Các Khôi U / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Psc.edu.vn

Các U Của Tổ Chức Liên Kết

PHÂN LOẠI CÁC KHỐI U THEO TỔ CHỨC

CÁC U CỦA TỔ CHỨC LIÊN KẾT

1. Đại cương :

Mô liên kết là mô được sinh ra từ trung bì nằm hoàn toàn bên trong cơ thể và có chức năng đệm đỡ liên kết các thành phần với nhau tạo hình cho cơ thể dự trữ và vận chuyển các chất dinh dưỡng cho các mô khác , bảo vệ cơ thể bằng thực bào và sinh kháng thể .

Mô liên kết chính thức thành phần tế bào gồm ; , tế bào trung mô dự trữ (mô bào – histyocyte ) , tế bào lưới (reticulocyt ), nguyên bào sợi ,đại thực bào, tương bào , mastocyt , tế bào mỡ , tế bào nội mô và các chất gian bào trong đó có các sợi và chất căn bản không hình thái .

Đặc tính chung của u lỉên kết : các tế bào của mô liên kết tuy có cấu tạo chức phận khác nhau nhưng có một nguồn gốc từ tế bao trung mô nên có một số đặc tính chung tế bào nằm cách xa nhau , nằm trong chất căn bản nên không có tính phân cực dễ biến đổi sang nhau , có khả năng di động và thực bào , giữa các tế bào là tổ chức căn bản , các sợi kiên kết nằm xen kẽ nhau , cho nên các khối u liên kết cũng mang các đặc tính trên nếu là u ác tính chắc như thịt nên gọi là sarcom ,  ranh giới khối u rõ hơn so với ung thư biểu mô , khối u thường có hoại tử và di căn theo đường máu .

2. Các u liên kết lành tính :

2-1.  U xơ  ( fibroma ): u có thể gặp ở mọi lứa tuổi , u có thể ở mọi nơi trong cơ thể , u thường có đường kính vài cm .

Loại tế bào trong u xơ là nguyên bào sợi và tế bào sợi hình thoi xắp xếp thành bó đan chéo nhau và kèm theo tăng sản sợi keo . Tỷ lệ giữa các tế bào và chất tạo keo thay đổi rất nhiểu tùy từng trường hợp. Các u xơ cứng ( fibroma durum ) thì không có tế bào hoặc ít tế bào mà có rất nhiều sợi tạo keo. U xơ mềm ( fibroma molle ) thì có rất nhiều tế bào. Tất nhiên, giữa hai loại đó, lại có những mức độ khác nhau. Khối u càng có nhiều tế bào bao nhiêu thì nó càng gần với khả năng ác tính. Người ta thường cho rằng u xơ là loại u hay gặp. Nhưng thực ra, nếu là u xơ đơn thuần thì lại hiếm.

– Về đại thể, nó là một khối u tròn, có vỏ bọc, màu trắng. Mặt cắt dẹt (cứng  không vồng lên) và có những dải óng ánh chạy chéo qua.

- Về vi thể, thấy có những bó sợi chạy vắt chéo nhau. Xen kẽ giữa các bó đó, là những tế bào hình thoi số lượng nhiều hoặc ít.

- Vị trí

U xơ thần kinh (neurofibroma) da có thể đơn độc, tạo thành một cục cứng và thường rất căng nằm ở trong da. Là một loại u có ở mọi lứa tuổi  thường ở vùng lưng , thân người chi , bả vai , vùng da u thường có tăng sắc tố tuy nhiên rất hiếm thấy dạng u đơn độc , đôi khi u rất lớn và có khi tới hàng trăm u  ở nhiều nơi thì gọi là bệnh Von Recklinghau-sen. Còn gọi là bệnh u thần kinh sợi (neurofibromatosis) . U thường phát triển từ vỏ liên kết của bao dây thần kinh . U thường có vỏ bọc hình tròn hoặc bầu dục tạo thành cục phình to trên dây thần kinh , mật độ mềm , chun giãn , vì vậy còn có tên là u xơ mềm (molluscum fibrosum). U khác nhiều với u bao Schwann ở nhiều đặc điểm như : u xơ thần kinh thường nhiêu ổ có cấu trúc gồm tăng sản các tế bào nội mạc thần kinh là các tế bào rất giống với tế bào sợi và tăng sản tế bào Schwann . các tế bào này xếp song song với nhau tạo thành các bó các dải lẫn trong mô liên kết kèm nhiều nguyên bào sợi . còn u bao Schwann (Schwannoma ) thường cấu trúc gồm các đám tế bào Schwann hình thoi dài nhân nhỏ , bào tương ít các tế bào xắp xếp 2 kiểu : Kiểu Antoni A rất giàu tế bào , các tế bào họp thành bó xoắn nhau , hoặc xếp thành hình dậu song song với nhau hay cuộn tròn tạo các thể Verocay giống những thể xúc giác . Kiểu  Antoni B ít tế bào , các tế bào hình sao trong mô đệm thoáI hoá nhầyvà thoái hoá trong . u thường tiến triển chậm , khoảng 10% các u có kích thước lớn có thể thành ác tính .

.U xơ thần kinh của các dây thần kinh dưới sâu phát triển từ các dây thần kinh dưới da và sâu hơn. Thể này ít gặp hơn thể u xơ thần kinh da nhưng nó quan trọng vì hay có xu hướng chuyển thành ác tính.

