 1Kg
  • Cá Bớp Là Cá Gì Giá Bao Nhiêu Tiền 1Kg
  • Cá Giò Sống Bán Tại Thành Phố Hồ Chí Minh Giá Bao Nhiêu Tiền
  • Cá Giò Sống Giá Bao Nhiêu Tiền 1 Kg? Mua Ở Đâu Giá Rẻ?
  • Trong thời gian gần đâ y, cá giò đã được nuôi phổ biến trong lồng bè ở vùng biển các địa phương Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An và Vũng Tàu. Chúng có tốc độ sinh trưởng nhanh, từ con giống cỡ 20 -25g/con sau 1 năm nuôi có thể đạt 4 – 5kg/con. Ðây là đối tượng có rất nhiều triển vọng đối với nghề nuôi biển ở nước ta. Hiện nay, hầu hết các lồng nuôi chỉ sử dụng con giống từ nguồn sinh sản nhân tạo vì sự khan hiếm con giống loài này ở tự nhiên. Chính vì vậy, nhu cầu con giống đang ngày càng gia tăng ở nhiều địa phương.

    Nuôi vỗ: Cá bố mẹ được nuôi vỗ trong lồng lưới. Trong điều kiện nuôi vỗ, cá giò ở tuổi thứ 2 có thể thành thục tuyến sinh dục.

    Sinh sản: Cho cá đẻ trong bể xi măng hoặc trong giai, ấp trứng và ương ấu trùng trong bể composite hoặc bể xi măng.

    Trứng được đẻ trong bể xi măng, kể cả tiêm hoặc không tiêm hoocmôn, cá giò thường đẻ vào ban đêm, tập trung vào thời gian từ 21 – 24 giờ. Trứng được thu ngay sau khi đẻ, tách riêng và ấp ở nhiệt độ 28-30oC. Sau 24 – 28 giờ, trứng sẽ nở thành cá bột có chiều dài 4 – 4,2mm.

    Thức ăn cho ấu trùng cá: ở ngày tuổi thứ 3, cá bắt đầu ăn sinh vật phù du cỡ nhỏ như luân trùng, ấu trùng hầu hà, nauplius của copepoda; tiếp đến là loại cỡ lớn như copepoda trưởng thành, artemia ấu trùng và trưởng thành, sau đó có thể luyện chúng ăn thức ăn hỗn hợp. Giải quyết thức ăn tươi sống cho ấu trùng cá: nuôi tảo thuần trên túi ni lông; nuôi luân trùng thâm canh trên bể nhỏ; gây nuôi sinh vật phù du trên ao đất vùng nước lợ. Vì vậy, việc áp dụng quy trình sản xuất giống cá giò đã dễ; dàng, thuận lợi và có điều kiện mở rộng.

    Kết quả: Tỷ lệ cá giống tính từ khi nở cỡ 12-15cm đạt 4-5%, thời gian ương từ 50-60 ngày.

    Ðịa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I Ðình Bảng-Từ Sơn – Bắc Ninh; Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản Cát Bà.

    Kỹ thuật nuôi cá bớp (cá giò)

    Vị trí tốt cho việc nuôi lồng cá biển:

    – Độ sâu phải bảo đảm đáy lồng cách đáy biển ít nhất 2-3m.

    – Tránh nơi sóng to, gió lớn như sóng cao trên 2m và tốc độ dòng chảy 1m/giây vì có thể làm hư hỏng lồng, trôi thức ăn, làm cho cá hoạt động yếu gây chậm lớn và sinh bệnh.

    – Cần tránh những nơi nước chảy quá yếu hay nước đứng mà có thể dẫn đến cá chết do thiếu oxy, thức ăn thừa, mùn bã cũng tích lũy ở đáy lồng gây ô nhiễm.

    – Tốc độ chảy thích hợp từ 0,2-0,6m/giây.

    – Đảm bảo hàm lượng oxy từ 4-6mg/lít, nhiệt độ 25-30 độ C, độ mặn từ 27-33 %o.

    – Cần tránh xa những nơi gây ô nhiễm dầu, ô nhiễm chất thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt và tàu bè. Nơi có thể xảy ra hồng triều.