U thần kinh đám rối (plexiform neurofibroma) u thường là những cục không đều hay ở lớp bì vùng da đầu , gáy , mi mắt , hiếm ở hốc miệng là do mô nội thần kinh (endoneurium) phát triển thành. Nó làm cho dây thần kinh dày lên và ngoằn nghèo. Phần nhiều các khối u này có thể cắt bỏ được.

+ Các u xơ của các niêm mạc thì nằm ở dưới niêm mạc của dạ dày và ruột. Chúng thường lồi vào buồng trứng, thận và các tạng khác và thường chỉ nhỏ. U xơ mọc từ vòm họng có thể lớn tới mức đe dọa đời sống của bệnh nhân.

+ U xơ của thành bụng, gọi là u xơ cứng (desmoid tumor). Do Mankin tìm ra năm 1932 . Khoảng 80% trường hợp gặp ở phụ nữ đã sinh đẻ con, đôi khi thấy ở trẻ nhỏ và nam giới có thể do đã từng bị một chấn thương vào thành bụng.

. U không có ranh giới và không có vỏ bọc , rắn chắc , không đau , thường xâm nhập mô kế cận ,kích thước tới 15cm và có khi nặng tới choc kg , u có mật độc chắc màu trắng xám , kèm những dảI xơ do đó có  chữ (desmos) nghĩa là (dải) hoặc (sợi) . . Cấu trúc gồm các nguyên bào sợi biệt hoá nhiều hay ít xếp thành bó đan chéo nhau , không thấy nhân quái , nhân chia có thể có nhiều vùng thoái hoá nhầy . các tế bàu u  xâm lấn vào cơ. Các thớ cơ bị ôm vào trong khối u sẽ biến đổi một cách đặc biệt, tạo thành những tế bào khổng lồ nhiều nhân trông giống như những tế bào khổng lồ dị vật.

U thường phát triển tại chỗ dễ tái phát khi cắt bỏ không triệt để .

2-2.  U mỡ (lipoma): thường gặp ở phụ nữ 40-50 tuổi được cấu tạo bơi tổ chức mỡ. Là một khối u hay gặp, xuất hiên chủ yếu ở tổ chức dưới da cổ, vai, lưng và mông. Đối khi, nó phát triển từ tổ chức mỡ mạc treo và sau phúc mạc có khi còn thấy u mỡ ở tuỷ xương ( chiếm tỷ lệ 1% các u xương ) , rất hiếm ở hệ thần kinh trung ương . Hiếm hơn nữa, nó có thể xuất hiện trong lớp hạ niêm mạc dạ dày, ruột và có thể tạo thành một khối tựa như polyp. Trong những bệnh suy mòn, trong khi mỡ của cơ thể tiêu đi nhưng khối u mỡ không bị tiêu.

U mỡ là khối u thường đơn độc  mềm, ranh giới rõ, có múi, có vỏ bọc, dễ cắt bỏ. nó không bị dính dưới lớp cân ở dưới sâu những lớp da phủ trên u mỡ thì thường bị lồi lõm do có những dải xơ nối từ da vào u mỡ. U mỡ là một loại u rất lành như những u mỡ sau phúc mạc và u mỡ quanh thận đôi khi, tuy rằng hiếm, có thể chứa những phần tổ chức mỡ phôi thai phát triển nhanh và xâm lấn. Những u này gọi là sac – côm mỡ.

U đông miên ( hibernoma ), như tên của nó, dùng để chỉ một loại khối u phát sinh từ một tổ chức mỡ mầu nâu có tính chất giống như tổ chức mỡ trong nhưng cái gọi là tuyến đông miền của một số động vật ngủ đông. Vị trí hay gặp là ở vùng hai bả vai nhưng đôi khi cũng gặp ở nách và đùi. Kiến trúc vi thể điển hình của nó là những tế bào to chứa đầy những hố mỡ nhỏ. Cái tên (u đông miên) ngày nay vẫn còn được dùng chỉ có ý nghĩa lịch sử nhưng thực ra, có lẽ u này u này chỉ đơn giản là một u mỡ phát triển trong một tổ chức mỡ chưa trưởng thành (Cox).

2-3. U nhầy ( myxoma ): u thường gặp ở người tuổi trung niên gặp ở mọi nơI trong cơ thể .  ở tim vùng lỗ bầu dục tâm nhĩ trái . u thường nhỏ , đơn độc và thường có vỏ bọc

Kiến trúc vi thể của u nhầy gồm các tế bào hình sao hoặc hình đa dạng, hình thoi có nhiều nhánh bào tương nối tiếp nhau trong một mô đệm nhầy chứa nhiều mucopolysarcharit  giống như  tổ chức nhầy của cuống rốn . Chất nhầy này cos thể nhuộm bằng mucicarmin. Khối u có lẽ có nguồn gốc từ tổ chức trung mô nguyên thuỷ chưa biệt hoá , u xâm nhập tại chỗ và dễ táiI phát

2-4. U sụn: u chiếm 10% các u lành tính của xương thường gặp ở bệnh nhân 20-40 tuổi , 60% gặp ở xương đốt bàn tay bàn chân , đôI khi they u sụn ở mô mềm như đường hô hấp , nieem mạc miệng lưỡi . u thường đơn độc , u có nhiều thuỳ Vì không có mạch máu nên nó dễ bị thoái hóa nhầy. Nó cũng thường bị canxi hóa diện cắt có nhiều ổ can xi hoá . hoặc hoá xương . Về mặt vi thể, nó khác sụn trong ở chỗ các tế bào sụn nằm riêng rẽ chứ không họp thành nhóm. U sụn tiến triển chậm lan rộng tại chỗ , 55 trở thành ác tính  U có lẽ có nguồn gốc từ mô sụn tồn dư trong cơ thể .

2.5. U xương ( osteoma ) : u thường gặp ở bệnh nhân 40-50 tuổi hay gặp ở xương sọ , mặt , xương hàm , u thường một khối , cấu trúc u gồm các mô xương biệt hoá rõ gồm các bè xương với các tế bào xương , u tiến triển chậm và thường là một hamactom hơn là một u xương thực thụ . u xương còn có thể gặp  U xương xốp ( cancellous osteoma ) được cấu tạo bởi tổ chức xương xốp. Nó phát sinh từ sụn nơi đầu xương giống như u sụn và mặc dầu đã biến thành xưong, nó vẫn phủ bởi một lớp sụn. Gai xươngdưới móng là một u xương xốp mọc từ mặt lưng đốt xương cuối của ngón chân cái, nó đẩy móng chân lên nên rất đau.

3.  Các u liên kết ác tính 

3-1. Đặc tính chung:

Như ta đã biết, các u liên kết ác tính gọi là sarcom. Chúng họp thành một nhóm khá phức tạp. Có nhiều khối u được gọi là sac-côm tuy rằng chúng không phải là u của tổ chức liên kết mà cũng không tiến triển giống như thế. Chẳng hạn như sac-côm lympho, sac-côm hắc tố, sac-côm cơ,

Tính chất ác tính của sac-côm thay đổi rất nhiều. Điều này làm cho chuẩn đoán vi thể càng thêm khó khăn. Nhưng u càng ác tính bao nhiêu thì càng dễ chuẩn đoán bấy nhiêu .

* Hình ảnh đại thể.

Mô tả về các sac-côm là một điều khó khăn vì chúng thay đổi rất nhiều .

Tuy nhiên, chúng cũng có một số điểm chung. Một sac-côm điển hình thì chắc như thịt (sark: thịt). Nó là một khối u lớn, có ranh giới với  tổ chức xung quanh rõ hơn là một ung thư biểu mô. Những u nào nhiều tế bào hơn thì có thể giống như chất trắng của não.  Mặt cắt đồng nhất. Đây là một trong những đặc điểm chủ yếu. Nhưng vì hay có thoái hóa cho nên tính đồng nhất cũng bị thay đổi. Khối u có thể phát triển to tới mức máu nuôi dưỡng không đủ, kết quả là thấy có hoại tử, thoái hoá nhầy, dạng nhầy, và nhuyễn hoá tổ chức u. Biến chứng hay gặp nhất là xuất huyết vì các mạch máu thì nhiều mà thành mạch lại rất mỏng.

* Hình ảnh vi thể.

Những sac-côm kém biệt hóa là những u có nhiều tế bào và tổ chức đệm thì lại  ít tới mức khó nhận ra được. Càng biệt hóa bao nhiêu thì tổ chức đệm càng nhiều và càng điển hình bấy nhiêu. Cho nên, trong sac-côm xương thì giữa các tế bào có tổ chức xương. Cấu trúc tổ chức học chung của một sac-côm khác về căn bản với một ung thư biểu mô, cũng giống như tổ chức liên kết khác với biểu mô. Các tể bào biểu mô họp thành những nhóm ngăn cách vơi nhau bởi một tổ chức đệm nhưng tổ chức đệm không xuyên vào khe giữa từng tế bào riêng lẻ trong nhóm đó. Đó là kiểu cấu trúc thành ổ và giống với biểu mô từ đó, khối u phát sinh ra. Trái lại, trong sac-côm thì không có kiểu tập họp thành ổ mà các tế bào được rải đều ra và bị cách biệt với nhau bởi tổ chức đệm. Tổ chức đệm này có thể rất nhiều nhưng trong sac-côm xương hoặc có thể rất kín đáo khiến cho phải dùng những phương pháp nhuộm đặc biệt mới phát hiện ra được . Cac tế bào của sac-côm còn có những đặc điểm khác nữa của tổ chức trung diệp. Ranh giới của chúng có xu hướng không rõ ràng bằng các tế bào của ung thư biểu mô. Có nhiều mạch máu, thường chỉ là các mao mạch và xoang mạch xuyên vào tổ chức u, trong khi ở ung thư biểu mô các mạch máu chỉ giới hạn trong phạm vi tổ chức đệm nằm xen kẽ giữa các nhóm tế bào. Vì vậy, trong ung thư biểu mô thường dễ có hoại tử do phát triển của các tế bào vượt quá sự phát triển của các mạch máu. sac-côm phát triển mạnh mẽ trên tổ chức đệm có nhiều mạch máu như vậy cho nên hay sảy ra xuất huyết là điều không có gì đáng ngạc nhiên cho lắm. Các ung thư biểu mô có xu hướng phát triển bằng cách sâm lấn. Các hình nhân chia trong sac-côm có ý nghĩa hơn các hình nhân chia trong các ung thư biểu mô vì trong các biểu bì bị viêm và bị kích thích cũng thường có những hình nhân chia.