    Trở ngại trong nuôi lồng cá biển:

    Trong nuôi lồng cá biển, dù có nhiều ưu điểm, song, vẫn còn trở ngại trước mắt sau:

    Bẩn lồng: Lồng nuôi cá bị dơ bẩn nặng trong quá trình nuôi là vấn đề khó có thể tránh khỏi, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới. Chua and Tend (1980) đã ghi nhận lại rằng, do sự gây dơ bẩn nhanh chóng của các sinh vật như hào, giun, rong, tảo … mà làm lồng có mắc lưới 37 mm ở eo biển Penang bị giảm lưu thông nước đến 60% sau 2 tuần ngâm trong nước và đến 87% sau 1 tháng. Lồng có mắc lưới 12,7 mm lưu thông nước giảm 93% sau 3 tuần hoạt động.

    Nguồn giống: Hiện tại, nguồn giống cung cấp cho nghề nuôi cá lồng vẫn còn dựa chủ yếu vào khai thác tự nhiên. Tuy nhiên, sản lượng khai thác không thể đáp ứng được nhu cầu con giống để mở rộng sản xuất hơn. Hơn nữa do tỷ lệ con đực (cá mú) trong quần thể tự nhiên ít hơn 5%, việc thu gom cá đực cho nghiên cứu và sản xuất giống cũng bị hạn chế.

    Thức ăn: Do việc nuôi cá lồng bị phụ thuộc vào nguồn thức ăn là cá tạp, khả năng cung cấp sẽ bị động và vì thế cho ăn không đều. Thức ăn là cá tạp không đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng cho cá nuôi, và cá tạp thối bẩn cũng dễ gây ra bệnh cho cá.

    Chất lượng nước thay đổi: Việc nuôi cá lồng còn bị ảnh hưởng mạnh bởi sự thay đổi dòng chảy sóng gió, và các yếu tố khác như độ mặn, pH, độc tố do nhiễm bẩn, tảo nở hoa… Vì thế, trước khi nuôi, cần xem xét và chọn vị trí thích hợp.

    Địch hại: Nhiều quan sát cho thấy rằng nuôi cá trong lồng có nhiều địch hại như rắn biển mực, cá dữ phá lồng hay vào lồng gây hại cho cá nuôi, chim cũng là địch hại nguy hiểm cho cá khi lồng không được bảo quản kỹ.

    Bệnh cá: Cá biển nuôi lồng thường mắc một số bệnh ký sinh và vi khuẩn.

    Các vấn đề cần lưu ý để đảm bảo sức khỏe cho cá trong nuôi lồng:

    • Chọn giống loài nuôi ít mẫn cảm với bệnh tật
    • Chọn vị trí cẩn thận
    • Cá giống khoẻ mạnh và kích cỡ hợp lý
    • Thường xuyên theo dõi, chăm sóc cá nuôi để chuẩn đoán tình trạng sức khoẻ cá
    • Mật độ nuôi vừa phải
    • Không cho cá ăn quá thừa cũng như quá thiếu
    • Thức ăn phải tươi, không có mầm bệnh
    • Loại bỏ cá chết ra khỏi lồng và hủy cá
    • Ngăn ngừa địch hại
    • Vệ sinh dụng cụ thường xuyên
    • Thao tác nhẹ nhàng khi đánh bắt cá

    (Nguồn: ĐH Cần Thơ)

    Độ cao của đáy ao phải ở trên mực nước trung bình, có rãnh ở giữa ao rộng 2 m hướng về phía cửa cống…

    Ao nuôi: Ao thường có diện tích nhỏ từ 0,1-1ha. Bờ ao phải có đăng chắn để phòng cá thoát đi và các loài ăn hại xâm nhập. Độ cao của đáy ao phải ở trên mực nước trung bình, có rãnh ở giữa ao rộng 2 m hướng về phía cửa cống, theo chiều dài ao để tiện việc tháo cạn nước và làm nơi trú ẩn cho cá vào những ngày nắng to. Đáy ao là đất thịt để các loài tảo ở đáy phát triển tốt và hố do cá đào không bị san bằng đi như trên đất cát.