Về loại tế bào liên kết thì có thể là nguyên bào sợi, nguyên bào xương, tế bào sụn… trong những thể không biệt hóa , không thể nhận ra là loại tế bào gì. Có những khối u lại có nhiều loại tế bào khác nhau. Trong sac-côm phát triển nhanh thì có nhiểu hinh nhân chia, trong những sac-côm phát triển chậm thì hình nhân chia lại thưa thớt. Điều này có một giá trị lớn trong việc phân biệt với một u xơ nhiều tế bào, nhưng cũng cần ghi nhớ rằng các hình nhân chia còn có thể thấy trong những tổ chức hạt phát triển nhanh. Các tế bào u khổng lồ là một hình ảnh có thể gặp trong một sac-côm ác tính mạnh. Nếu khối u bị nhiễm trùng, các tế bào khổng lồ có thể thực bào nhiều bạch cầu đa nhân, tuy nhiên hiện tượng này ít gặp.

Lan tỏa: sac-côm phát triển phình ra nên hay tạo ra khối u lớn, nhưng nó cũng có thể xâm lấn vào tổ chức xung quanh. Tốc độ phát triển thay đổi rất nhiều: Phẫu thuật cắt bỏ không hoàn toàn làm tăng tốc độ phát triển. Một sac-côm phát triển nhanh đôi khi có thể vượt quá mức cung cấp của máu do đó, khối u có thể ngừng lại hoặc thu nhỏ lại. Lúc đó, sẽ xảy ra hiện tượng xâm lấn. Các tế bào u bò theo mặt các cân, giữa khe các thớ cơ, qua các ống Havers của xương…Do xu hướng xâm lấn này nên việc cắt bỏ hoàn toàn là một điều khó khăn và u hay bị tái phát.

Di căn xảy ra theo đường máu.Các mạch máu thì rất nhiều mà thành thì lại mỏng nên các tế bào sac-côm dễ dàng xuyên vào trong lòng mạch và di căn sớm theo đường máu là điều không thể tránh khỏi. Các di căn đầu tiên hình thành ở phổi nhưng các tế bào u có thể đi qua phổi để đi tới các tạng khác. Do sự lan tỏa sớm như vậy nên ngay đối với các sac-côm có vẻ có thể phẫu thuật dễ dàng nhất, cũng đều cần phải chiếu X quang phổi để phát hiện các di căn. Lan tỏa theo đường bạch huyết ít gặp nhưng cũng có thể xảy ra trong 5 tới 10% trường hợp.

Vị trí: Các sac-côm rất thay đổi vì khắp cơ thể, đâu cũng có tổ chức liên kết. Hay gặp nhất ở xương, tổ chức da, cân và cơ.

3-2. Các loại sac-côm:

Có 2 cách phân loại sac-côm.

Cách thứ nhất phân loại theo hình ảnh tế bào.

Cách thứ hai phân loại theo kiến trúc tổ chức học.

Trong cách thứ nhất, khối u được đặt tên theo loại tế bào nào có nhiều nhất trong khồi u. Do đó, ta có sac-côm tế bào tròn (to và nhỏ), sac-côm tế bào hình thoi (to và nhỏ), sac-côm tế bào pha và sac-côm tế bào khổng lồ. Cách phân biệt này ít có ý nghĩa thực tế.

Trong cách phân loại thứ 2, khối u được đặt tên theo tổ chức liên kết từ đó nó sinh ra. Do đó, ta có sac-côm xơ, sac-côm xương, sac-côm sụn… Cách phân loại này hoàn hảo hơn cách phân loại trên. Nhưng nếu tế bào u chưa được biệt hóa rõ thì lại không thể đặt tên được. Thường khi, tổ chức đệm lại điển hình hơn là các tế bào u, chẳng hạn như chất xương, chất sụn, chất tạo keo…

3-2-1. Sác côm xơ ( fibrosarcoma) : là loại u ác tính , hay gặp ở người 20-50 tuổi thường they ở mô mềm các chi , mô dưới da, hiêm ở vùng sau trung thất . Đại thể u không có vỏ bọc diện cắt có nhiều ổ hoại tử chảy máu thoáI hoá nhầy chuyển sản sụn xương , dạng xương .

Cấu trúc u gồm hai dạng , ở dạng biệt hoá các tế bào u là những tế bào sợi hinh toi, nhân dài ưa kiềm bào tương ít họp thành bó và dảI tạo thành hình xoắn lốc kèm theo các sợi tạo keo .

Dạng không biệt hoá chiếm tỷ lệ 20% các tế bào đa dạng, nhiều nhân chia nhân không điển hình .

Dạng không biệt hoá thường phát triển nhanh , dễ xâm lấn và di căn đến phổi gan , xương .

Các tế bào hình thoi, có thể to hoặc nhỏ, tế bào càng to thì khối u càng ác tính.

Nói chung hình ảnh đại thể cũng như vi thể thay đổi rất nhiều, tùy thuộc vào mức độ giảm biệt hóa, khối u có thể rất mềm và các tế bào  chỉ hơi có hình thoi .Tổ chức đệm cũng thay đổi. Nó có thể rất thưa thớt hoặc có thể có nhiều sợi khiến cho nó khó có thể phân biệt với một u xơ. Sự có mặt của các hình nhân chia là một trong những đặc điểm có giá trị nhất. Số hình nhân chia ít phần nào chứng tỏ mức độ ác tính của sac-côm.

3-2-2. Sác com thần kinh xơ ( neurofibrosarcoma ).

Còn gọi là sac-côm phát sinh từ dây thần kinh Danh từ này do Ewing đặt ra để chỉ một loại u tế bào hình thoi mà ông ta cho rằng phát sinh từ những dây thần kinh nằm ở dưới sâu. Quan niệm này càng ngày càng nhiều người công nhận đến nỗi ngày nay, phần lớn các sac-côm xơ đều coi là có nguồn gốc từ dây thần kinh. Nhưng Stout thì lại kịch liệt phản đối quan niệm này. Ông ta cho rằng không có chứng cứ nào cụ thể chứng minh rằng các khối u đó phát sinh từ dây thần kinh. Chỉ có một hình ảnh khiến người ta nghĩ tới nguồn gốc thần kinh là các tế bào u có xu hướng họp thành những bó quấn vào nhau. Khối u này thường hiếm hay gặp ở thần kinh quay ,giữa , chầy , rễ tuỷ sống , đám rối cánh tay các nhánh thần kinh bàn tay và bàn chân , các dây thần kinh sọ não .các u có gianh giới rõ lúc đầu, các sac-côm thần kinh khu trú tại chỗ nhưng rồi trong quá trình liên tục phát triển và đặc biệt khi tái phát, chúng xẽ xâm lấn và tổ chức xung quanh, dễ táiphát, ít di căn xa .

Hình ảnh vi thể: thì nói chung là hình ảnh một sac-côm xơ nhưng các tế bào hình thoi  lại sắp xếp với nhau thành những hình xoáy lốc hoặc những bó quấn và nhau. Ngoài ra còn có thể they các tế bào không điển hình nhân kiềm tính , có thể they các tế bào khổng lồ nhiều nhân, tê bào hình thoi .

3-2-3. Sác côm xương (osteosarcoma): thường gặp ở người trẻ tuổi 10-25 tuổi , hay thấy ở cổ các xương dài như cực dưới xương đùi , trên xương chầy , đầu trên xương cánh tay tóm lại có thể nói là khôI u ở ggần gối xa khuỷu . đại thể u có màu trắng xám mềm , có nhiều ổ hoại tử và xuất huyết , u có thể có hình ảnh chân cừu .

Hình ảnh vi thể u gồm các tế bào hình thoi hoặc đa diện bào tương rõ, nhiều nnân quái , nhân chia . tế bào u họp thành bè tạo nên mô xương hoặc dạng xương . U tiến triển nhanh và di căn đeesn gan não trong khoảng 18 tháng ,

3-3-3. Sac-côm sụn ( chondrosarcoma ) là loại u có tỷ lệ 20% trong các loại ung thư xương , thường ở nam giới từ 30-60 tuổi hay ở xương chậu , cánh tay , đùi , xương sươnf, bả vai, . U có thể lớn  xâm lẫn vào các mạch máu và gây nên di căn ở phổi. u có múi đôI khi thành nang và , mặt cắt trắng trong và đôI khi màu vàng . Cấu trúc vi thể đa dạng gồm nhiều tế bào nguyên bào sụn tăng srn , nhân to , ít nhân chia .Việc phân biệt với một u sụn và sac-côm sụn có thể rất khó khăn. Vì vậy, người ta làm giải phẫu bệnh cần phải dựa vào tiến triển lâm sàng và hình ảnh đại thể (xâm lấn…) hơn là dựa vào hình ảnh vi thể. Khi có thoái hóa nhầy là phải nghi ngờ ác tính.

3-3-4. Sac-côm mỡ ( liposarcoma ).

U hay gặp ở tuổi trung niên và người già , hiếm khi ở người trẻ tuổi , u có khi rất to tới 5 kg , mật độ mềm hoặc rắn mặt cắt màu vàng , có những ổ hoại tử chảy máu . Khối u này không đến nỗi hiêm như người ta tưởng. Nó rất dẽ bị bỏ qua, nhất là nếu không dùng phương pháp nhuộm mỡ, có thể gặp sac-côm mỡ ở bất cứ chỗ nào có tổ chức mỡ nhưng hay gặp nhất là ở tổ chức khe giữa các cơ, quanh các khớp và ở những vùng sau phúc mạc , trung thất  và quanh thận. Lúc đầu thì nó có vỏ bọc sau khi cắt bỏ thường tái phát và sau đó, xâm lấn vào tổ chức xung quanh, do đó, tiên lượng thường xấu.

Hình ảnh vi thể thay đổi tùy trường hợp và trong một khối u, có thể có nhiều hình ảnh lẫn lộn với nhau. ở dạng biệt hoá gồm các tế bào mỡ đã trưởng thành xâm nhập tại chỗ, táiI phát chậm, ít di căn . Dạng kém biệt hoá tế bào đa dạng hay gặp nhất là những tế bào hình thoi và những tế bào lớn, hình sao , bào tương lăn tăn, có thể chứa hoặc không chứa mỡ. Nếu có mỡ, thì  sẽ thấy rõ nhất nếu nhuộm bằng phương pháp nhuộm mỡ. các tế bào hình sao  nhạt mầu có thể giống với các tế bào biểu mô và do đó, dễ làm ta nhầm tưởng là một ổ di căn của ung thư biểu mô thận (loại hypernephroma). Sự nhầm lẫn này đặc biệt hay sảy ra khi u nằm trong xương. Có thể thấy những tế bào giống như tế bào  mỡ phôi thai và các tế bào u khổng lồ cũng hay gặp.Loại ung thư này phát triển nhanh di căn sớm đến phổi ,gan .

3-3-5. Sac-côm nhầy (myxosarcoma ).