    Xử lý ao trước khi thả cá: Cá bớp ăn tảo ở đáy, vì vậy cần làm cho tảo phát triển tốt trước khi thả cá. Đối với ao mới đào bón 600kg phân chuồng/ha, có thể cho thêm cám gạo, cho nước biển có độ mặn thấp, giữ độ sâu 15 cm. Tảo silic và tảo lam sẽ phát triển ở đáy ao. Những loài ăn tảo ở đáy như ốc phải diệt trừ bằng Bayluscide 0,3ppm, Sumithion 0,3ppm hoặc Lebaycid 0,25ppm.

    Thả giống: Mật độ thả 30.000 con/ha, tối đa là 50.000con/ha.

    Quản lý ao: Thời kỳ đầu, nước ao giữ ở mức 15cm. Sau 45 ngày, khi cá đạt cỡ trên 5cm sẽ làm đáy ở nền tảo bị hư hại, bà con cần tháo cạn nước và phơi nắng 3-6 ngày. Sau đó bón phân bắc, cám gạo… Cho nước lợ vào ao, lớp tảo đáy lại được hình thành. Mực nước giảm xuống 2cm-7cm.

    Nhiệt độ: Cá bớp sinh trưởng tốt nhất ở nhiệt độ trên 28 oC. Chúng ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưới 14 o C.

    Thu hoạch: Dùng lờ tre chắn ở lối chính vào hố của cá để đơm cá. Cũng có thể dùng lưới vó chắn ở cửa lấy nước. Khi tháo nước vào ao, cá tập trung ngày trên vó, kéo lưới lên bắt cá.

    Cá bớp nuôi từ 1-2 năm để đạt được quy cỡ thương phẩm tuỳ thuộc điều kiện ao và cách quản lý. Cỡ thương phẩm nhỏ nhất là 24 g, cỡ lớn nhất đạt 40 g, tỷ lệ sống 60%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Bớp
  • Tìm Hiểu Kỹ Thuật Nuôi Cá Giò Thương Phẩm
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Bóp (Cá Giò)
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Đối Mục Trong Ao Đất
  • #1 Nem Rán Tiếng Anh Là Gì? Cách Làm Nem Rán Bằng Tiếng Anh
  • Nuôi Thương Phẩm Cá Tầm Siberi

    --- Bài mới hơn ---

  • Đơn Giản Hóa Thủ Tục Hành Chính: Vẫn Còn Tình Trạng ‘trên Thúc Giục, Dưới Bình Chân’
  • Truy Tìm Địa Chỉ Lẩu Cá Tầm Ngon Nhất Đà Lạt Tại Ngư Sơn Quán
  • Điểm Qua 10 Quán Lẩu Ngon Tại Đà Lạt Mà Bạn K Thể Bỏ Qua
  • ‘đổi Gió’ Với Loạt Món Cá Tầm Nướng Hiếm Có Ngay Vườn Đào Cổ Đà Lạt
  • Loạt Cá Tầm To Khủng Khiếp, Nặng Ngang 5 Xe Lead
  • Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản nước lạnh (Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1) đã làm chủ công nghệ ương con giống, nuôi thương phẩm cá tầm Siberi.

    ThS Nguyễn Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thủy sản nước lạnh cho biết, mỗi năm trung tâm đủ khả năng cung cấp khoảng 20 vạn giống cá tầm cho khu vực miền núi phía Bắc. Giống cá tầm Siberi có thời gian nuôi 1 – 2 năm tùy theo nhu cầu.

    Với cá tầm ương giống, sau 2 tháng nuôi từ cỡ 12 – 15 cm (trọng lượng 5 – 7gr/con) đạt trọng lượng khoảng 80 – 100gr với kích cỡ 25 – 30cm, tỷ lệ sống đạt 75%, cá khoẻ mạnh và hạch toán có lãi. Đối với cá thương phẩm, sau khi nuôi 12 tháng từ cá giống cỡ 80 – 100gr, đạt trọng lượng 2kg, với tỷ lệ sống 90%, năng suất đạt 20 kg/m2.

    Ưu điểm khi nuôi cá tầm không gây ô nhiễm môi trường nguồn nước, tạo sản phẩm hàng hoá có tính cạnh tranh cao. Đặc biệt, cá có thể nuôi thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp sản xuất tại Việt Nam. Trong những năm qua, Trung tâm Nghiên cứu thủy sản nước lạnh đã chuyển giao công nghệ và cung cấp giống cho các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc.