U rất hiếm gặp , thường ở sau phúc mạc , hình ảnh như u nhầy nhưng tính chất ác tính dựa trên hình thái không điển hình của tế bào nhiều nhân chia nhân quái . Nhiều người cho rằng đây không phải là một nhóm u , mà chỉ là một trạng thái thoái hóa nhầy hoặc sảy ra trong một sac-côm .

Tổng Quan Về Các Khối U Vùng Đầu Cổ

Phẫu thuật, xạ trị, hoặc cả hai

Hóa trị

Các phương pháp điều trị chính cho ung thư đầu và cổ là phẫu thuật và xạ trị. Các phương pháp này có thể được sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp cùng với hoá trị. Tuy nhiên, hóa trị hầu như không bao giờ được sử dụng làm phương pháp điều trị chính trong điều trị. Nhiều khối u không kể vị trí có đáp ứng như nhau đối với phẫu thuật và xạ trị, cho phép xác định lựa chọn điều trị dựa theo các yếu tố khác như sở thích của bệnh nhân hoặc tiền sử mắc bệnh theo vị trí cụ thể.

Nếu xạ trị được chọn để điều trị ban đầu, nó sẽ được chiếu tia vào u nguyên phát và đổi khi cả hạch cổ 2 bên Việc điều trị hạch hoặc bằng xạ trị hoặc phẫu thuật, được xác định tùy theo vị trí u nguyên phát, tiêu chuẩn mô học, và nguy cơ di căn hạch. Các tổn thương giai đoạn sớm thường không cần điều trị các hạch bạch huyết, trong khi các tổn thương giai đoạn tiến triển thị cần được điều trị. Các vùng đầu cổ có nhiều bạch huyết (họng miệng, trên dây thanh ) thường đòi hỏi phải có xạ trị vào hạch cổ, bất kể giai đoạn khối u, trong khi vị trí có ít bạch huyết (như thanh quản) thường không cần xạ trị hạch bạch huyết cho giai đoạn sớm. Phương pháp xạ trị điều biến liều (IMRT) giúp tập trung liều bức xạ vào tổn thương, có khả năng làm giảm tác dụng phụ mà không ảnh hưởng đến việc kiểm soát khối u.

Khi bệnh giai đoạn tiến triển (giai đoạn III và IV) thường đòi hỏi phải điều trị đa phương thức, kết hợp một số liệu pháp: hóa trị , xạ trị và phẫu thuật. Khi khối u xâm lấn xương hoặc sụn đòi hỏi phải phẫu thuật cắt bỏ u nguyên phát và thường phải vét các hạch bạch huyết khu vực do nguy cơ lan rộng. Nếu u nguyên phát được điều trị bằng phẫu thuật, thì xạ trị sau phẫu thuật vào các hạch bạch huyết vùng cổ nếu chúng có nguy cơ cao như di căn nhiều hạch, phá vỡ vỏ bao. Xạ trị sau phẫu thuật thường được ưu thích hơn so với xạ trị trước phẫu thuật do các mô sau khi chiếu xạ thường khó lành lại hơn.

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc bổ sung hoá trị liệu cho xạ trị vào hạch cổ giúp cải thiện sự kiểm soát vùng của bệnh ung thư và cải thiện thời gian sống thêm. Tuy nhiên, cách tiếp cận này gây ra các tác dụng có hại đáng kể, chẳng hạn như tăng chứng khó nuốt và độc tính với tủy xương, do đó việc quyết định bổ sung hoá trị phải được xem xét cẩn thận.

Ung thư biểu mô tế bào vảy tiến triển mà không có sự xâm lấn xương thường được điều trị với hóa trị liệu cùng với xạ trị. Mặc dù được hạn chế tối đa sự chiếu xạ vào mô lành, nhưng việc kết hợp hoá trị liệu với xạ trị sẽ tăng gấp đôi mức độ độc tính cấp tính, đặc biệt là khó nuốt. Tia xạ có thể được sử dụng đơn thuần cho những bệnh nhân suy nhược với bệnh tiến triển, những người không thể chịu đựng được biến chứng của hóa trị và có nguy cơ cao gây mất cảm giác toàn thân.

Hóa trị bước 1 được áp dụng cho các khối u nhạy cảm với hoá trị liệu, chẳng hạn như Burkitt lymphoma, hoặc cho những bệnh nhân có di căn lan rộng (ví dụ: di căn gan. phổi). Một số loại thuốc như cisplatin, fluorouracil, bleomycin, và methotrexate giúp giảm đau và co lại khối u ở những bệnh nhân không thể điều trị bằng các phương pháp khác. Đáp ứng ban đầu có thể tốt nhưng không bền, và phần lớn các trường hợp ung thư hầu có thể xuất hiện trở lại.

Các bác sĩ phẫu thuật tạo hình có vai trò ngày càng quan trọng bởi vì việc sử dụng các vạt mô cuống dời cho phép tái tạo chức năng và thẩm mỹ các khuyết hổng để cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau các phẫu thuật trước đó. Các trang thiết bị thường dùng được sử dụng để tái tạo bao gồm xương sườn (thường được sử dụng để tái tạo hàm dưới), cánh tay xuyên tâm (thường sử dụng cho lưỡi và sàn miệng), và đùi phía trước bên (thường được sử dụng cho tái tạo thanh quản hoặc hầu họng).

Điều trị khối u tái phát

Xử trí khối u tái phát sau khi điều trị là phức tạp và có những biến chứng tiềm ẩn. Khi xuất hiện một khối hoặc tổn thương loét có phù nề hoặc đau ở vị trí nguyên phát sau khi điều trị gợi ý tồn tại một khối u tái phát. Những bệnh nhân này cần chụp CT (có lát cắt mỏng) hoặc chụp MRI.

Đối với tái phát tại chỗ sau khi điều trị phẫu thuật, tất cả các vết sẹo cũ và các vạt tái tạo được cắt bỏ cùng với tổ chức ung thư . Xạ trị, hóa trị, hoặc cả hai có thể được thực hiện nhưng có hiệu quả hạn chế. Bệnh nhân tái phát sau xạ trị được điều trị tốt nhất bằng phẫu thuật. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ các phương pháp điều trị tia xạ bổ trợ, nhưng cách tiếp cận này có nguy cơ cao tác dụng phụ và nên được thực hiện một cách thận trọng.

Kiểm soát triệu chứng

Đau là một triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư đầu cổ và phải được giải quyết một cách thoả đáng. Phẫu thuật triệu chứng hoặc xạ trị có thể tạm thời làm giảm đau, và trong số 30 đến 50% bệnh nhân, hóa trị liệu có thể tạo ra sự cải thiện trung bình tới 3 tháng. Theo khuyến cáo của WHO, quản lý đau theo từng bước là rất quan trọng. Đau dữ dội được điều trị tốt nhất cùng với một chuyên gia về giảm đau và chăm sóc giảm nhẹ.

Đau, ăn khó, nghẹt thở do chất tiết, và các vấn đề khác khiến cho việc điều trị triệu chứng đầy đủ là điều cần thiết. Các hướng dẫn bệnh nhân về chăm sóc như vậy cần được làm rõ sớm (xem Chỉ thị trước).

Tác dụng phụ của điều trị

Tất cả các phương pháp điều trị ung thư đều có thể xảy ra những biến chứng và di chứng nhất định. Bởi vì nhiều phương pháp điều trị có tỷ lệ chữa khỏi tương đương nhau, sự lựa chọn phương thức chủ yếu là do sự khác biệt về các di chứng.

Mặc dù người ta thường nghĩ rằng phẫu thuật gây ra nhiều tác động nhất, nhiều phẫu thuật có thể được thực hiện mà không làm thay đổi đáng kể hình dạng hoặc chức năng. Các phương pháp và kỹ thuật tái tạo phức tạp bao gồm sử dụng các bộ phận giả, miếng ghép, vạt cuống vùng, vạt phức hợp tự do có thể khôi phục lại chức năng và diện mạo gần như bình thường.

Các tác dụng phụ của hóa trị bao gồm mệt mỏi, buồn nôn và nôn, viêm niêm mạc, rụng tóc, viêm dạ dày ruột, suy giảm chức năng miễn dịch và tạo máu, nhiễm trùng.

Xạ trị đối với ung thư vùng đầu và cổ có một số tác dụng phụ. Tuyến nước bọt bị phá hủy vĩnh viễn với tia xạ liều khoảng 40 Gy, dẫn đến chứng khô miệng, làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các bệnh răng miệng. Các kỹ thuật xạ trị mới hơn, như xạ trị điều biến liều(IMRT), có thể giảm thiểu hoặc loại bỏ liều độc hại đối với tuyến nước bọt ở một số bệnh nhân nhất định.

Xạ trị cũng có thể gây viêm niêm mạc miệng và viêm da, két quả là dẫn đến xơ hóa da. Mất vị giác (ageusia) và khứu giác (dysosmia) hay xuất hiện nhưng thường chỉ là thoáng qua.

Cá Mó Đầu U

Cá Mó đầu u hay cá mó đầu gù ( Bolbometopon muricatum) là loài cá quý hiếm (xếp hạng sắp có nguy cơ tuyệt chủng theo IUCN), và cũng đã được liệt vào danh sách cấm khai thác của Bộ Nông nghiệp và PTNT

Loài cá Mó tuyệt đẹp này được mệnh danh là “những chú voi của biển cả” bởi kích thước lớn nhất trong họ cá Mó, khi trưởng thành có thể đạt đến trọng lượng 60kg, dài 1.5m. Loài cá này sinh trưởng rất chậm và sống lâu (lên tới 40 năm), tỷ lệ sinh sản rất thấp.

Loại cá mó đầu gù là loại cá biển trong họ cá mó. Chúng là loại cá lớn nhất trong họ cá mó, có thể phát triển chiều dài 1,3 m và trọng lượng lên đến 46 kg. Loại cá này sinh trưởng chậm và sống lâu (lên đến 40 năm), tỷ lệ sinh sản thấp. Loại cá này ăn tảo, nhai tảo bám trên đá và san hô. Bộ hàm của cá mó đầu gù khỏe nên chúng có thể nghiền nát đá vôi -  loại vật liệu ở san hô chết, biến thành cát rồi bài tiết trên khắp san hô. Nhiều người lầm tưởng rằng cá Mó này ăn san hô và gây hại cho rạn san hô, thực ra chúng đa phần là ăn tảo mọc trên san hô đã chết, tảo là loài cạnh tranh với san hô nên cá Mó đầu u có vai trò lớn trong việc giữ cân bằng hệ sinh thái. Ngoài ra san hô chết qua đường tiêu hóa biến thành vụn cát, tạo nên những bãi cát tuyệt đẹp. Được biết, một con cá mó đầu gù có thể tiêu thụ 5 tấn đá san hô chết mỗi năm, do đó chúng đóng vai trò quan trọng nhằm phục hồi hệ sinh thái san hô.