    Kết quả thực tiễn từ các mô hình chuyển giao kỹ thuật ương giống và nuôi thương phẩm cá tầm tại các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La cho thấy, tiềm năng tận dụng nguồn nước chảy từ các sông suối, nguồn nước từ các hồ tự nhiên, hồ chứa hoặc mạch ngầm giàu oxy nuôi cá tầm là khá lớn.

    Tổng sản lượng cá từ các mô hình đều trên 15.000 kg, lợi nhuận mỗi mô hình bình quân đều trên 2 tỷ đồng. Các dự án thành công đã góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo công ăn việc làm cho người lao động tại địa phương, khai thác hiệu quả ưu thế về điều kiện tự nhiên của khu vực miền núi phía Bắc.

    “Thời gian thu hoạch cá nên tiến hành thu một đợt lọc hết những con to trội để thu, không nên kéo dài làm nhiều đợt gây strees, cá sẽ giảm ăn, tỷ lệ hao hụt lớn. Cá tầm là loài cá sống trong môi trường có hàm lượng oxy cao nên khi thu hoạch thao tác cần nhanh gọn, tránh để chúng trong môi trường không khí lâu cá sẽ chết”, ThS Nguyễn Thanh Hải.

    Đặc biệt, nhiều mô hình triển khai tại các tỉnh, phương pháp nuôi cá tầm không quá phức tạp khi có thể nuôi trong bể composite, xi măng, hoặc bằng tôn không gỉ sét với độ sâu nước 1 – 1,2m.

    Kích thước bể (m3), đường kính chỉ cần 2 – 2,5 m, cao 1 – 1,2m. Thức ăn của cá tầm là thức ăn công nghiệp chế biến sẵn dạng viên chìm, có thể sử dụng thức ăn nhập hoặc thức ăn sản xuất trong nước nên có tiềm năng, lợi thế để nuôi với quy mô lớn.

    Các cán bộ tại Trung tâm Nghiên cứu thủy sản nước lạnh lưu ý, khẩu phần ăn của cá tầm được xác định theo khối lượng cá và nhiệt độ nước, trước khi cho ăn quan sát xem tình trạng bắt mồi của cá để định lượng cho phù hợp với điều kiện.

    Về cuối bữa cho cá ăn với lượng nhỏ, ít một, thả ít thức ăn và quan sát trong vòng 10 phút thấy thức ăn bị phân tán, cá không có hoạt động bắt mồi ngừng không cho ăn, như vậy là lượng thức ăn đã đáp ứng đủ khẩu phần.

    Đặc biệt, khoảng 15 – 30 ngày cân mẫu cá 1 lần để xác định kích cỡ trung bình và tổng khối lượng cá trong ao để xác định lượng cho ăn bằng cách cân và lấy trung bình khối lượng của 30 cá thể để điều chỉnh lượng thức ăn cho kỳ tiếp theo. Sau khi nuôi 12 – 15 tháng, khi cỡ cá đạt khoảng 2 – 3 kg/con có thể thu hoạch, trước thời gian thu hoạch 2 ngày ngừng cho cá ăn.

    Năm 2005, Trung tâm Nghiên cứu thuỷ sản nước lạnh bắt tay thực hiện dự án nhập công nghệ ương giống cá tầm.

    Năm 2006, chính thức triển khai đề tài KH-CN cấp Bộ “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ nuôi thương phẩm cá tầm Acipencer baerri”.

    Năm 2009, dự án hoàn thành và nghiệm thu, trung tâm đã làm chủ công nghệ ương con giống và nuôi thương phẩm cá tầm trong điều kiện tại Việt Nam.

    NGUYÊN HUÂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Rõ Nguồn Gốc Xuất Xứ Cá Tầm
  • Không Còn Trứng Cá Muối: Những Kẻ Săn Tìm Đã Đẩy Cá Tầm Đến Bờ Tuyệt Chủng Sau 200 Triệu Năm.
  • Top 5 Địa Chỉ Ăn Lẩu Cá Tầm Ngon Khó Cưỡng Tại Sapa
  • Trứng Cá Tầm Có Tác Dụng Gì ?
  • Top 4 Nhà Hàng Cá Tầm Ở Hà Nội Ngon Quên Lối Về
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100