Mắm Cá Lóc U Minh Thượng

Trước tiên, cám ơn Quý khách hàng đã quan tâm và chọn sản phẩm của

Trước tiên, cám ơn Quý khách hàng đã quan tâm và chọn sản phẩm của Khô Cá Kiên Giang !

Để thuận tiện quý khách trong việc mua hàng tại Khô Cá Kiên Giang chúng tôi xin trân trọng thông báo quý khách về cách thức mua hàng và chính sách giao nhận hàng hóa như sau:

I. HƯỚNG DẪN MUA HÀNG

* Cách 1. Mua hàng qua Điện thoại:

 Quý khách vui lòng gọi điện hoặc nhắn tin trực tiếp thông tin đơn hàng cụ thể: Tên Quý khách, địa chỉ nhận hàng, Tên sản phẩm, số lượng qua số 

Hotline: 0902 798638

. Chúng tôi sẽ cập nhật đơn hàng và gọi lại xác nhận với quý khách.

* Cách 2. Đặt hàng trên website: 

– Trường hợp quý khách mua 01 loại sản phẩm: Quý khách vui lòng 

C

họn sản phẩm cần mua

 sau đó nhấn vào nút 

“Mua Ngay”

 hoặc nút 

“Đặt mua và giao hàng tận nơi”

, sau đó 

chọn số lượng cần mua và nhập th

ông tin quý khách

, kết thúc bằng nhấn nút 

“Đặt hàng”

. Chúng sẽ gọi lại xác nhận thông tin với quý khách.

– Trường hợp quý khách mua nhiều loại sản phẩm: Quý khách vui lòng 

Chọn sản phẩm cần mua

 sau đó nhấn vào nút 

“Thêm vào giỏ hàng”

, tương tự 

tiếp tục chọn sản phẩm cần mua

 để 

“Thêm vào giỏ hàng”

. Sau khi kết thúc việc chọn sản phẩm cần mua, quý khách chọn 

biểu tượng giỏ hàng

  sau đó 

chọn số lượng cần mua  của từng sản phẩm

 và 

nhập thông tin quý khách

, kết thúc bằng nhấn nút 

“Đặt hàng”

. Chúng sẽ gọi lại xác nhận thông tin với quý khách.

Quý khách vui lòngsau đó nhấn vào nút, tương tựđể. Sau khi kết thúc việc chọn sản phẩm cần mua, quý khách chọn sau đóvà, kết thúc bằng nhấn nút. Chúng sẽ gọi lại xác nhận thông tin với quý khách.

II. CHÍNH SÁCH GIAO NHẬN HÀNG

Với mong muốn cung cấp trực tiếp người tiêu dùng sản phẩm mới, đảm bảo nguồn gốc xuất xứ, chất lượng với giá gốc từ nơi chế biến nên Tất cả sản phẩm đặc sản khô của 

Khô Cá Kiên Giang

 được vận chuyển từ nơi sản xuất tại các khu vực như: Phú Quốc, Hà Tiên, U Minh Thượng, Kiên Lương của Tỉnh Kiên Giang.

Để mang lại sự thuận tiện cho quý khách hàng trong việc mua hàng tại 

Khô Cá Kiên Giang

 chúng tôi xin trân trọng thông báo chính sách giao hàng toàn quốc như sau:

1. GIAO HÀNG THU TIỀN TẬN NƠI (COD)

* Đối với khu vực chúng tôi Thời gian giao hàng từ 1-2 ngày kể từ ngày xác nhận đơn hàng.

– Đối với tổng giá trị đơn hàng dưới 1.000.000đ, quý khách hàng vui lòng thanh toán 30.000đ phí vận chuyển và thu hộ.

– Miễn phí giao hàng với tổng giá trị đơn hàng từ 1.000.000đ trở lên.

* Giao hàng miễn phí với tất cả đơn hàng trong tỉnh Kiên Giang. Thời gian giao hàng từ 1-2 ngày kể từ ngày xác nhận đơn hàng.

* Đối với các tỉnh thành khác: Thời gian giao hàng từ 2-3 ngày kể từ ngày xác nhận đơn hàng.

– Đối với tổng giá trị đơn hàng dưới 1.500.000đ, quý khách hàng vui lòng thanh toán 40.000đ phí vận chuyển và thu hộ. 

– Miễn phí giao hàng đơn hàng có tổng giá trị từ 1.500.000đ trở lên.

2. THANH TOÁN CHUYỂN KHOẢN VÀ NHẬN HÀNG TẠI NHÀ XE PHƯƠNG TRANG 

* Chỉ áp dụng chúng tôi Thời gian giao hàng từ 1-2 ngày kể từ ngày xác nhận đơn hàng. 

Miễn phí giao hàng khi quý khách hàng thanh toán chuyển khoản và nhận hàng tại Văn phòng Nhà xe Phương Trang tại TP.HCM. 

Thông tin tài khoản:

Chủ tài khoản: Tạ Mã Phi Long

Số tài khoản: 009.100.013.9996

Tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank)- Chi nhánh Ba Hòn, Huyện Kiên Lương, T. Kiên Giang.

Lưu ý: Trường hợp khác vui lòng liên hệ cho chúng tôi qua 

Hotline 0902. 798638

 để được hỗ trợ tốt nhất ! 

Một lần nữa cám ơn quý khách hàng đã quan tâm và lựa chọn sản phẩm của chúng tôi !

Các sản phẩm Khô Cá Kiên Giang: