Cá Lia Thia Ruộng / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Psc.edu.vn

Cá Lia Thia , Cá Lia Thia Đồng

【4/2021】Giá Bán Cá Lăng Đuôi Đỏ Bao Nhiêu Tiền 1Kg Mua Ở Đâu Tại Tphcm【Xem 739,827】

Cá Lăng Sông Đà Tươi Sống Bán Tại Hà Nội Size 3

Cá Lăng Đen, Giá Cá Lăng Đen Sạch Sông Đà Tiêu Chuẩn Vietgap

Giá Cá Lăng Đỏ, Đen, Đuôi Vàng, Sông Bao Nhiêu 1Kg 2022? Mua Bán Ở Đâu Rẻ?

Cung Cấp Cá Mè Hoa Tươi Sống, Cá Mè Tàu Tươi Sống, Cá Mè Ngất, Cá Mè Đông Lạnh Trên Toàn Quốc

Cá lia thia, loài cá có kích thước nhỏ ,nhưng màu sắc đẹp, hiếu chiến, vừa là sinh vật nuôi làm cành vừa làm thú vui tiêu khiển .

1.Cá lia thia đồng đặc tính sinh học

-Cá lia thia có nhiểu chủng loại như: cá lia thia xiêm, cá lia thia phướng, cá lia thia đồng. Các loại cá lai : xiêm lai phướng ,xiêm lai đồng.Các loại giống mới Beta, Hamoon….Nhưng nhìn chung cá lia thia là loài cá cảnh, cá chọi có kích thước cơ thể nhỏ, trung bình chiều dài thân khoản 6cm-8cm.Có một số loài cái lia thia kích thước lớn trên 8cm.

-Thức ăn tự nhiên cho cá lia thia cũng khá đa dạng, từ rong rêu, các động vật nhiệm thể, đến các loài cá nhỏ hơn, lăng quăng , trùng trĩ…

– Cá lia thia có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á như : Việt Nam, Thái Lan, Campuchia. Riêng chỉ Thái Lan là có đầu tư sâu và chuyên sâu nuôi dưỡng và lai tạo loại cá này. Nên thường cá lia thia cũng thường hay gọi là cá Xiêm.

– Cá lia thia thường sống trong các ao nước nhỏ và thường đẻ trứng vào mùa mưa. Loài cá này rất hiếu chiến khi gặp các con đực cùng loài . Khi chiến đấu cá sẽ phùn mang, thay đổi màu sắc và tấn công đối thủ bằng hàng răng sắc nhọn

Ảnh cá lia thia đồng

Cá lia thia cơ bản gồm 3-4 loại gồm :

Cá lia thia đồng : loài cá này có nguồn gốc bảng địa ở Việt Nam, sống trong các khu đồng ruộng, các ao nước nhỏ ven các kênh rạch. Trước kia sống nhiều khắp miền Tây, nay chỉ tìm thấy cá lia thia đồng tại các tỉnh Kiên Giang, An Giang và Đồng Tháp Mười. Loài cá này có thân nhỏ so với các giống khác, màu sắc thông thường màu nhạt đến khi chọi nhau thì lên màu rất đẹp. Nhưng sức chiến đấu kém, chỉ chọi nhau được 5-10 phút. Nhưng đặc điểm nổi bật loài cá này là dễ nuôi và sẽ chăm sóc.

Cá lia thia xiêm : loài cá có nguồn gốc từ Thái Lan, được lại tạo từ nhiều loài giống cá lia thia, nên loài này có ưu điểm nổi trội như : kích thước to, vảy dày, mỏ dày và răng sắc nhọn. Đặc biệt loài cá này chọi rất lâu có khi lên đến 3-4h mà vẫn chưa có kết quả thắng thua. Loại này có nhược điểm là sống ngoài tự nhiên kém và kém thức ăn.

Cá lia thia phướng : loài cá này chủ yếu nuôi làm cảnh, vì có màu sắc đa dạng, sặc sỡ, màu sắc đẹp, có tay bơi dày, vay cá dài to và đẹp cá cũng sống khá lâu từ 2-4 năm. Vì thân hình to và đồ sộ nên chậm chạp trong chiến đấu. Loại cá này cũng có các dòng như beta, fancy, dumboo.

Cá lia thia tàu : loại này có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng giống cá xiêm, nhưng có vảy cứng, sặc sở . Nhưng giá thành loại cá này cao .

6.Cách ép cá lia thia đồng

Chọn giống bố mẹ

Chọn môi trường ép cá

Cho tiến hành giao phối

Nuôi cá sao khi nở

Nuôi cá đến khi trưởng thành và tách bầy

7.Cách nuôi và chăm sóc cá lia thia đồng

Khi cá từ 1-2 tháng tuổi, nên cho cá ăn các loại thức ăn bột và tự nhiên như: trứng nước, lòng đỏ trứng luột chín. Nuôi cá trong các chậu sành có kích thước nhỏ, để nơi có ánh sáng trung bình . Trong chậu bỏ thêm rong và bèo cho cá con có nơi bám và chổ che chắn.

Sau khi cá được hơn 2 tháng tuổi có thể cho ăn các loại thức ăn có kích thước to hơn như : lăng quăng, trùng trĩ, thịt các loại thủy sản sống như tôm và tép. Lúc cá 3-5 tháng tuổi các đã to bằng ngón tay. Lúc này có thể tách bầy để tránh cho các con cá chọi nhau gây tổn thương cho cơ thể.

Sau 5-6 tháng có thể nuôi riêng cá theo từ chậu . Kích thước chậu cao tầm 15-20cm và đường kín từ 10-15cm. Cá có thể ăn được các loại thức ăn tổng hợp và kích thước khoản 1mm. Thường xuyên luyện tập cho ca kình bóng trước gương và kình với các con cá khác.

Bán Cá Lóc Giống( Cá Lóc Đầu Nhím, Đầu Vuông, Chuối Hoa Giống), Báo Giá Cá 2022

Giá Cá Lóc Giống. Giá Cá Lóc Thịt. Trang Trại Bán Cá Lóc Giống Uy Tín

Cập Nhật Giá Cá Lóc Giống Đầu Năm 2022

Khô Cá Lóc Đồng Bạc Liêu Giá Sỉ

Giá Khô Lóc Bao Nhiêu 1Kg, Nơi Bán Nào Uy Tính Và Bảo Quản Ra Sao?

Thú Chơi Cá Lia Thia – Cách Lựa Cá Lia Thia

Nuôi Cá Cảnh Thuận Phong Thuỷ Ắt Thành Công

Bí Kíp Giúp Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Sống Lâu Hơn

Trại Cá Betta Nghĩa Hiền: Bán Cá Xiêm Betta Thái Cao Cấp Sỉ / Lẽ 302267

5 Bệnh Phổ Biến Ở Cá Betta Và Cách Chữa

Cây Hồng Xiêm – Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Hồng Xiêm

Thú chơi cá “thia-thia”

Thia-thia đá bóng trong keo,

Ham vui trước mặt, quên nghèo sau lưng.

Ao sâu cá lội khoe màu,

Đố ai biết mỗ: bã trầu, thia-thia?

V.H.S

Thua thì thua mẹ thua cha,

Cá sinh một lứa, ai mà thua ai!

(Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Huỳnh Tịnh Của)

CÁ THIA-THIA. Chuyện địa phương, chỗ nhau rún nói ra họa may không ai nói gì, chớ tôi rất sợ các ông làm tàn, giỏi nghề ngồi không moi móc.

– Bạn nhỏ đá cá chơi, không ăn tiền, cũng không có tiền mà ăn, – cốt tranh nhau giữa nhóm “hỷ mũi chưa sạch”: con cá mày dở vì hớt tại đồng “mấy thằng đánh giặc thua”, không như con cá tao hay lắm, vì gốc nó ở trên Hòa-Hưng, còn phảng phất vong hồn “tụi đánh giặc chống Tây” đời trước!

– Bọn già thì bất chấp điển tích, họ nghĩ rẻ rề: lấy đó làm nghề sanh nhai, “chạy gạo”, kiếm tiền nhậu nhẹt, hút xách, chơi bời… Đối với họ, mùa hạn, thì chơi gà. Mùa ướt, gà đổ lông, thì day qua đá cá: có thế thôi. Chừng nào cá cũ, thì bắt qua mùa gà. Trái đất cứ xây, người dân Việt quê, chỉ biết gà gà, cá cá…

Hồi còn mài đũng quần trường tỉnh xứ Sốc-trăng yêu nhớ, một trang một lứa nay còn sống sót ở đất Sài-gòn, đếm số còn thua số răng trên hai hàm lão già bảy chục, (không kể răng do các bác-sĩ nha-y trồng, nhìn không ra), lúc thiếu thời ấy, chúng tôi không gì thích bằng ngày lễ nghỉ xả hơi hay ngày chúa nhựt, sau khi bày vở đâu êm vào đó:

Rồ-lem (problème) làm rồi, con-bò-té-sông-răng-ke (composition française) vừa làm rồi; chia quẹt-bờ (verbe): rồi mà chưa, để sáng coi lại còn dư chán: anh-đi-xúc-tép-về-rang (indicatif présent) chưa mà rồi, vì dễ ợt, mai sáng chép vô tập còn kịp; bài học thuộc lòng, cũng nhớ làu làu, ngặt nỗi đọc lên như kéc mẹ chớ nhiều câu không hiểu nghĩa, nhưng dám chắc trong lớp cũng bí-lù như mình, tóm lại “đâu êm vào đó”, chừng ấy chúng tôi bèn rủ nhau, mỗi đứa cụ bị một rổ con hay một mủng trẹt, kèm thêm một chai nhỏ, thứ chai dầu thơm “Cô Ba” của mẹ hay chị đựng dầu dừa hay giấm chua, sẽ lén lấy, mượn đỡ hay ăn cắp cũng vậy, đem súc sạch và chứa sẵn nửa phần nước trong, đồ nghề đại khái rổ và chai cặp nách sẵn sàng thì hè nhau kéo ra đồng ruộng chia tay hớt cá.

Không phải bất cứ đồng nào cũng có cá hay.

Phải rành đôi chút mới chắc ăn kiểu “ba bó một giạ”.

Chung quanh thành phố Sốc-trăng, năm ấy (lối 1914 – 1915) tôi biết có:

1) Đồng Lọ-Nghẹ, ở phía sau trại lính Ma-tà. Gần đám ruộng nầy có nhà thợ rèn ở nhiều, than bụi tro lò đổ xuống nước ruộng, lâu ngày nước đen ngòm: thia-thia đồng nầy có màu đen đúa chắc da chắc thịt như con cháu tướng Uất-Trì đời Đường, vảy da như trui, thoét trong lò nấu đồng thổi sắt, nên đinh ninh cá đồng nầy “mình đồng gan sắt”, răng cứng như thép khóa chắc trong hàm như trong họng kềm: cá đồng nầy không chạy mặt cá đồng nào! Thảm nỗi, đồng ở gần trại lính Ma-tà, mà con cháu Ma-tà dữ quá, hễ chúng nó gặp bọn tôi lén hớt cá đồng Lọ-Nghẹ thì bọn nó đánh chúng tôi chạy bò lê bò càng, không biết đường về.

2) Đồng hàng tràm, gọi cá chùa Phật, vì nơi đây có chùa thờ đức Di-Đà. Nhờ lá tràm tích-đọng lâu năm, nhuộm nước đỏ au, – lá tràm vả chăng là vị thuốc đón gió ngừa phong, – nên cá vùng nầy mình như tẩm thuốc, bắt được con nào bỏ vô chai, ít giờ sau quen nước quen cái, cá phùng mang sậm màu, vảy xanh ửng hồng, đuôi đỏ chớp sao, chăm bẳm như các tổ-sư Bồ-Đề, hay nói cách khác, như thầy bùa, thầy ngải giỏi nghề “gồng chém không đứt” hay có học “xầng-tả”, xìn tả (thần đả). Năm xưa, nơi đây tôi hớt được một con “cá nái”, lớn bằng ngón tay út, lưu lại nhiều năm quá nên quá cỡ, không cáp độ gặp cá nào bằng nó, tôi để đá bóng chơi và đặt chiến danh là “Ngũ-Lang hòa-thượng”! để nhớ thành tích ông tướng “thầy chùa” trong tuồng “Mộc Quế-Anh dâng cây”. Con cá nái nầy, khi tôi hớt được, bỏ vào chai không lọt, phải gởi qua chai khác, đủ biết nó lớn con đến bực nào!

3) Một đồng khác là đồng Lình-kía (Long-tử cang), ở phía chùa Phật sau nhà máy Quách Xên. Tuy mang danh đẹp là “cá xóm Rồng con”, nhưng thia-thia đồng nầy không anh hùng chút nào, vì ở xóm chệc rẫy, bủng dứ vì quen tiêu thụ những đồ thừa của bọn nầy gởi trong đám ruộng bên nhà.

4) Một đồng khác nữa, rất xa xăm đối với cặp giò trẻ thơ của chúng tôi buổi đó, là đồng Bắc-Tà-Ky (tên thổ). Đây là ruộng phụ ấm của ông cậu họ Trần, nguyên con quan Đàng Cựu, xưa kia ngồi trấn xứ Ba-Thắc (srock Passac, tức Sốc-trăng). Cá vùng nầy nổi danh một thuở, bền gan không đâu có nhưng ít ai kiếm được lắm. Chủ ruộng là nhà đá cá lớn, dạy tá-điền canh chừng nghiêm mật, không ai hớt lén được. Đặc sắc trong vùng có thứ cá-kỳ-son, tức kỳ trên lưng có chấm một điển son, đây là giống cá xiêm lai biệt dạng của chủ ruộng đúc nắn lâu đời: cắn quạu, bền gan bực nhứt. Ông Trần, ông cậu của tôi, xưa có một con, ăn trọn mùa, không chạy độ nào, danh còn nhắc: “cá Triệu-Tử”.

5) Tệ nhứt là cá đồng Thầy Tám, trên đường đi Cần-thơ. Thầy Tám nguyên là pháp-sư, chuyên chữa bịnh bằng phù-chú. Thây ma chết chôn sau am, cá sanh vùng nầy lẹt đẹt không khác những con bịnh đau ma do thầy Tám chữa chạy: chưa đá chưa cắn ai một miếng nào, đã xếp đuôi xếp giáp, chạy cuốn cờ! Nguyên sở ruộng Thầy Tám là cuộc đất gò, nước cạn. Thảo nào cá thiếu nước không nơi dụng võ, ngắn hơi và nhát gan là lẽ cố nhiên. Tôi nói nước ít nên cá nhát gan, vì kinh nghiệm dạy rằng con cá ở nước sâu quen nín hơi, lâu lâu mới lên đớp bóng một lần, nhờ đó mà chịu đựng hay, bền hơn cá ở nước cạn.

6) Đồng lác, đồng cỏ năn, ở phía sau nhà thương tỉnh, dọc theo đường đi xuống Bang-Long (tục gọi quận Giếng Nước). Cá vùng nầy dở hơi, vì sanh trưởng trong lác, trong năn, trong cỏ, nên không có chi đặc sắc (thuở ấy chưa có anh hùng Rừng Sác, nước mặn). Tuy vậy đừng quen chê sớm mà lầm to có ngày, vì may thời Tổ đãi, hớt được cá kinh niên, thứ cá trốn ẩn lâu năm gần nhà xác, hình như còn oan hồn uổng tử vấn vương, hoặc nữa hớt được những cá lẻ loi sống chung lộn nhiều năm trong bộng trong hang rắn dữ, ngày ngày từng hớp nước có nọc con ác-xà phun ra, cá quen hơi rắn nên không hầy hấng, chực khi đụng độ với cá lạ đồng, thì khác nào con xà-niên ngậm ngải đối chọi với phàm phu, có thể nói bách chiến bách thắng. Tôi đã nói phải là có Tổ đãi mới bắt được thứ cá dữ nầy. Khoan vội tin lời tôi, ham thọc tay vào hang rắn, có ngày bỏ mạng!

Về việc nầy, tôi đã từng ngộ trận, một phen tởn tới già, nay nhắc lại nghe chơi mà còn rởn tóc gáy: Bữa ấy, trời mưa rỉ rả, tại đồng Hàng Tràm, mặt trời vừa xế bóng, tôi đặt rổ xuống nước, vừa lấy chơn giậm giậm xung quanh rổ rồi rút rổ lên, nghe như được một vật gì nặng nặng. Rổ lên vừa khỏi mặt nước. Mẹ cha ôi! Một con rắn hổ lên nước đen mun, nằm khoanh tròn chật rổ. Khỏi nói, tôi vừa thấy rắn, ba hồn bảy vía lên mây, lẹ như chớp, tôi quăng rổ té bật ngửa ra sau, không kể áo quần ướt vấy, mặt cắt không còn chút máu. Úy hà! Chút xíu nữa, không còn sống mà viết bài nầy! Quên nói, rắn ta cũng hoảng hồn hoảng vía (nếu thật rắn cũng có hồn), rắn đánh cái “tỏm”, buông mình xuống nước, phăn phăn lủi bụi trốn theo đường, rắn cút mất tự thuở nào!

Các anh em bạn theo tôi bữa đó đều chạy té đùn cục trong ruộng sình, báo hại thia-thia huyền bí đâu chẳng thấy, duy thấy một phen vỡ mật hú hồn.

Một lần khác cũng tại đồng Hàng Tràm nầy, tôi lại bị trâu dữ rượt, chạy bò càng, ve thúng quăng mất, may sao còn giữ được hồn. Con trâu nầy tôi nhớ rõ, sừng của nó, không biết vì sao không dựng quớt lên mà vẫn nằm lòng thòng hai bên đầu, có lẽ nếu nó húc cũng không hại gì lắm, nhưng nói giỏi, sao hồi đó không ở lại mà thử sức với nó! Tởn đi một dạo rồi chứng nào tật nấy, tôi cũng mon men ra đồng xúc cá, vì thuở ấy, thú thật, chúng tôi tiền bạc đến một đồng một chữ cũng chẳng có dính lưng, cho nên chỉ biết những thú vui không tốn tiền; mà theo tôi còn vui nào bằng ngày chúa nhựt đi hớt cá thia-thia, để được nhăm nhi củ kiệu chua nhai nghe giòn rụm, bây giờ nhắc lại còn chảy nước miếng!

Độ xưa, một nhà chơi cá ở chợ Sốc-trăng, có một con cá kỳ quặc, ông ta lượm nó ngoài đồng, ở sẵn trong một bình vôi sành mẻ miệng, bỏ gần bên gò mả loạn. Ông rinh luôn như vậy đem về nuôi, để y con cá ấy trong bình vôi của nó quen ở, trừ khi nào xách ra trường cáp độ, khi ấy ông mới vớt nó ra đọi ra thố đường hoàng. Con cá nầy có thể nói là lạ lắm, vì thắng không biết bao nhiêu độ, về sau không ai dám đem cá đối thủ với bất cứ cá nào của chủ nó, báo hại ông ta vì một con cá linh, thắng độ hoài, mà chủ không tiền hút! Tôi sau nầy, vì đi học trường lớn, cũng mất tích con cá ở bình vôi gò mả hoang nầy.

XÚC, BẮT, HỚT CÁ THIA-THIA

Muốn có được cá để chơi, phải có chút ít kinh nghiệm. Kinh nghiệm nầy không có trường nào chuyên môn dạy. Thuở đó, dẫu là con ông Thông đứng bàn ông Chánh, hay con Thầy ký Kho bạc, muốn có cá chơi, phải lén cha lén mẹ, phải lo lót xin thọ giáo với các tay rành nghề, mà không ai khác hơn là bọn bộ hạ dưới tay cha mẹ chúng, bọn trẻ chăn trâu giữ bò, cắt cỏ ngựa, mục-đồng, bọn ở đợ. Dạy không lấy tiền công tiền Tổ, cao thượng vậy thay. Duy phải chiều lòn, dẹp bỏ bộ tịch “cậu”, dày công tâng hót thì họ mới truyền nghề. Một trang một lứa với tôi năm đó có con ông Huyện Kim, con Thầy Thông Tây, toàn là tay “công-tử”, con các người có máu mặt đương thời. Trối kệ, phải xuống nước nhỏ, dẹp chức “Ấm” vào ngăn kéo, tôn họ làm “Sư”, làm “Mồ Tổ”, họ mới đoái hoài. Quên nữa, và phải trốn học, theo họ ra ngoài đồng ruộng, đổi với họ một khúc bánh mì thì họ cho leo lưng bò cỡi thử một chặp, hoặc dâng cho họ “đồng xu mẹ cho để dành ăn bánh”, thì họ cho phép lội xuống ruộng sình, bước lỏm bỏm theo họ mà hớt cá thia-thia hay là bắt ốc! Trốn trường cũng vì muốn biết cỡi bò, bỏ lớp, hoang phế việc học hành, cũng vì ba con cá xanh-xanh đỏ-đỏ! Thầy dạy chúng tôi hớt cá là anh Tỷ-Bò. Anh chăn bò, “giữ bò” từ lên sáu. Cứ mỗi sáng, cho ăn ba miếng cơm nguội no nê, chú đày tớ già bồng Tỷ đặt trên lưng bò, đèo thêm chai nước mưa, và mo cơm vắt…. Ra đồng, trọn ngày hết ngồi đến nằm, Tỷ ở trên lưng thú, nắng mưa phú có cao xanh thương xót, một cái nón rách, một chiếc áo tơi, – con nhà nghèo có ông Trời nuôi, – Tỷ mạnh lành, da đỏ sậm có cần gì hứng gió Long-Hải, tắm nắng Vũng-Tàu? Chiều lùa bò về, chú tớ già ẵm Tỷ xuống cho Tỷ xã hơi, cơm nước, ngủ nghê, ngày ngày y một kiểu như thế cho đến tuổi Tỷ lên xuống lưng bò mình ên được. Mà cái tuổi ấy không xa, mới ngộ chưa, vì cỡi bò được ít lâu, Tỷ đã dạy được con bò cầm bầy tên là “Cành-Tết”, biết nằm xuống, mỗi khi Tỷ cần dùng không muốn ở mãi trên lưng nó: bò nằm rồi, Tỷ bắn lùi như tôm, đít đi trước, chân đụng đất bình yên vô sự, nào cần ai bồng ẵm? Khi lên, Tỷ dạy “Cành-Tết” nằm nữa, Tỷ trèo, – có khó hơn khi xuống một tý, – trèo như kiểu thằn-lằn ôm cột đình, nhưng rồi cũng trèo lên lưng bò được, chớ không sao! Tỷ giấu nhẹm chú tớ già việc nầy, để hưởng tận cảnh: “cực thì có cực, nhưng khổ thì không khổ”. Ai ở đợ ra sao không biết chớ Tỷ không bao giờ bị chủ rầy la, một bầu trời nước bao la, mặc sức nghêu ngao hò hát! Sạm da vì nắng, săn thịt vì mưa, không hề sổ mũi gió máy bậy bạ, không bao giờ biết nhức đầu là gì, lên mười tuổi, Tỷ vỗ ngực xưng “Chúa tể Đồng Trường Đua”, “ngô chánh thị Tỷ-Bò thị giả!!!”

Không chuyện gì xảy ra ngoài đồng ruộng mà Tỷ-Bò không thạo: gò nào có rùa vàng, rùa nấp ở; hễ thấy dấu cỏ dấu đất ra làm sao là Tỷ biết có con vật ẩn núp dưới bụi đế hay gốc lức, v.v… Vì vậy mà Tỷ-Bò mỗi ngày mỗi lục lạo, lục còn hơn học trò lớp nhứt khuấy rầy quyển tự-vị lúc dịch “version” Tây! Con rắn làm hang như thế nào, và con rắn ấy là loại rắn gì, Tỷ-Bò biết đủ. Tỷ-Bò quả quyết thuốc “không xa”, và thường thường có giống cỏ nào mọc gần miệng hang, thì cỏ ấy là món thuốc thần trừ nọc con độc-xà kia vậy. Tỷ-Bò cam đoan đêm nào trăng sáng là rắn ra trững mỡ, “giỡn trăng”, chầy ngày lăn lộn trững đùa trên đám cỏ, sao sao cũng chảy dãi, nhểu nước miếng thấm cọng cây lá cỏ, tẩm già chất độc, chất nầy nhờ gội sương chan nắng nhiều ngày mà dịu lần, biến nên môn “thuốc ngừa” (kiểu nầy y như kiểu thuốc ngừa do viện Pasteur bào chế!). Tỷ-Bò dốt mà sao nghiệm được việc nầy, lạ thật! Mai sau người nào nếu bị rắn cắn, cứ nhớ tìm hang nó và bứt một mớ cỏ mọc nơi miệng hang, lớp đem về nấu nước uống, lớp nhai cấp kỳ nuốt nước và lấy xác đắp lên chỗ bị cắn, là có cơ thoát khỏi nạn nghèo! (Tỷ-Bò chúc ngôn).

Nghe làm vậy thì hay làm vậy, chớ tôi chưa dám truyền-bá, đem phương nầy bày vẽ cho ai thí nghiệm bao giờ. Nay viết ra đây cũng không bảo-kê hiệu quả. Tóm lại, chồn đèn, chuột đồng, kỳ-đà, rắn mối, rùa vàng, cá bộng, các con sinh vật ở ruộng, nhứt cử nhứt động là Tỷ-Bò hay biết từ đường đi nước bước. Sau nầy, mặc dầu tôi đỗ bằng Trung-học, “lên mặt” trở về làng, nhưng đối với môn vạn-vật-học và môn địa-dư tỉnh nhà, tôi vẫn như thuở còn bé thơ, thua anh Tỷ-Bò xa lắc! Miền Nam, từ cửa “Vàm Tấn” (Đại-Ngãi) cho đến sông Ông Đốc (Cà-Mau), không một khúc quanh nào mà Tỷ-Bò không biết tên, không một xẻo-co nào mà Tỷ-Bò chưa từng đặt chơn đến đó. Giờ nào nước lớn, nước ròng, nước đứng, Tỷ-Bò thuộc nằm lòng. (Nhờ vậy mà muốn đi đây đi đó, Tỷ-Bò không cần chèo chống. Một lá buồm rách, một cơn gió thuận, một chuyến nước xuôi, Tỷ-Bò thả ghe vô ruộng. Công việc xong xả, Tỷ-Bò chờ con nước, thả ghe về nhà, không tốn công chèo, còn hay hơn đời nay, sắm máy thế chèo mà có khi máy trục trặc, đã tốn tiền thêm mất công linh chờ đợi). (Không nói đến cái nạn mọi việc đều máy móc thay thế, sau nầy tầm vóc, bắp thịt đàn bà Việt sẽ kém thua bây giờ vì còn thể-thao chèo bơi gì nữa đâu?) Nói quá xa đề, nhắc lại đối với Tỷ-Bò, tuy vô học, nhưng con thú nào kêu la làm sao…, chỗ nào đào xuống là bắt được rắn hổ, chỗ nào đốt cỏ già hơi là có rùa mập bò ra, v.v…, tắt lại, địa-lý, địa-dư vùng đồng Ba-Thắc (Sốc-trăng), Tỷ-Bò xem rẻ như thò tay vào túi lấy đồ.

Hôm nào chúng tôi được theo sau lưng Tỷ-Bò ra đồng, thì hả hê bữa ấy: không cháo rùa cũng rắn xào, lươn um, hoặc cá lóc mập ú bó đất sét nướng trui vào lửa rơm, ăn nội cái “filet” chấm muối hột, “nóng hổi, vừa thổi vừa ăn”, đến nay còn thèm. Chúng tôi hùn tiền sắm gần đủ nồi ơ, chảo, đũa, gởi kỹ miễu “Ông Tà”, đũa rất ít dùng; vì chúng tôi kinh nghiệm ăn “bốc tay” sướng và ngon nhất! Chúng tôi không mê Tỷ-Bò không được! Tỷ-Bò rất khác tôi. Tôi thì, học toi cơm, học thuộc tên tổng tên làng làu như cháo lỏng, đọc như kéc mẹ, tên thảo mộc, tên chất khoáng hay ngũ kim, tôi kể giòn hơn lặt rau rang bắp, thế mà nếu ai hỏi vặn: làng ấy ở đâu, chất ấy biến thể ra gì, tôi sẽ ú ớ như đứa câm ăn ớt: học mà không hành, tôi kém Tỷ-Bò hằng mấy dặm! Biết mà thiếu kinh nghiệm, ra trường đời, tôi chỉ là thằng hủ nho Tây đại chi vô dụng!!!

Anh Tỷ-Bò dạy tôi phương pháp hớt cá lia thia.

Anh dặn: “Khi để chơn xuống ruộng sâu, thì phải nhớ không còn là con cưng của cha mẹ tại nhà nữa. Muốn nhỏng nhẻo thì ở nhà. Đến đây, phải biết hòa mình cùng Trời Đất: tập bước cho khéo chân, cá không giựt mình, mới có mà bắt. Lựa gốc rạ, dốc lức mục, giẵm cẳng lên đó thì khỏi sợ sa lầy khỏi uống nước bùn. Dẫu đỉa trâu lớn bằng ngón cái nó đeo bắp vế non, và dẫu đỉa hẹ đỉa mén mỏng như lá lúa bò lúc nhúc, lòng thòng trên bắp chuối, thì trối kệ nó! Dẫu vắt rừng cắn, máu ra ướt đỏ chân, háng, thì cắn răng để vậy! Tập chịu, thét rồi quen! Đó là thường sự! Muốn làm dân ruộng thì phải tập cho quen lần: tập cắn răng nín khóc, đau thế mấy cũng không được la! Rên la không ích gì, và chỉ làm bối rối người lớn, thêm làm cho cá tôm hoảng chui trốn mất, mà lỡ cơ hội tốt. Tập lâu ngày thì hết sợ; rồi thét đi sẽ dạn lần, sẽ thấy vui thú. Cần nhất là miễn sao đừng để đỉa con, vắt mén chui vào hậu môn, vào lỗ chỗ nhược, thì thầy chợ cũng khoanh tay mà Tỷ-Bò cũng vô phương tiếp cứu! Học bao nhiêu đó trước đã, rồi Tỷ sẽ dạy thêm”. Tôi nhớ lại hồi nhỏ, nhỏng nhẻo với mẹ có tiếng, mẹ vừa lấy cán chổi lông gà phủi sơ sơ ngoài quần, chưa chi đã la còn hơn bị ong bầu đút đít! Bây giờ mãi mê ba con cá thia-thia xanh-xanh đỏ-đỏ, anh Tỷ-Bò “phán” ra câu nào là dạ răng rắc, xem còn hơn câu kinh nhật tụng, tuân theo răm rắp, không dám cãi nửa lời! (Nay mẹ đã mất, cha cũng đã mất, con nhớ lại ăn năn không nghe cha mẹ bằng nghe Tỷ-Bò).

Tỷ-Bò dạy tôi phải cho có gan, thì tôi làm gan! Tỷ-Bò dạy tôi bậm môi thì tôi cắn môi đến giập máu! Anh dạy tôi túm, vo ống quần cho sát bẹn sát háng, tôi làm coi cũng gọn bâng; bây giờ tôi viết bài nầy, nhớ lại việc cách trên năm mươi năm, tôi mới hiểu và thương mẹ tôi, mỗi lần lấy áo quần ra giặt, đăm-đăm muốn biết sao “đứa con ăn cá, mẹ lừa xương” y-phục lại bèo-nhèo đến thế! (Mẹ! Mẹ ôi! giá-thử con cũng nghe huấn-từ của cha mẹ bằng như con đã nghe lời anh Tỷ-Bò!)

Tâm trí của tôi lúc đi hớt cá, không lo đỉa chun hậu môn, – thú thật tuổi ấy tôi cũng chưa biết đó là một tai nạn lớn và sẽ làm khổ cho cha mẹ đến bực nào, – tâm trí tôi mảng lo và chăm chú ngó theo bờ mẫu, ngó dài mặt nước bọc theo lức, đế, ô-rô, rau dừa. Chỗ nào có bọt nổi trắng-trắng hay vàng-vàng (trắng khi nào ruộng toàn nước mưa, vàng khi nào nước có lộn chất phèn chất sắt do dưới đất hoà lên, hay có lá mục…): bọt ấy là bọt cá thia-thia, rõ đích-thị hắn đây rồi! Con mắt thông thạo của Tỷ-Bò, dòm thoáng qua là biết ngay, không do dự môt giây một khắc! Đối với tôi thì cóc cần, bọt gì cũng mặc! Khi ấy hãy đưa rổ vào cho lẹ, vừa đẩy rổ tới trước vừa thọc sâu xuống và cũng vừa hứng lần lên, ba việc: đưa đẩy, thọc sâu, hứng lên, phải làm nhanh lẹ vén khéo, cùng khi ấy hai chơn lại phải giậm-giậm thật đều, thật kỹ giáp vòng chỗ mình đang đứng, cốt làm sao cho con cá, dẫu muốn thoát thân ra bụi bậm thì cũng vì “địa-võng” của mình bố trí quá khít khao, và nhờ sự “tấn công ba mặt” của mình quá chặt chẽ, đành vô phương thối bộ và đành rút lui về bọt, mặc tình bắt tha! Mỗi lần nâng rổ lên, nếu khéo tay và thông thạo thì gặp bọt chín mười lần, làm sao cũng phải hớt được vài ba con cá.

Cá giãy lách chách trong lòng rổ mà lòng mình cũng rung lên thình thịch, còn sung sướng hơn đánh bài tứ-sắc “tới quan”! Nhưng cũng khoan vội mừng sớm và hãy đợi cho cá lọt vào chai đem theo, xem đi xem lại kỹ càng rồi sẽ mừng không vội. Nếu hắn là con cá trống thì mặc sức mừng vui! Bất ngờ hớt trúng con cá thia-thia mái, thì nên phóng sanh phứt cho rảnh nợ đời, hoặc giả bắt được thứ cá sọc dưa, cá bã-trầu thì mừng hụt một phen và cũng nên mở nút chai trút ngược cá xuống ruộng mà làm doan làm phước cho nó nhờ! Để thì giờ xúc con cá khác còn hay hơn!

Cá bã-trầu, mình dẹp, vảy xanh lè, coi tốt mã ghê, thoáng qua tưởng mình thộp được con cá xiêm, mừng quýnh, không dè đó là thứ cá bã-trầu, đồ vô dụng, được nhiều kho mẻ tô thì đã tanh thêm xương nhiều thịt ít, ăn không ngon, bằng để nuôi chơi trong chai trong keo, thì chỉ phá đám, tốn công nuôi, cá bã-trầu trững giỡn cũng không biết đừng nói chi đá độ: bã-trầu chỉ giỏi tài nuốt cung quăng, vì kính trọng Ba tôi lắm, nên chuyền tay đem về Sốc-trăng, Ba tôi quí hơn vàng: con cá nầy nước lội xem đủ oai, thêm miệng quai xách, mắt thụt (không sợ cá khắc cắn nhằm), vảy đều đều óng ánh như lửa sáng, kỳ trên thật nhọn như cây bút lông chấm son dựng đứng, kỳ dưới đỏ chói khi xếp như lá cờ lịnh, khi xoè tươi như cờ hiệu nhà Vương!

Thằn-lằn quen mửng cũ, tôi giết đã nhiều, thế mà hắn còn đây, hay thật! (Chuyến nầy chết m. mày rồi!) Thằn-lằn quen mửng cũ, thấy nắp keo đậy không kín thì ăn quen, mon men toan độn nhập vào trong, định bề bắt cá tươi “xực” (thực) như kỳ trước! Tôi ngồi chỗ bộ ván, thấy con thằn-lằn ngán giùm cho cá, nó vóc to và mập, trắng đỏ như “thằng Lê-dương” năm ấy: có lẽ sức mạnh nó không vừa: nếu khoẻ như “lính đầu đỏ” và tinh anh có thừa, thì chu cha, ghê quá, không biết con xiêm bự của mình làm lại nó không? Khi ấy, tôi ngưng làm bài học, và định trong trí sẽ can thiệp cứu cá cho kịp thời. Thằn-lằn, vốn tánh dè dặt sẵn, (ba mươi đời quân gian thường kỹ càng, nên càng thêm lợi hại), thằn-lằn làm như “Lê-Huê khán trận”, ngó trước xem sau, (hát ba câu Nam rồi!) thì bò lần đút đầu vào miệng keo, không khác hùm dữ vào chuồng trâu…

Đàng nầy tôi ngồi mà nôn quýnh, không dám nhúc nhích cục kịch, gần như nín thở, hờm sẵn chờ dịp sẽ tiếp cứu và ám trợ con cá câng.

Thằn-lằn bò nhẹ nhẹ như tên du-kích lành nghề, mắt lườm lườm ngó riết con cá đang ở dưới đáy keo, thong thả xê xích từ phân từ ly, rình xem nhứt cử nhứt động của con vật sắp làm mồi ngon cho mình. Tôi nín thở, phập phồng lo sợ cho cá. Bỗng thằn-lằn quay đầu trở lên, lú chót mũi khỏi miệng keo, bốn chân hít cứng vào cổ keo thủ thế như thầy nghề võ, cặp mắt ngoáy trở xuống liếc theo từng mỗi hành động con thủy vật. Nắm được thế thủ vững chắc rồi, thằn-lằn bèn ra miếng độc. Nó thò đuôi rà mặt nước, lay động nhẹ nhẹ giả như chót đuôi là con quăng đang trở mình biến hình con muỗi, hoặc như con ruồi sa cơ vừa té xuống nước, đang giãy tử, chi vậy? – Xin thưa: ấy là kế dụ địch của thằn-lằn, để nhử thia-thia hờ cơ sẽ ra tay. Nếu khi ấy thia-thia không khéo đề phòng, trồi lên đớp nước, hoặc ơ hờ hoặc vô tình tưởng chừng chót đuôi kia là quăng, là muỗi, trân mình định táp, khi cá vừa tằm đòn thì thằn-lằn, lẹ như chớp, sẽ phóng mình xuống mặt nước và dùng đầu làm củ chuỳ đập mạnh vào đầu cá. Người có biệt tài, khéo ở chỗ đúc mà khi cáp cá, người ta không biết cá mình là cá lai, hoặc thấy “lai phảng phất” chút ít, kể như cá hồ, nên chịu độ, đến khi thả vô keo đá mới thấy lai rõ rệt, mà phép “thả cá vô keo” rồi thì kể chịu độ, phải để đá đến ăn thua, chớ không bắt ra được. Phép đúc cá, phải làm sao cho người ta biết cá mình không phải cá lai xiêm, thì mới dễ kiếm độ; chớ ở trường, khi cáp cá ngoài thố nhỏ, khi thấy cá lai rõ rệt thì ít ai khứng đá với mình, cũng có khi họ thấy lai mà dám đá là khi nào họ từng thấy trong bầy cá lai của người đó đã đá trước một hai con mà không dữ, hình thể cá đã xấu hoặc hư rồi, hoặc “cá lai non” nên họ không sợ. Cũng vì lầm tưởng như vậy, nên đã có người “tương kế tựu kế”, đúc và nuôi đến hai bầy: khác nhau ở chỗ mẹ cha khác giống, nhưng giống nhau ở chỗ cùng màu, cùng sắc, để dễ gạt lớp người thực thà, tuần nầy họ đem cá dở ra đá, rồi tuần sau họ mang cá hay đến gỡ độ, đá lớn hơn, những ai quá tham không kịp xét nét, sẽ thua họ mà không ngờ đã lầm kế độc “ly miêu hoán chúa”!

Phàm cá cũng như gà, “gan ruột” giống mẹ. Muốn đổ, phải lựa chọn cá mái cho thật dữ, nghĩa là mái lựa mái xiêm rặc hoặc lai một hai đời tuỳ ý, nhưng “cá trống” phần nhiều lựa “trống Rạch” (Rạch-Giá), “trống cỏ”, “trống hồ” đã từng ăn độ “anh hùng”, và lựa từ nết đá, nét chịu đòn, đến hình thể, v.v… Các tay chơi chưa lão luyện, ai ai lúc đổ cá, cũng ham cá sau nầy sẽ giỏi chịu đòn, cắn dữ, biết đánh “đòn hồi-mã-thương”, biết “chơi cú-đờ-tết”, tức biết quày mình dùng đầu đánh trái lại đầu con cá kia chưa đề phòng, biết đòn “câu nước hàm trên”, “câu nước hàm dưới”, tức cắn ngay hàm (trên hay dưới) của con cá nọ, ngậm chắc và trì xác con nọ xuống tận đáy, vừa lấy thế đó mà nghỉ mệt, xả hơi, vừa thi tài “giỏi nín hơi”, con nào không quen, không đủ sức chịu đựng, nín hơi lâu không nổi, sẽ giựt hàm chịu thua và chạy luôn có cờ! Nhưng những nhà lão luyện, kinh nghiệm có thừa, lại thích đúc cá thật bén, cắn dữ bội phần, để con cá kia bị cắn, bị đòn, rát quá thì chạy ngay; chớ những miếng “hồi-mã-thương”, “đâu hàm”, “bỏ chạy dụ địch” đều có chút phần nguy hiểm vì trong khi “chạy dụ địch” nếu có một bóng lạ, một tiếng động thình lình, cá chạy luôn cũng chưa biết chừng, nguy hiểm là vì vậy, nên họ không thích lắm.

Khỏi nói, về cá mái, cá để giống luôn luôn là cá lựa “gắt củ kiệu”, không chỗ chê, và trứng phải thật già. Trứng chưa già, ép ra thì cá non hao nhiều, mớ nào sống cũng không bền, không khác người ta đẻ thiếu tháng. Trong lúc mái còn non trứng, phải để cặp bên cá trống, mỗi ngày, cho ăn đầy đủ và mỗi bữa cho đá bóng cho cá sung sức, trứng mau già. Khi nào thấy con mái lội, đầu chìm xuống, khúc đuôi chổng vổng lên, bụng no tròn, ở hai bên hông “sọc dưa” vàng đen rõ rệt và một trứng lòi ra dưới bụng, ấy là trứng đã già, cá đã đúng lứa ép, không nên để lâu nữa. Trứng già mà không cho trống ép thì con mái cũng chết. Đây chỉ là một mánh khóe nhỏ, còn ngón gian trong trường cá không sao tả xiết, người thức thời và biết khôn, duy đừng mó tay vào nghề chơi cá và đá cá mới khỏi bị thua trí thua tiền.

THỂ LỆ ĐÁ CÁ

Theo phép chơi cá, tuy không có trường dạy luật lệ, nhưng theo thói quen thành tục, lấy đó làm chuẩn thằng, thì chịu đá hay không là khi nào cá của mình còn ngoài thố cáp, chưa thả vào “keo trường”. Cá còn ngoài thố, thì mình là chủ cá, có trọn quyền chạy, không đá, hay là ưng thuận, cho hai con đá nhau. Một khi cá thả vô “keo trường” thì như ván đóng đinh, phải để cho hai con đá đến ăn thua, chớ không bên nào được bắt cá ra, dẫu bên đối phương cá là cá lai “rặt” hay “lai mấy đời” cũng phải cắn răng mà chịu. Vì vậy khi cáp cá, phải cẩn thận từ ly từ phân, phải luyện cặp mắt biết “cá lai”, “cá Rạch” từ trong thố, chớ đừng đợi thả cá vô keo, kêu Trời vô ích!

Điều lệ khác cần biết là khi thả cá vô keo, khởi sự ăn thua là khi nào hai con đều cắn nhau “miếng vay miếng trả”, mỗi con cắn một miếng là bắt đầu “thành độ”. Nếu thả vô keo, hai con phùng xòe, con A cắn con B, B chưa cắn miếng nào, thoạt A bỏ chạy, thì độ cá kể “huề”, vì B chưa cắn, chưa thành độ.

Đây là thể lệ chánh, ở đâu cũng vậy, còn những chi tiết nhỏ nhặt khác thì sẵn chủ trường vừa là “cố vấn” vừa là quan Toà, sẽ giải quyết tuỳ sự thông cảm của đôi bên. Một điều nên nói nữa là chủ trường, ở tại trường cá, lịnh và quyền, lớn hơn ông Cò tại Bót Cảnh-sát; và ở trường cá không có luật “chống án”!

MỘT ĐỘ CÁ ĐIỂN HÌNH

Lúc nãy, tôi có nói về những mánh khóe gian lận của bọn đá cá chạy gạo, chuyên gạt lớp, phỉnh phờ, đến em cháu cũng không buông tha. Nói thì nói vậy, chớ thỉnh thoảng ông Tổ nghề đá cá cũng sửa lưng đồ đệ một cách bất ngờ cho chúng nó bớt khinh lờn oai Tổ! Lối năm 1938, tôi còn tùng sự tại tỉnh nhà Sốc-trăng để dễ bề thần tỉnh mộ khan. Ở xứ đá cá nên tật cũ khó chừa, chúa nhựt nào cũng có mặt tôi tại trường, mà trường cá vốn không xa lạ, vì chủ là anh Nguyễn Trinh-T., mặc dầu nay gương vỡ, chớ chức “anh vợ trước” không mất! Một buổi gần trưa chúa nhựt, tôi xách nả tre có đựng mươi cái thố sành, mỗi thố là một con cá chiến. Từ sáng sớm họ đã đá xong vài ba độ, trường đang nóng tiết, kẻ ăn cười người thua, luồng điện bắt đầu muốn xẹt lửa. Chú Bảy Minh đem cá từ Bãi-Xàu qua cáp độ. Khiến cá tôi gặp cá chú. Lúc còn trong thố, rõ ràng cá tôi lấn cá chú, một mười một tám. Đôi bên bằng lòng ưng đá, tiền độ là năm chục bạc, phần tôi “bao” phân nửa, hai mươi lăm đồng, còn lại chia kẻ năm người ba cho vui. Bên chú Bảy, chú bao sổ, chú muốn “ăn một mình trọn gói”, không cho bọn thua từ sớm “ké vào chút ít” gọi là gỡ gạc vớt vát ít nhiều.

Bởi họ thiện nghệ nên họ khôn hơn mình! Lúc nãy, cá còn trong thố, họ dùng lông gà nhận chìm con cá họ xuống sát đáy, lại thêm lấy lông gà quét túm vi kỳ con cá, nên mình thấy nhỏ xíu! Bây giờ được thả vào keo rộng, cá nở nang bành trướng đúng sức nên to gấp hai ban nãy! Thôi rồi! cái thua nắm chắc về phần mình rồi! Tôi ngồi đó mà chỉ trông mau dứt độ để về nhà sớm sớm, tránh những cặp mắt ngạo nghễ của bọn hàng sáo khó chịu. Chú Bảy, không nói gì, chỉ rung rung mấy sợi râu mép “kiểu Char-lot”, thầm hân hoan nhưng còn ngại, nếu cười ra mặt e tôi đổ quạu không chung tiền thì uổng lắm! Nhóm bàng quan nãy giờ thấy cá chú Bảy “kể ăn chắc” nên phóng bắt om xòm. Ban đầu còn kiêng dè, họ phóng mười đồng ăn bảy. Về sau bất kể, họ quăng ăn năm, ăn tư, nghe mà thêm tức giận. Riêng tôi, tôi ói gan, nhưng đã bước vào nghề, phải học chữ “nhẫn”, nên cắn răng mà chịu. Duy, nói chí đáng, mấy người đá theo phe tôi, một là nóng ruột sắp mất tiền oan uổng, hai là thấy tôi mắc mớp nên bên vực, bọn đồng sổ chưởi thề liền miệng, nào “đá không ngay thật”, nào “ăn gian sẽ thua mạt có ngày”!

Trong keo, hai con cá đã “trao đổi găng tay”, cắn nhau mỗi con một miếng cắn: thế là bắt đầu ăn thua thực sự. Cá của tôi vẫn quạt đuôi, phùng xoè, lo lội, lo tìm chỗ nhược mà hạ thủ. Cũng trong lúc ấy, ngờ đâu cá chú Bảy lại không lo nghinh chiến; để liến thoắng, đảo bên nầy rồi đảo bên kia, lội tung tăng theo cá tôi, hết lội sau rồi bọc ra trước mặt, giương kỳ, xòe đuôi, khoe mã, giáp. Bỗng lẹ như chớp nhoáng: con cá của tôi, thừa lúc cá chú Bảy uốn mình trước mặt khoe bộ vảy óng ánh như sao, nó bỗng phóng hết mình tới trước, cắn một miếng thật mạnh vào bụng bở, mạnh cho đến đỗi bọt nước văng tung tóe và nghe rõ ràng một tiếng “bóc” rung rinh mặt nước hồi lâu. Rồi một sự bất ngờ diễn ra mau như điện chớp. Cá chú Bảy bị một vố đau quá, giựt mình chạy khan, xếp đuôi cuốn giáp, hát bài “tẩu mã” luôn, không còn gan dạ nào trở đầu nghinh chiến! Mà có gì lạ đâu: chẳng qua từ khi thả chung vào keo, cá chú Bảy thấy cá tôi sặt rằn, trên mình có vằn có vện, lầm tưởng đó là “cá mái” nên sẵn lòng trổ ngón ba mươi lăm! Bất thần nay bị cắn mạnh “như trời đánh, búa bổ” bèn kinh tâm tán đởm, ù chạy luôn, quên chuyện đấu tranh!

Từ bại trước mắt, chuyển ra thắng một cách bất ngờ, tôi thò vợt múc cá ra, chìa tay lãnh hai mươi lăm đồng bạc ngon lành, trong khi chú Bảy, bây giờ mới nhìn bà con, lằm bằm: “Đồng tiền của ông cháu lớn quá! Tự hậu, tôi không dám đương đầu với ông nữa! Ai coi! cá tôi lớn mười, đá với cá ông không bằng phân nửa của nó; tiền kể như bỏ túi, tội gì cá lớn trổ tật, trững mái làm chi hại tôi thua vô cớ vô căn! Hoặc tôi hết thời nên Tổ trác? Hoặc ông cháu có thần tài giữ của chi đây? Thật báo tôi quá, và tự hậu tôi không đá với ông nữa đâu!”

Thật vậy! Chú Bảy từ ấy không hề cáp đá với tôi, mà tôi cũng giải nghệ từ đây vì biết rõ trong trường đấu kê đá cá, ngu ngơ như tôi làm vầy mà không sớm rút lui thì chỉ đưa đầu gối cho chúng đột !

CÓ MẤY THỨ CÁ ĐỂ NUÔI CHƠI?

Nay xin kể theo chỗ tôi biết, một vài thứ cá thường thấy:

1) Cá thia-thia cỏ, ao, hồ: tuỳ tên đồng nội, tên địa phương mà gọi, như tại Sốc-trăng, có cá đồng Lọ-Nghẹ, đồng Hàng Tràm, giồng Lình-kía (Long-tử cang), v.v…

2) Cá nước, cá Rạch (ở Rạch Giá, rừng U Minh). – Như đã nói, cá loại nầy hay lắm, răng bén, cắn dữ, giỏi chịu đòn, không chạy bậy, trừ phi “hết mùa cá xuống nước”. Xiêm lai lơ mơ cũng cự không lại nó. Người đi hớt cam go, lội rừng mấy ngày ròng rã, cá trốn trong bọng dừa nước, chung với rắn, đỉa, trong bưng biền có tiếng là đầy cọp, sấu, thú dữ… Ngày xưa cá đồng hạng tốt, bán một hai cắc bạc mỗi con, thì cá Rạch, gặp mùa hút và cho xổ thử thấy tài trước mắt thì ba đồng bạc mỗi con cá tốt, cũng có người dám mua. Cá nước duy bất tiện một điều là dễ nhìn ra, và chỉ cáp độ với cá nước khác chỗ hớt, còn cá cỏ, cá đồng, không ai dám đá với loại cá nước, cá Rạch nầy.

3) Cá xiêm rặt, gọi “cá xiêm thiệt” chia ra cá có kỳ và đuôi đỏ lòm, “cá xiêm đỏ”: bền nhưng ít bén; “cá xiêm xanh” thì kỳ và đuôi xanh lè xanh lét, cắn dữ, mạnh, lẹ, nhưng ít bền; “cá xiêm đen” vảy đen huyền, như cục xiên xáo, vừa đẹp, vừa hay, nhưng ít thấy bán; “cá sáp” mình trắng, để chưng chơi, không ai nuôi đá, đủ biết tài nghệ tầm thường nên không ai chuộng.

4) Cá xiêm lai một đời, còn dữ như thứ thiệt. Thấy dễ biết, vì càng lai thì thân mình con cá càng dài đòn thêm.

5) Cá xiêm lai biệt dạng, riêng gọi “cá đúc”; người sành nghề dòm qua dễ biết vì cá ta, đuôi, kỳ màu không sáng như cá lai.

Năm giống cá vừa kể là cá thia-thia đá độ. Đặc biệt nhứt là cá xiêm của các ông hoàng chơi riêng trong hoàng cung. Người dân thường làm gì có được? Cái con tôi nói trong chuyện “thia-thia đại chiến thằn-lằn” vì cỡ lớn quá, không gặp độ nên cũng không biết tài hắn. Lại nữa, lão thủy thủ tặng cho Ba tôi, nói làm vậy, mà đủ tin chăng? Nước Xiêm, nước Cam-Bốt là hai nước tu theo đạo Phật, cấm sát sanh. Thế mà người Xiêm và người Cơ-me thích chơi cá hơn ai hết. Thậm chí, thầy sãi thấy đá cá cũng dừng chơn đứng xem! Có người phàn nàn: “Ông đã tu-hành, sao lại ưa xem sát-phạt? E trái với lòng từ-bi của phật-tử chăng?”

Trả lời: “Việc tu-hành là khác. Đây là hai con cá nó đá lộn. Tự nó cắn nhau thì tôi coi! Tôi có xúi giục bao giờ mà tội với lỗi ???”.

Ngoài các giống cá “võ-sĩ”, biết trống mái thư hùng, biết cắn xé giết hại nhau, tranh đấu giữa đồng loại làm trò chơi cho thế gian vui mắt, lại có thứ cá “văn-sĩ”, y mão lượt bượt, xúng xính trong những bộ áo “may trừ hao” nên rộng xùng xình thấy dễ tức cười, tôi muốn nói những cá nuôi trong bể cạn, trong bồn thuỷ-tinh để làm kiểng chưng chơi. Ấy là:

a) Cá phướn (poisson de paradis) lội dựng đứng đầu trở lên trên, đuôi ở dưới, nên đặt cá bút chì là vì vậy.

c) Cá giống chiếc là khô (Monochire)…

e) Cá Taxotes Jaculatores, tức cá sọc dưa, mình giống cá chim, có sọc đen sọc trắng, trông rất đẹp. Người Tàu có tánh hiếu kỳ tuỳ theo màu sắc đặt tên khá ngộ: “Hắc thần-tiên”(hắc xành-xính), Mỹ-châu Bạch thần-tiên (Pạc xành-xính),v.v…

g) Cá Barbus de Suatra, có hai dải dưới dài giáp đuôi.

i) Cá Rasbora, sọc dưa sặt rằn theo chiều dài như pyjama màu xanh vàng.

k) Cá Tétra Déon toàn đen.

m) Cá Girardinus Guppy, mình xám, mắt và cạnh đuôi điểm đỏ.

o) Cá mình trong ngần dòm thấu xương

2) Giống cá vàng y như cá Ông Thọ, nhưng cá nầy có kỳ trên. Thường lội dưới nước tha thướt như công-tử hát bội du xuân! Kim-ngư mắt lồi như mắt cá thòi-lòi là quí nhứt, danh gọi “Đôn-nhãn”.

3) Một thứ Kim-ngư khác, mắt lồi thêm lật ngửa dòm trời, vì đó tên đặt “long-nhãn ngưỡng thiên”.

4) Cũng Kim-ngư, nhưng mắt như có bọc nước, lại gọi cá “thuỷ-bao-nhãn”.

5) Kim-ngư tuyền đen là “hắc mẫu-đơn”.

6) Cá tuyền trắng, lớn lên vảy chớp như bạc; còn kỳ đuôi cũng trắng phếu, thêm dài lê thê, trông đẹp như “bạch-tỵ công-tử” trong tuồng Tàu hay anh chàng văn-sĩ bạch y bạch mạo.

7) Kim-ngư nửa vàng nửa trắng là cá dính-dướng.

8) Kim-ngư nuôi lâu năm, đầu có mọc chóp mao, lúc lội vừa đớp nước vừa phun ra bọt tròn tròn, người Trung-Hoa đặt tên là “sư-tử hý cầu” để câu khách sộp, bán không dưới đôi ba trăm bạc. Đủ cặp giá còn mắc hơn nữa! Nhưng mua về, cá già mau mệt, và khó nuôi. Không vậy người bán cá dưỡng làm chi thứ “sử-tử hý cầu” mỗi lần ăn lăng-quăng còn hơn xe Huê-kỳ hoặc như voi uống nước!

Trừ những thia-thia nuôi để đá, phải cho ăn lăng-quăng tẩy sạch chất dơ và đếm từ con một, – có độ lượng thì cá không hư sớm, ngoài ra nuôi Kim-ngư và những cá để chưng chơi thì có thể cho ăn thêm với lăng-quăng, chút ít rau cải, như rau muống tươi để nguyên lá, xà lách, ruột bánh mì, bột cho cá ăn, và lăng-quăng hóa-học, đỏ đỏ, bé ly-ty Hoạ sĩ Hoàng Xuân Lợi không biết hình dạng của cá thia thia nên đã vẽ chúng với cái đuôi dài thậm thượt như giống cá Xiêm đuôi dài nuôi làm cảnh phổ biến vào thời đó (mà ngày nay gọi là loại “đuôi voan” tức veiltail). Đuôi cá lia thia đồng ngắn và nhỏ như đuôi cá đá Xiêm.

Theo tài liệu của người Thái Lan thì các trò đá cá, đá gà là các trò chơi dân dã ở nông thôn. Cá đá được nông dân Thái thuần dưỡng và tuyển chọn qua nhiều thế hệ vì vậy mà những con đá hay nhất thuộc về những nhà lai tạo. Không thấy đề cập đến việc chơi cá đá trong tầng lớp quí tộc ở Thái. Có lẽ người thủy thủ nói quá lên cho con cá thêm phần giá trị.

Ban đầu, thể loại đá cá lia thia được người ta ưa chuộng bởi vì cá lia thia đá không bền, các trận đấu thường kết thúc rất chóng vánh vì vậy mà làm được nhiều “độ”. Sau người ta tìm cách lai cá lia thia với cá xiêm sao cho bề ngoài càng giống cá lia thia càng tốt (“lai biệt dạng”) nhưng lại đá bền như cá xiêm. Cá này mà đem đá với cá cá lia thia thực sự là nắm chắc phần thắng. Đây là trò lừa đảo tinh vi vì phải lai tạo, nuôi dưỡng và tuyển chọn cá một cách công phu. Một khi ai cũng biết trò này thì việc lai tạo có thể đi đến hai kết cục. Thứ nhất, ở Việt Nam ngày nay không ai đá độ thể loại này nữa (có lẽ vì việc “lai biệt dạng” quá công phu), họ chuyển sang đá cá xiêm để khỏi bị ai lừa. Thứ hai, mọi người chấp nhận đá cá lai một cách công khai như ở miền Đông Bắc Thái Lan ngày nay.

Nghe nói có người còn luyện cho cá quen với nước muối rồi khi đá thì dụ cho người ta đá trong lọ của mình hay đổ nước từ lọ cá của mình vào lọ đá chung. Cá đối phương không quen với nước muối sẽ bị “xót mình”, mau bỏ chạy. Cách nữa là để đầu rắn độc thúi có giòi, rồi bắt giòi cho cá lia thia của mình ăn ít một cho quen lần. Cá ăn lâu ngày thì răng có ngấm chất độc nhưng nó không sao vì đã quen rồi. Đến khi đem đá mà cắn trúng cá của đối thủ một hồi là con kia giãy chết liền. Cách sau này tuy độc địa nhưng e rằng dễ bị phát hiện.

Nannostomes là chi cá bút chì Nannostomus.

Theo Dthong, Tel Matherina Ladigesi có lẽ là cách viết sai của loài Telmatherina ladigesi (tên chính thức hiện nay là Marosatherina ladigesi) còn gọi là cá cầu vồng Indonesia (Celebes rainbowfish), gọi vậy để phân biệt với cá cầu vồng châu Úc. Loài nầy thuộc về một họ cá rất lạ là Telmatherinidae. Ở đây, cụ Vương đã nhầm lẫn khi gọi chúng là macropode, bởi vì macropode chính là cá lia thia hay cá cờ như đã nói ở trên.

Scalaire tức Pterophyllum scalare, cá ông tiên nước ngọt. Điều ngạc nhiên là cách viết sai (thừa một chữ “i”) cũng khá phổ biến trên mạng.

Trichogaster là chi cá sặc, ở Việt Nam có ba loài là sặc bướm (Trichogaster trichpoterus), sặc rằn (Trichogaster pectoralis) và sặc điệp (Trichogaster microlepis). Nếu là cá nội địa thì có lẽ Vương tiên sinh đã nhận ra vì hồi nhỏ ông từng đi bắt cá ngoài đồng. Vậy theo chúng tôi, có thể ông đề cập đến các loài ngoại nhập như sặc trân châu (Trichogaster leeri), sặc mật (Trichogaster cheni) hay cá cẩm thạch (và một biến thể khác có màu vàng) vốn là loài cá sặc bướm thuần dưỡng.

Danio rario là cá ngựa vằn, xuất xứ từ Ấn Độ.

Mollinésie đoán chừng là Molly, là những loài thuộc chi Poecilia, tức cá bảy màu hay cá khổng tước. Một số cá thể có màu vàng-cam tươi và vây dựng lên như cánh buồm được gọi là khổng tước có diềm hay hoàng kim (sailfin molly). Nếu là loại màu đen tuyền như tác giả mô tả thì chính là cá hắc kim (để phân biệt với hồng kim). Các loài nầy thường bị lai tạp.

Hemi Grammus có lẽ là cách viết sai của Hemigrammus cũng là một chi cá tetra mà thôi, không rõ Vương tiên sinh nói đến loài nào.

Cá mà hình thù cá chim, vọc ngũ sắc, mặt vằn vện và rất đắt tiền (vào thời đó) thì có thể là… cá đĩa.

Đoán chừng là con bo-bo (hay trứng nước, hồng trần cũng là nó).

Cách Phân Biệt Dòng Cá Betta Halfmoon

Tượng Cá Xiêm Bằng Gỗ Hương Việt – T99

Bí Quyết Nuôi Cá Lia Thia Đá (Chọi Chiến, Xiêm Đá) Vô Địch – Kỳ 3

Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Ăn Gì Và Các Loại Thức Ăn Cho Cá Betta

Cá Betta Ăn Gì? Những Loại Thức Ăn Cho Cá Betta (Xiêm, Chọi, Lia Thia) Khoẻ Mạnh, Lên Màu Đẹp

Thú Chơi Cá Lia Thia

Cá Betta Là Cá Gì? Cách Nuôi Và Chăm Sóc Cá Betta Khỏe Mạnh, Lớn Nhanh

Làm Sao Để Chăm Sóc Bể Cá Lúc Về Quê Ăn Tết?

Top 4 Địa Chỉ Bán Cá Cảnh Đẹp Và Uy Tín Nhất Đà Nẵng

Kỹ Thuật Ép Cá Betta Để Đạt Được Số Lượng Cao

Vé Máy Bay Giá Rẻ Từ () Đi Xiêm Riệp (Rep)

Thia-thia đá bóng trong keo,

Ham vui trước mặt, quên nghèo sau lưng.

Ao sâu cá lội khoe màu,

Đố ai biết mỗ: bã trầu, thia-thia?

V.H.S

Thua thì thua mẹ thua cha,

Cá sinh một lứa, ai mà thua ai!

(Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Huỳnh Tịnh Của)

CÁ THIA-THIA. Chuyện địa phương, chỗ nhau rún nói ra họa may không ai nói gì, chớ tôi rất sợ các ông làm tàn, giỏi nghề ngồi không moi móc.

Đá cá thia-thia vừa là một thú vui của trẻ thơ, mà cũng vừa của người lớn, những ai có máu me cờ bạc:

– Bạn nhỏ đá cá chơi, không ăn tiền, cũng không có tiền mà ăn, – cốt tranh nhau giữa nhóm “hỷ mũi chưa sạch”: con cá mày dở vì hớt tại đồng “mấy thằng đánh giặc thua”, không như con cá tao hay lắm, vì gốc nó ở trên Hòa-Hưng, còn phảng phất vong hồn “tụi đánh giặc chống Tây” đời trước!

– Bọn già thì bất chấp điển tích, họ nghĩ rẻ rề: lấy đó làm nghề sanh nhai, “chạy gạo”, kiếm tiền nhậu nhẹt, hút xách, chơi bời… Đối với họ, mùa hạn, thì chơi gà. Mùa ướt, gà đổ lông, thì day qua đá cá: có thế thôi. Chừng nào cá cũ, thì bắt qua mùa gà. Trái đất cứ xây, người dân Việt quê, chỉ biết gà gà, cá cá…

Hồi còn mài đũng quần trường tỉnh xứ Sốc-trăng yêu nhớ, một trang một lứa nay còn sống sót ở đất Sài-gòn, đếm số còn thua số răng trên hai hàm lão già bảy chục, (không kể răng do các bác-sĩ nha-y trồng, nhìn không ra), lúc thiếu thời ấy, chúng tôi không gì thích bằng ngày lễ nghỉ xả hơi hay ngày chúa nhựt, sau khi bày vở đâu êm vào đó:

Rồ-lem (problème) làm rồi, con-bò-té-sông-răng-ke (composition française) vừa làm rồi; chia quẹt-bờ (verbe): rồi mà chưa, để sáng coi lại còn dư chán: anh-đi-xúc-tép-về-rang (indicatif présent) chưa mà rồi, vì dễ ợt, mai sáng chép vô tập còn kịp; bài học thuộc lòng, cũng nhớ làu làu, ngặt nỗi đọc lên như kéc mẹ chớ nhiều câu không hiểu nghĩa, nhưng dám chắc trong lớp cũng bí-lù như mình, tóm lại “đâu êm vào đó”, chừng ấy chúng tôi bèn rủ nhau, mỗi đứa cụ bị một rổ con hay một mủng trẹt, kèm thêm một chai nhỏ, thứ chai dầu thơm “Cô Ba” của mẹ hay chị đựng dầu dừa hay giấm chua, sẽ lén lấy, mượn đỡ hay ăn cắp cũng vậy, đem súc sạch và chứa sẵn nửa phần nước trong, đồ nghề đại khái rổ và chai cặp nách sẵn sàng thì hè nhau kéo ra đồng ruộng chia tay hớt cá.

Không phải bất cứ đồng nào cũng có cá hay.

Phải rành đôi chút mới chắc ăn kiểu “ba bó một giạ”.

Chung quanh thành phố Sốc-trăng, năm ấy (lối 1914 – 1915) tôi biết có:

1) Đồng Lọ-Nghẹ, ở phía sau trại lính Ma-tà. Gần đám ruộng nầy có nhà thợ rèn ở nhiều, than bụi tro lò đổ xuống nước ruộng, lâu ngày nước đen ngòm: thia-thia đồng nầy có màu đen đúa chắc da chắc thịt như con cháu tướng Uất-Trì đời Đường, vảy da như trui, thoét trong lò nấu đồng thổi sắt, nên đinh ninh cá đồng nầy “mình đồng gan sắt”, răng cứng như thép khóa chắc trong hàm như trong họng kềm: cá đồng nầy không chạy mặt cá đồng nào! Thảm nỗi, đồng ở gần trại lính Ma-tà, mà con cháu Ma-tà dữ quá, hễ chúng nó gặp bọn tôi lén hớt cá đồng Lọ-Nghẹ thì bọn nó đánh chúng tôi chạy bò lê bò càng, không biết đường về.

2) Đồng hàng tràm, gọi cá chùa Phật, vì nơi đây có chùa thờ đức Di-Đà. Nhờ lá tràm tích-đọng lâu năm, nhuộm nước đỏ au, – lá tràm vả chăng là vị thuốc đón gió ngừa phong, – nên cá vùng nầy mình như tẩm thuốc, bắt được con nào bỏ vô chai, ít giờ sau quen nước quen cái, cá phùng mang sậm màu, vảy xanh ửng hồng, đuôi đỏ chớp sao, chăm bẳm như các tổ-sư Bồ-Đề, hay nói cách khác, như thầy bùa, thầy ngải giỏi nghề “gồng chém không đứt” hay có học “xầng-tả”, xìn tả (thần đả). Năm xưa, nơi đây tôi hớt được một con “cá nái”, lớn bằng ngón tay út, lưu lại nhiều năm quá nên quá cỡ, không cáp độ gặp cá nào bằng nó, tôi để đá bóng chơi và đặt chiến danh là “Ngũ-Lang hòa-thượng”! để nhớ thành tích ông tướng “thầy chùa” trong tuồng “Mộc Quế-Anh dâng cây”. Con cá nái nầy, khi tôi hớt được, bỏ vào chai không lọt, phải gởi qua chai khác, đủ biết nó lớn con đến bực nào!

3) Một đồng khác là đồng Lình-kía (Long-tử cang), ở phía chùa Phật sau nhà máy Quách Xên. Tuy mang danh đẹp là “cá xóm Rồng con”, nhưng thia-thia đồng nầy không anh hùng chút nào, vì ở xóm chệc rẫy, bủng dứ vì quen tiêu thụ những đồ thừa của bọn nầy gởi trong đám ruộng bên nhà.

4) Một đồng khác nữa, rất xa xăm đối với cặp giò trẻ thơ của chúng tôi buổi đó, là đồng Bắc-Tà-Ky (tên thổ). Đây là ruộng phụ ấm của ông cậu họ Trần, nguyên con quan Đàng Cựu, xưa kia ngồi trấn xứ Ba-Thắc (srock Passac, tức Sốc-trăng). Cá vùng nầy nổi danh một thuở, bền gan không đâu có nhưng ít ai kiếm được lắm. Chủ ruộng là nhà đá cá lớn, dạy tá-điền canh chừng nghiêm mật, không ai hớt lén được. Đặc sắc trong vùng có thứ cá-kỳ-son, tức kỳ trên lưng có chấm một điển son, đây là giống cá xiêm lai biệt dạng của chủ ruộng đúc nắn lâu đời: cắn quạu, bền gan bực nhứt. Ông Trần, ông cậu của tôi, xưa có một con, ăn trọn mùa, không chạy độ nào, danh còn nhắc: “cá Triệu-Tử”.

5) Tệ nhứt là cá đồng Thầy Tám, trên đường đi Cần-thơ. Thầy Tám nguyên là pháp-sư, chuyên chữa bịnh bằng phù-chú. Thây ma chết chôn sau am, cá sanh vùng nầy lẹt đẹt không khác những con bịnh đau ma do thầy Tám chữa chạy: chưa đá chưa cắn ai một miếng nào, đã xếp đuôi xếp giáp, chạy cuốn cờ! Nguyên sở ruộng Thầy Tám là cuộc đất gò, nước cạn. Thảo nào cá thiếu nước không nơi dụng võ, ngắn hơi và nhát gan là lẽ cố nhiên. Tôi nói nước ít nên cá nhát gan, vì kinh nghiệm dạy rằng con cá ở nước sâu quen nín hơi, lâu lâu mới lên đớp bóng một lần, nhờ đó mà chịu đựng hay, bền hơn cá ở nước cạn.

6) Đồng lác, đồng cỏ năn, ở phía sau nhà thương tỉnh, dọc theo đường đi xuống Bang-Long (tục gọi quận Giếng Nước). Cá vùng nầy dở hơi, vì sanh trưởng trong lác, trong năn, trong cỏ, nên không có chi đặc sắc (thuở ấy chưa có anh hùng Rừng Sác, nước mặn). Tuy vậy đừng quen chê sớm mà lầm to có ngày, vì may thời Tổ đãi, hớt được cá kinh niên, thứ cá trốn ẩn lâu năm gần nhà xác, hình như còn oan hồn uổng tử vấn vương, hoặc nữa hớt được những cá lẻ loi sống chung lộn nhiều năm trong bộng trong hang rắn dữ, ngày ngày từng hớp nước có nọc con ác-xà phun ra, cá quen hơi rắn nên không hầy hấng, chực khi đụng độ với cá lạ đồng, thì khác nào con xà-niên ngậm ngải đối chọi với phàm phu, có thể nói bách chiến bách thắng. Tôi đã nói phải là có Tổ đãi mới bắt được thứ cá dữ nầy. Khoan vội tin lời tôi, ham thọc tay vào hang rắn, có ngày bỏ mạng!

Về việc nầy, tôi đã từng ngộ trận, một phen tởn tới già, nay nhắc lại nghe chơi mà còn rởn tóc gáy: Bữa ấy, trời mưa rỉ rả, tại đồng Hàng Tràm, mặt trời vừa xế bóng, tôi đặt rổ xuống nước, vừa lấy chơn giậm giậm xung quanh rổ rồi rút rổ lên, nghe như được một vật gì nặng nặng. Rổ lên vừa khỏi mặt nước. Mẹ cha ôi! Một con rắn hổ lên nước đen mun, nằm khoanh tròn chật rổ. Khỏi nói, tôi vừa thấy rắn, ba hồn bảy vía lên mây, lẹ như chớp, tôi quăng rổ té bật ngửa ra sau, không kể áo quần ướt vấy, mặt cắt không còn chút máu. Úy hà! Chút xíu nữa, không còn sống mà viết bài nầy! Quên nói, rắn ta cũng hoảng hồn hoảng vía (nếu thật rắn cũng có hồn), rắn đánh cái “tỏm”, buông mình xuống nước, phăn phăn lủi bụi trốn theo đường, rắn cút mất tự thuở nào!

Các anh em bạn theo tôi bữa đó đều chạy té đùn cục trong ruộng sình, báo hại thia-thia huyền bí đâu chẳng thấy, duy thấy một phen vỡ mật hú hồn.

Một lần khác cũng tại đồng Hàng Tràm nầy, tôi lại bị trâu dữ rượt, chạy bò càng, ve thúng quăng mất, may sao còn giữ được hồn. Con trâu nầy tôi nhớ rõ, sừng của nó, không biết vì sao không dựng quớt lên mà vẫn nằm lòng thòng hai bên đầu, có lẽ nếu nó húc cũng không hại gì lắm, nhưng nói giỏi, sao hồi đó không ở lại mà thử sức với nó! Tởn đi một dạo rồi chứng nào tật nấy, tôi cũng mon men ra đồng xúc cá, vì thuở ấy, thú thật, chúng tôi tiền bạc đến một đồng một chữ cũng chẳng có dính lưng, cho nên chỉ biết những thú vui không tốn tiền; mà theo tôi còn vui nào bằng ngày chúa nhựt đi hớt cá thia-thia, để được nhăm nhi củ kiệu chua nhai nghe giòn rụm, bây giờ nhắc lại còn chảy nước miếng!

Độ xưa, một nhà chơi cá ở chợ Sốc-trăng, có một con cá kỳ quặc, ông ta lượm nó ngoài đồng, ở sẵn trong một bình vôi sành mẻ miệng, bỏ gần bên gò mả loạn. Ông rinh luôn như vậy đem về nuôi, để y con cá ấy trong bình vôi của nó quen ở, trừ khi nào xách ra trường cáp độ, khi ấy ông mới vớt nó ra đọi ra thố đường hoàng. Con cá nầy có thể nói là lạ lắm, vì thắng không biết bao nhiêu độ, về sau không ai dám đem cá đối thủ với bất cứ cá nào của chủ nó, báo hại ông ta vì một con cá linh, thắng độ hoài, mà chủ không tiền hút! Tôi sau nầy, vì đi học trường lớn, cũng mất tích con cá ở bình vôi gò mả hoang nầy.

XÚC, BẮT, HỚT CÁ THIA-THIA

Muốn có được cá để chơi, phải có chút ít kinh nghiệm. Kinh nghiệm nầy không có trường nào chuyên môn dạy. Thuở đó, dẫu là con ông Thông đứng bàn ông Chánh, hay con Thầy ký Kho bạc, muốn có cá chơi, phải lén cha lén mẹ, phải lo lót xin thọ giáo với các tay rành nghề, mà không ai khác hơn là bọn bộ hạ dưới tay cha mẹ chúng, bọn trẻ chăn trâu giữ bò, cắt cỏ ngựa, mục-đồng, bọn ở đợ. Dạy không lấy tiền công tiền Tổ, cao thượng vậy thay. Duy phải chiều lòn, dẹp bỏ bộ tịch “cậu”, dày công tâng hót thì họ mới truyền nghề. Một trang một lứa với tôi năm đó có con ông Huyện Kim, con Thầy Thông Tây, toàn là tay “công-tử”, con các người có máu mặt đương thời. Trối kệ, phải xuống nước nhỏ, dẹp chức “Ấm” vào ngăn kéo, tôn họ làm “Sư”, làm “Mồ Tổ”, họ mới đoái hoài. Quên nữa, và phải trốn học, theo họ ra ngoài đồng ruộng, đổi với họ một khúc bánh mì thì họ cho leo lưng bò cỡi thử một chặp, hoặc dâng cho họ “đồng xu mẹ cho để dành ăn bánh”, thì họ cho phép lội xuống ruộng sình, bước lỏm bỏm theo họ mà hớt cá thia-thia hay là bắt ốc! Trốn trường cũng vì muốn biết cỡi bò, bỏ lớp, hoang phế việc học hành, cũng vì ba con cá xanh-xanh đỏ-đỏ! Thầy dạy chúng tôi hớt cá là anh Tỷ-Bò. Anh chăn bò, “giữ bò” từ lên sáu. Cứ mỗi sáng, cho ăn ba miếng cơm nguội no nê, chú đày tớ già bồng Tỷ đặt trên lưng bò, đèo thêm chai nước mưa, và mo cơm vắt…. Ra đồng, trọn ngày hết ngồi đến nằm, Tỷ ở trên lưng thú, nắng mưa phú có cao xanh thương xót, một cái nón rách, một chiếc áo tơi, – con nhà nghèo có ông Trời nuôi, – Tỷ mạnh lành, da đỏ sậm có cần gì hứng gió Long-Hải, tắm nắng Vũng-Tàu? Chiều lùa bò về, chú tớ già ẵm Tỷ xuống cho Tỷ xã hơi, cơm nước, ngủ nghê, ngày ngày y một kiểu như thế cho đến tuổi Tỷ lên xuống lưng bò mình ên được. Mà cái tuổi ấy không xa, mới ngộ chưa, vì cỡi bò được ít lâu, Tỷ đã dạy được con bò cầm bầy tên là “Cành-Tết”, biết nằm xuống, mỗi khi Tỷ cần dùng không muốn ở mãi trên lưng nó: bò nằm rồi, Tỷ bắn lùi như tôm, đít đi trước, chân đụng đất bình yên vô sự, nào cần ai bồng ẵm? Khi lên, Tỷ dạy “Cành-Tết” nằm nữa, Tỷ trèo, – có khó hơn khi xuống một tý, – trèo như kiểu thằn-lằn ôm cột đình, nhưng rồi cũng trèo lên lưng bò được, chớ không sao! Tỷ giấu nhẹm chú tớ già việc nầy, để hưởng tận cảnh: “cực thì có cực, nhưng khổ thì không khổ”. Ai ở đợ ra sao không biết chớ Tỷ không bao giờ bị chủ rầy la, một bầu trời nước bao la, mặc sức nghêu ngao hò hát! Sạm da vì nắng, săn thịt vì mưa, không hề sổ mũi gió máy bậy bạ, không bao giờ biết nhức đầu là gì, lên mười tuổi, Tỷ vỗ ngực xưng “Chúa tể Đồng Trường Đua”, “ngô chánh thị Tỷ-Bò thị giả!!!”

Không chuyện gì xảy ra ngoài đồng ruộng mà Tỷ-Bò không thạo: gò nào có rùa vàng, rùa nấp ở; hễ thấy dấu cỏ dấu đất ra làm sao là Tỷ biết có con vật ẩn núp dưới bụi đế hay gốc lức, v.v… Vì vậy mà Tỷ-Bò mỗi ngày mỗi lục lạo, lục còn hơn học trò lớp nhứt khuấy rầy quyển tự-vị lúc dịch “version” Tây! Con rắn làm hang như thế nào, và con rắn ấy là loại rắn gì, Tỷ-Bò biết đủ. Tỷ-Bò quả quyết thuốc “không xa”, và thường thường có giống cỏ nào mọc gần miệng hang, thì cỏ ấy là món thuốc thần trừ nọc con độc-xà kia vậy. Tỷ-Bò cam đoan đêm nào trăng sáng là rắn ra trững mỡ, “giỡn trăng”, chầy ngày lăn lộn trững đùa trên đám cỏ, sao sao cũng chảy dãi, nhểu nước miếng thấm cọng cây lá cỏ, tẩm già chất độc, chất nầy nhờ gội sương chan nắng nhiều ngày mà dịu lần, biến nên môn “thuốc ngừa” (kiểu nầy y như kiểu thuốc ngừa do viện Pasteur bào chế!). Tỷ-Bò dốt mà sao nghiệm được việc nầy, lạ thật! Mai sau người nào nếu bị rắn cắn, cứ nhớ tìm hang nó và bứt một mớ cỏ mọc nơi miệng hang, lớp đem về nấu nước uống, lớp nhai cấp kỳ nuốt nước và lấy xác đắp lên chỗ bị cắn, là có cơ thoát khỏi nạn nghèo! (Tỷ-Bò chúc ngôn).

Nghe làm vậy thì hay làm vậy, chớ tôi chưa dám truyền-bá, đem phương nầy bày vẽ cho ai thí nghiệm bao giờ. Nay viết ra đây cũng không bảo-kê hiệu quả. Tóm lại, chồn đèn, chuột đồng, kỳ-đà, rắn mối, rùa vàng, cá bộng, các con sinh vật ở ruộng, nhứt cử nhứt động là Tỷ-Bò hay biết từ đường đi nước bước. Sau nầy, mặc dầu tôi đỗ bằng Trung-học, “lên mặt” trở về làng, nhưng đối với môn vạn-vật-học và môn địa-dư tỉnh nhà, tôi vẫn như thuở còn bé thơ, thua anh Tỷ-Bò xa lắc! Miền Nam, từ cửa “Vàm Tấn” (Đại-Ngãi) cho đến sông Ông Đốc (Cà-Mau), không một khúc quanh nào mà Tỷ-Bò không biết tên, không một xẻo-co nào mà Tỷ-Bò chưa từng đặt chơn đến đó. Giờ nào nước lớn, nước ròng, nước đứng, Tỷ-Bò thuộc nằm lòng. (Nhờ vậy mà muốn đi đây đi đó, Tỷ-Bò không cần chèo chống. Một lá buồm rách, một cơn gió thuận, một chuyến nước xuôi, Tỷ-Bò thả ghe vô ruộng. Công việc xong xả, Tỷ-Bò chờ con nước, thả ghe về nhà, không tốn công chèo, còn hay hơn đời nay, sắm máy thế chèo mà có khi máy trục trặc, đã tốn tiền thêm mất công linh chờ đợi). (Không nói đến cái nạn mọi việc đều máy móc thay thế, sau nầy tầm vóc, bắp thịt đàn bà Việt sẽ kém thua bây giờ vì còn thể-thao chèo bơi gì nữa đâu?) Nói quá xa đề, nhắc lại đối với Tỷ-Bò, tuy vô học, nhưng con thú nào kêu la làm sao…, chỗ nào đào xuống là bắt được rắn hổ, chỗ nào đốt cỏ già hơi là có rùa mập bò ra, v.v…, tắt lại, địa-lý, địa-dư vùng đồng Ba-Thắc (Sốc-trăng), Tỷ-Bò xem rẻ như thò tay vào túi lấy đồ.

Hôm nào chúng tôi được theo sau lưng Tỷ-Bò ra đồng, thì hả hê bữa ấy: không cháo rùa cũng rắn xào, lươn um, hoặc cá lóc mập ú bó đất sét nướng trui vào lửa rơm, ăn nội cái “filet” chấm muối hột, “nóng hổi, vừa thổi vừa ăn”, đến nay còn thèm. Chúng tôi hùn tiền sắm gần đủ nồi ơ, chảo, đũa, gởi kỹ miễu “Ông Tà”, đũa rất ít dùng; vì chúng tôi kinh nghiệm ăn “bốc tay” sướng và ngon nhất! Chúng tôi không mê Tỷ-Bò không được! Tỷ-Bò rất khác tôi. Tôi thì, học toi cơm, học thuộc tên tổng tên làng làu như cháo lỏng, đọc như kéc mẹ, tên thảo mộc, tên chất khoáng hay ngũ kim, tôi kể giòn hơn lặt rau rang bắp, thế mà nếu ai hỏi vặn: làng ấy ở đâu, chất ấy biến thể ra gì, tôi sẽ ú ớ như đứa câm ăn ớt: học mà không hành, tôi kém Tỷ-Bò hằng mấy dặm! Biết mà thiếu kinh nghiệm, ra trường đời, tôi chỉ là thằng hủ nho Tây đại chi vô dụng!!!

Anh Tỷ-Bò dạy tôi phương pháp hớt cá lia thia.

Anh dặn: “Khi để chơn xuống ruộng sâu, thì phải nhớ không còn là con cưng của cha mẹ tại nhà nữa. Muốn nhỏng nhẻo thì ở nhà. Đến đây, phải biết hòa mình cùng Trời Đất: tập bước cho khéo chân, cá không giựt mình, mới có mà bắt. Lựa gốc rạ, dốc lức mục, giẵm cẳng lên đó thì khỏi sợ sa lầy khỏi uống nước bùn. Dẫu đỉa trâu lớn bằng ngón cái nó đeo bắp vế non, và dẫu đỉa hẹ đỉa mén mỏng như lá lúa bò lúc nhúc, lòng thòng trên bắp chuối, thì trối kệ nó! Dẫu vắt rừng cắn, máu ra ướt đỏ chân, háng, thì cắn răng để vậy! Tập chịu, thét rồi quen! Đó là thường sự! Muốn làm dân ruộng thì phải tập cho quen lần: tập cắn răng nín khóc, đau thế mấy cũng không được la! Rên la không ích gì, và chỉ làm bối rối người lớn, thêm làm cho cá tôm hoảng chui trốn mất, mà lỡ cơ hội tốt. Tập lâu ngày thì hết sợ; rồi thét đi sẽ dạn lần, sẽ thấy vui thú. Cần nhất là miễn sao đừng để đỉa con, vắt mén chui vào hậu môn, vào lỗ chỗ nhược, thì thầy chợ cũng khoanh tay mà Tỷ-Bò cũng vô phương tiếp cứu! Học bao nhiêu đó trước đã, rồi Tỷ sẽ dạy thêm”. Tôi nhớ lại hồi nhỏ, nhỏng nhẻo với mẹ có tiếng, mẹ vừa lấy cán chổi lông gà phủi sơ sơ ngoài quần, chưa chi đã la còn hơn bị ong bầu đút đít! Bây giờ mãi mê ba con cá thia-thia xanh-xanh đỏ-đỏ, anh Tỷ-Bò “phán” ra câu nào là dạ răng rắc, xem còn hơn câu kinh nhật tụng, tuân theo răm rắp, không dám cãi nửa lời! (Nay mẹ đã mất, cha cũng đã mất, con nhớ lại ăn năn không nghe cha mẹ bằng nghe Tỷ-Bò).

Tỷ-Bò dạy tôi phải cho có gan, thì tôi làm gan! Tỷ-Bò dạy tôi bậm môi thì tôi cắn môi đến giập máu! Anh dạy tôi túm, vo ống quần cho sát bẹn sát háng, tôi làm coi cũng gọn bâng; bây giờ tôi viết bài nầy, nhớ lại việc cách trên năm mươi năm, tôi mới hiểu và thương mẹ tôi, mỗi lần lấy áo quần ra giặt, đăm-đăm muốn biết sao “đứa con ăn cá, mẹ lừa xương” y-phục lại bèo-nhèo đến thế! (Mẹ! Mẹ ôi! giá-thử con cũng nghe huấn-từ của cha mẹ bằng như con đã nghe lời anh Tỷ-Bò!)

Tâm trí của tôi lúc đi hớt cá, không lo đỉa chun hậu môn, – thú thật tuổi ấy tôi cũng chưa biết đó là một tai nạn lớn và sẽ làm khổ cho cha mẹ đến bực nào, – tâm trí tôi mảng lo và chăm chú ngó theo bờ mẫu, ngó dài mặt nước bọc theo lức, đế, ô-rô, rau dừa. Chỗ nào có bọt nổi trắng-trắng hay vàng-vàng (trắng khi nào ruộng toàn nước mưa, vàng khi nào nước có lộn chất phèn chất sắt do dưới đất hoà lên, hay có lá mục…): bọt ấy là bọt cá thia-thia, rõ đích-thị hắn đây rồi! Con mắt thông thạo của Tỷ-Bò, dòm thoáng qua là biết ngay, không do dự môt giây một khắc! Đối với tôi thì cóc cần, bọt gì cũng mặc! Khi ấy hãy đưa rổ vào cho lẹ, vừa đẩy rổ tới trước vừa thọc sâu xuống và cũng vừa hứng lần lên, ba việc: đưa đẩy, thọc sâu, hứng lên, phải làm nhanh lẹ vén khéo, cùng khi ấy hai chơn lại phải giậm-giậm thật đều, thật kỹ giáp vòng chỗ mình đang đứng, cốt làm sao cho con cá, dẫu muốn thoát thân ra bụi bậm thì cũng vì “địa-võng” của mình bố trí quá khít khao, và nhờ sự “tấn công ba mặt” của mình quá chặt chẽ, đành vô phương thối bộ và đành rút lui về bọt, mặc tình bắt tha! Mỗi lần nâng rổ lên, nếu khéo tay và thông thạo thì gặp bọt chín mười lần, làm sao cũng phải hớt được vài ba con cá.

Cá giãy lách chách trong lòng rổ mà lòng mình cũng rung lên thình thịch, còn sung sướng hơn đánh bài tứ-sắc “tới quan”! Nhưng cũng khoan vội mừng sớm và hãy đợi cho cá lọt vào chai đem theo, xem đi xem lại kỹ càng rồi sẽ mừng không vội. Nếu hắn là con cá trống thì mặc sức mừng vui! Bất ngờ hớt trúng con cá thia-thia mái, thì nên phóng sanh phứt cho rảnh nợ đời, hoặc giả bắt được thứ cá sọc dưa, cá bã-trầu thì mừng hụt một phen và cũng nên mở nút chai trút ngược cá xuống ruộng mà làm doan làm phước cho nó nhờ! Để thì giờ xúc con cá khác còn hay hơn!

Cá bã-trầu, mình dẹp, vảy xanh lè, coi tốt mã ghê, thoáng qua tưởng mình thộp được con cá xiêm, mừng quýnh, không dè đó là thứ cá bã-trầu, đồ vô dụng, được nhiều kho mẻ tô thì đã tanh thêm xương nhiều thịt ít, ăn không ngon, bằng để nuôi chơi trong chai trong keo, thì chỉ phá đám, tốn công nuôi, cá bã-trầu trững giỡn cũng không biết đừng nói chi đá độ: bã-trầu chỉ giỏi tài nuốt cung quăng, vì kính trọng Ba tôi lắm, nên chuyền tay đem về Sốc-trăng, Ba tôi quí hơn vàng: con cá nầy nước lội xem đủ oai, thêm miệng quai xách, mắt thụt (không sợ cá khắc cắn nhằm), vảy đều đều óng ánh như lửa sáng, kỳ trên thật nhọn như cây bút lông chấm son dựng đứng, kỳ dưới đỏ chói khi xếp như lá cờ lịnh, khi xoè tươi như cờ hiệu nhà Vương!

Thằn-lằn quen mửng cũ, tôi giết đã nhiều, thế mà hắn còn đây, hay thật! (Chuyến nầy chết m. mày rồi!) Thằn-lằn quen mửng cũ, thấy nắp keo đậy không kín thì ăn quen, mon men toan độn nhập vào trong, định bề bắt cá tươi “xực” (thực) như kỳ trước! Tôi ngồi chỗ bộ ván, thấy con thằn-lằn ngán giùm cho cá, nó vóc to và mập, trắng đỏ như “thằng Lê-dương” năm ấy: có lẽ sức mạnh nó không vừa: nếu khoẻ như “lính đầu đỏ” và tinh anh có thừa, thì chu cha, ghê quá, không biết con xiêm bự của mình làm lại nó không? Khi ấy, tôi ngưng làm bài học, và định trong trí sẽ can thiệp cứu cá cho kịp thời. Thằn-lằn, vốn tánh dè dặt sẵn, (ba mươi đời quân gian thường kỹ càng, nên càng thêm lợi hại), thằn-lằn làm như “Lê-Huê khán trận”, ngó trước xem sau, (hát ba câu Nam rồi!) thì bò lần đút đầu vào miệng keo, không khác hùm dữ vào chuồng trâu…

Đàng nầy tôi ngồi mà nôn quýnh, không dám nhúc nhích cục kịch, gần như nín thở, hờm sẵn chờ dịp sẽ tiếp cứu và ám trợ con cá câng.

Thằn-lằn bò nhẹ nhẹ như tên du-kích lành nghề, mắt lườm lườm ngó riết con cá đang ở dưới đáy keo, thong thả xê xích từ phân từ ly, rình xem nhứt cử nhứt động của con vật sắp làm mồi ngon cho mình. Tôi nín thở, phập phồng lo sợ cho cá. Bỗng thằn-lằn quay đầu trở lên, lú chót mũi khỏi miệng keo, bốn chân hít cứng vào cổ keo thủ thế như thầy nghề võ, cặp mắt ngoáy trở xuống liếc theo từng mỗi hành động con thủy vật. Nắm được thế thủ vững chắc rồi, thằn-lằn bèn ra miếng độc. Nó thò đuôi rà mặt nước, lay động nhẹ nhẹ giả như chót đuôi là con quăng đang trở mình biến hình con muỗi, hoặc như con ruồi sa cơ vừa té xuống nước, đang giãy tử, chi vậy? – Xin thưa: ấy là kế dụ địch của thằn-lằn, để nhử thia-thia hờ cơ sẽ ra tay. Nếu khi ấy thia-thia không khéo đề phòng, trồi lên đớp nước, hoặc ơ hờ hoặc vô tình tưởng chừng chót đuôi kia là quăng, là muỗi, trân mình định táp, khi cá vừa tằm đòn thì thằn-lằn, lẹ như chớp, sẽ phóng mình xuống mặt nước và dùng đầu làm củ chuỳ đập mạnh vào đầu cá. Người có biệt tài, khéo ở chỗ đúc mà khi cáp cá, người ta không biết cá mình là cá lai, hoặc thấy “lai phảng phất” chút ít, kể như cá hồ, nên chịu độ, đến khi thả vô keo đá mới thấy lai rõ rệt, mà phép “thả cá vô keo” rồi thì kể chịu độ, phải để đá đến ăn thua, chớ không bắt ra được. Phép đúc cá, phải làm sao cho người ta biết cá mình không phải cá lai xiêm, thì mới dễ kiếm độ; chớ ở trường, khi cáp cá ngoài thố nhỏ, khi thấy cá lai rõ rệt thì ít ai khứng đá với mình, cũng có khi họ thấy lai mà dám đá là khi nào họ từng thấy trong bầy cá lai của người đó đã đá trước một hai con mà không dữ, hình thể cá đã xấu hoặc hư rồi, hoặc “cá lai non” nên họ không sợ. Cũng vì lầm tưởng như vậy, nên đã có người “tương kế tựu kế”, đúc và nuôi đến hai bầy: khác nhau ở chỗ mẹ cha khác giống, nhưng giống nhau ở chỗ cùng màu, cùng sắc, để dễ gạt lớp người thực thà, tuần nầy họ đem cá dở ra đá, rồi tuần sau họ mang cá hay đến gỡ độ, đá lớn hơn, những ai quá tham không kịp xét nét, sẽ thua họ mà không ngờ đã lầm kế độc “ly miêu hoán chúa”!

Phàm cá cũng như gà, “gan ruột” giống mẹ. Muốn đổ, phải lựa chọn cá mái cho thật dữ, nghĩa là mái lựa mái xiêm rặc hoặc lai một hai đời tuỳ ý, nhưng “cá trống” phần nhiều lựa “trống Rạch” (Rạch-Giá), “trống cỏ”, “trống hồ” đã từng ăn độ “anh hùng”, và lựa từ nết đá, nét chịu đòn, đến hình thể, v.v… Các tay chơi chưa lão luyện, ai ai lúc đổ cá, cũng ham cá sau nầy sẽ giỏi chịu đòn, cắn dữ, biết đánh “đòn hồi-mã-thương”, biết “chơi cú-đờ-tết”, tức biết quày mình dùng đầu đánh trái lại đầu con cá kia chưa đề phòng, biết đòn “câu nước hàm trên”, “câu nước hàm dưới”, tức cắn ngay hàm (trên hay dưới) của con cá nọ, ngậm chắc và trì xác con nọ xuống tận đáy, vừa lấy thế đó mà nghỉ mệt, xả hơi, vừa thi tài “giỏi nín hơi”, con nào không quen, không đủ sức chịu đựng, nín hơi lâu không nổi, sẽ giựt hàm chịu thua và chạy luôn có cờ! Nhưng những nhà lão luyện, kinh nghiệm có thừa, lại thích đúc cá thật bén, cắn dữ bội phần, để con cá kia bị cắn, bị đòn, rát quá thì chạy ngay; chớ những miếng “hồi-mã-thương”, “đâu hàm”, “bỏ chạy dụ địch” đều có chút phần nguy hiểm vì trong khi “chạy dụ địch” nếu có một bóng lạ, một tiếng động thình lình, cá chạy luôn cũng chưa biết chừng, nguy hiểm là vì vậy, nên họ không thích lắm.

Khỏi nói, về cá mái, cá để giống luôn luôn là cá lựa “gắt củ kiệu”, không chỗ chê, và trứng phải thật già. Trứng chưa già, ép ra thì cá non hao nhiều, mớ nào sống cũng không bền, không khác người ta đẻ thiếu tháng. Trong lúc mái còn non trứng, phải để cặp bên cá trống, mỗi ngày, cho ăn đầy đủ và mỗi bữa cho đá bóng cho cá sung sức, trứng mau già. Khi nào thấy con mái lội, đầu chìm xuống, khúc đuôi chổng vổng lên, bụng no tròn, ở hai bên hông “sọc dưa” vàng đen rõ rệt và một trứng lòi ra dưới bụng, ấy là trứng đã già, cá đã đúng lứa ép, không nên để lâu nữa. Trứng già mà không cho trống ép thì con mái cũng chết Bài nầy đã đăng rồi kỳ nhứt trong báo Tự-Do, Xuân Canh-Tý (1960). Nay có thêm nhiều chỗ (Ghi chú của tác giả).

Quăng: larves de moustique. Nay quen gọi là con quăng, con lăng-quăng, không ai nói con “cung-quăng”. Tên nầy chỉ thấy trong tự vị Huình-Tịnh Của và Génibrel. Xưa ắt thấy con gì hình như cây cung mà biết quăng mình tới trước, nên đặt tên làm vậy chăng? Xin hỏi các bực cao-kiến (Ghi chú của tác giả). Theo chỗ tôi biết thì thằn lằn chỉ dùng đuôi để câu và hất con cá ra ngoài rồi ăn thôi chứ không có nhao xuống đớp theo kiểu đó. Đôi khi mất cá cũng chưa chắc vì thằn lằn mà vì cá tự nhảy ra khỏi lọ để “trốn đi”. Tôi bị mất nhiều cá lia thia theo kiểu này rồi mà chính cụ Vương cũng công nhận là đến ngày, đến tháng con cá nó tự tìm cách thoát thân. Có lần đang ép cá giữa chừng thì tôi vớt con cá mái ra. Sau nó xình bụng rồi chết. Không rõ con cá mái cho “đá bóng” hoặc để nuôi lâu mà không ép, trứng già rồi thì bao lâu nó sẽ bị sình bụng mà chết? Việc này cụ thể, thực hư ra sao chưa thấy ai nghiên cứu. “Poisson de paradis” hay “Macropode” là các tên gọi khác nhau của loài Macropodus opercularis (tức cá cờ, cá săn sắt hay… cá lia thia theo cách gọi ở miền Bắc và miền Trung). Theo Dthong, “Monochire” có thể là “Monochir” hay “Monochirus” là những loài cá thuộc họ cá bơn (Soleidae) hay họ cá dẹp (flatfish). Các họ cá này chủ yếu sống ở biển, tuy cũng có một số loài ở nước ngọt nhưng chúng cực kỳ khó nuôi vì chỉ ăn phiêu sinh vật. Tôi không nghĩ là người ta bán chúng một cách đại trà. Căn cứ theo mô tả của cụ Vương thì có lẽ đó là loài Monocirrhus polyacanthus, hình thù trông giống như chiếc lá khô (leaffish) sống ở sông Amazon, Nam Mỹ (thuộc họ Polycentridae); màu sắc chúng cũng phù hợp, đặc biệt phần chót vây hậu môn và vây lưng “trong khe” như mô tả. Loài này rất ít di chuyển và thường lẩn trốn trong các bụi thuỷ sinh. Tuy nhiên chúng là loài ăn mồi sống chẳng hạn như cá nhỏ, chứ không ăn chất thải của những loài khác. Toxotes jaculatores (tên chính thức là Toxotes jaculatrix) là loài cá ngoại nhập, xuất xứ từ Nam Á hay Úc. Loài tương tự mà chúng ta vẫn thấy bán trên thị trường cá cảnh có lẽ là loài cá nội địa Toxotes chatareus, tức cá pháo thủ hay cá mang rỗ. Barbus de Suatra có lẽ là cách viết sai của Barbus de Sumatra, tức cá tứ vân (Barbus tetrazona), xuất xứ từ đảo Sumatra. Rasbora là chi cá lòng tong gồm nhiều loài phân bố ở Đông Nam Á, không rõ Vương tiên sinh đề cập đến loài nào. Theo Dthong, Tetra Déon có lẽ là cách viết sai của Tetra Néon hay neon tetra (Paracheirodon innesi), loài cá thuộc họ Characidae (có người gọi là họ cá hồng nhung). Ngoài ra, còn có một số loài cá neon khác như neon xanh (Paracheirodon simulans) với sọc xanh nổi bật hơn loài neon thông thường, neon đỏ (Paracheirodon axelrodi) với phần thân dưới màu đỏ tươi và neon đen (Hyphessobrycon herbertaxelrodi) với sọc trắng đen. Cá neon trông khá giống với cá cầu vồng ở d) (mà cụ Vương gọi nhầm là macropode) nhưng không có họ hàng gì. Girardinus guppy (hay Girardinus guppii) tức cá bảy màu hay cá khổng tước, tên chính thức hiện nay là Poecilia reticulata. Đoán chừng là cá thủy tinh (hay cá trèn mỏng) Kryptopterus bicirrhis. Bây giờ mọi người đều gọi là cá vàng hay cá ba đuôi. Có vô số loại khác nhau, mô tả của cụ Vương cũng khá rõ ràng nhưng vì không rành nên chẳng dám bàn sâu.[26] Đoán chừng là con bo-bo (hay trứng nước, hồng trần cũng là nó).

Lá Bàng Khô Có Lợi Hay Hại Cho Cá Betta Bạn Đã Biết Hết Chưa?

Các Loại Cá Cảnh Dễ Sinh Sản, Dễ Nuôi

Bệnh Đốm Trắng Ở Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Và Cách Điều Trị

Cá Betta Sinh Sản Như Thế Nào ?

Chế Biến Thức Ăn Dinh Dưỡng Cho Cá Betta Từ Thịt Bò

Thức Ăn Cho Cá Lia Thia

Bán Cá Lia Thia Cần Thơ

Đá Dế, Đá Cá Lia Thia.

Kinh Nghiệm Chọn Cá Lia Thia Đẹp

Cá Lia Thia Cũng Làm Ổ Để Đẻ Trứng

Xúc Cá Lia Thia Thu Tiền Triệu

– Bo bo có kích thước tương đương với cá lia thia bột. Mặc dù bo bo mới nở có kích thước chỉ bằng một nửa nhưng chúng lớn rất nhanh. Quan sát trong phòng thí nghiệm của các nhà khoa học phát hiện thấy số lượng bo bo có kích thước nhỏ dưới 0.5 mm là không đáng kể. Mặt khác khi xuất hiện với mật độ cao, chuyển động giật cục của bo bo ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cá dẫn đến số lượng của chúng bị sụt giảm.

– Ấu trùng artemia có kích thước thước khá nhỏ, khoảng 0.5 mm, nhưng chúng chỉ sống được khoảng vài giờ trong môi trường nước ngọt.

Vì vậy trên thực tế, hai loại thức ăn nêu trên không thích hợp để nuôi cá lia thia bột. Bài viết này nhằm giới thiệu hai loại thức ăn đặc biệt nhỏ và thường được sử dụng để nuôi cá con mới nở rất hiệu quả: đó là trùng cỏ (infusoria) và trùn giấm (vinegar eel).

Trùng cỏ (infusoria) là những sinh vật nguyên sinh hiện diện ở hầu hết các vực nước như ao, hồ, sông và biển. Chúng có kích thước rất nhỏ và là thức ăn vô cùng quan trọng cho cá bột mới nở. Trong ngành chăn nuôi thủy hải sản ở các nước công nghiệp phát triển, người ta thường phân lập và nhân giống đại trà một số loại trùng cỏ như trùng bánh xe (rotifer) và trùng đế giày (paramecium). Những sinh vật này thuộc về một nhóm trùng cỏ quan trọng gọi là mao trùng (ciliates).

Trùng cỏ có kích thước nhỏ nhất (khoảng dưới 200 micro mét) so với các nguồn thức ăn khác như bo bo, artemia và trùn giấm. Thực ra, bo bo và artemia mới nở cũng rất nhỏ nhưng chúng tăng trưởng rất nhanh và trở nên quá to để cá bột có thể ăn được. Như vậy, trùng cỏ là thức ăn thích hợp nhất đối với những loại cá bột có kích thước nhỏ chẳng hạn như cá lia thia, betta.

Ngoài tự nhiên, trùng cỏ hiện diện và tập trung nhiều ở ven bờ ao hồ, kênh rạch, cống rãnh và ruộng lúa; chúng thâm nhập vào cả các hòn non bộ và chậu cảnh qua nguồn thực vật thủy sinh hay thức ăn mà chúng ta mang vào đó. Thức ăn của chúng là vi khuẩn, vi tảo và các loại mùn bã hữu cơ lơ lửng trong nước. Đấy là những nguồn “con giống” mà chúng ta có thể tận dụng để “ươm nuôi trùng cỏ tại gia”.

Có nhiều phương pháp ươm nuôi trùng cỏ, trong loạt bài viết về nguồn gốc của Plakat Thái tác giả Precha đã khuyên nên bỏ một ít rau muống ao vào chậu ép cá và để ở chỗ tối một thời gian, khi cá con ra đời thì nguồn thức ăn trùng cỏ đã sẵn sàng. Bạn sẽ tự hỏi là con giống trùng cỏ ở đâu mà có? Trùng cỏ luôn hiện diện trên bề mặt thực vật thủy sinh (ở đây là rau muống), khi thực vật bị phân hủy bởi vi khuẩn (hiện tượng thối rữa), lượng vi khuẩn sẽ bùng phát và là nguồn thức ăn dồi dào cho trùng cỏ. Trùng cỏ sinh sôi thật nhiều và đến lượt chúng trở thành nguồn thức ăn cho cá bột mới nở.

Trong bài này tôi xin giới thiệu một phương pháp ươm nuôi trùng cỏ cấp tốc (1-2 ngày) và đơn giản, tôi đã thử nghiệm nuôi cá lia thia mang xanh (Betta imbellis) trong hồ kiếng 1 m x 0.4 m x 0.4 m và không hề thả rong (có nghĩa cá bột phải hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn từ bên ngoài cung cấp). Kết quả thu được rất khả quan, sau 2 tuần số lượng bầy cá tăng trưởng và đủ lớn để ăn bo bo xấp xỉ 200 con. Bạn có thể chuẩn bị loại thức ăn này ngay khi cá vừa đẻ trứng chứ không cần phải bắt đầu trước đó cả tuần!

– Một ly nước lấy ở hòn non bộ, nơi có nhiều rêu xanh. Đây là nguồn trùng cỏ giống.

– Một nắm lá xà lách xay nát bằng máy xay sinh tố.

– Một vài viên men cơm rượu. Hầu như bất cứ khu chợ nào ở Việt Nam cũng có bán men cơm rượu, bạn cứ mua ở các cửa hàng tạp hóa (thử hỏi không có cơm rượu làm sao chúng ta có thể “diệt sâu bọ”!) . Men cơm rượu có chứa nhiều vi khuẩn, tôi hy vọng nó sẽ đẩy nhanh quá trình phân hủy lá xà lách. Nếu có nhà khoa học nào khẳng định rằng vi khuẩn lên men cơm rượu không hề có tác dụng thúc đẩy việc phân hủy lá xà lách thì chúng ta sẽ tiết kiệm được 1 ngàn tiền mua men cơm rượu! Dẫu sao, đây chỉ là suy luận của riêng tôi, tôi không dám khẳng định rằng nó thực sự có tác dụng.

Cụ Ông 70 Năm Đam Mê Cá Lia Thia

Cá Lia Thia Loài Cá Đẹp Mang Nhiều Màu Sắc

Cách Nuôi Cá Lia Thia Con

Cách Nuôi Cá Lia Thia Và Kỹ Thuật Nuôi Cá Lia Thia

Cách Chọn Cá Lia Thia Đá Tốt

Cá Lia Thia Ấp Miệng

Những Điều Quan Trọng Trong Cách Chọn Cá Lia Thia Đá Tốt

Cá Thiên Đường, Lia Thia Đồng Nuôi Trong Hồ Thủy Sinh

Thức Ăn Ương Cá Lia Thia

Bà Bầu Ăn Hải Sản Như Thế Nào Để Tốt Nhất Cho Thai Nhi?

Bà Đẻ, Mẹ Sau Sinh Cho Con Bú Ăn Cá Ngừ, Cá Nục, Cá Biển Được Không?

Trong giống cá lia thia ( Betta), có hai hình thức sinh sản: tạo tổ bọt để giữ trứng hoặc ấp trứng trong miệng.

Nhóm tạo tổ bọt để giữ trứng thích nghi với điều kiện nước đứng, tù hãm, kiểu đầm lầy, với cây thuỷ sinh, thực vật nổi dày đặc. Số lượng trứng đẻ mỗi đợt nhiều, trứng nhỏ, cá con nở ra cũng nhỏ, nhằm bù lại cho sự hao hụt số lượng.

Đối với nhóm ấp trứng trong miệng, có vài giả thuyết khác nhau về sự thích nghi với cơ chế sinh sản này. Một số tác giả cho rằng việc ấp trứng trong miệng nhằm tránh cho trứng/cá con không bị các loài khác ăn mất, một số tác giả khác thì cho rằng hành vi này nhằm thích nghi với điều kiện nước chảy, môi trường không thể tạo tổ bọt. Tuy nhiên trong một nghiên cứu, các tác giả thấy rằng không có mối tương quan rõ ràng giữa việc ấp trứng trong miệng và dòng chảy của nước, vì một số loài Betta ấp miệng cũng sinh sản trong nước đứng, nơi có những loài khác trong cùng phụ họ Macropodinae vẫn sinh sản theo phương thức làm tổ bọt. Do vậy hình thức sinh sản này cũng có thể nhằm tận dụng tốt hơn các sinh cảnh khác nhau trong cùng một môi trường. Tôi thì theo giả thuyết cho rằng hình thức sinh sản này thực sự là để thích nghi với môi trường nước chảy, dựa trên những gì quan sát được lúc bọn này đẻ trứng (mô tả chi tiết ở phần dưới).

Hiện nay giả thuyết về cơ chế thích nghi này vẫn chưa có kết luận cuối cùng, và người ta cho rằng cần có thêm dữ liệu thực địa để kiểm chứng các giả thuyết.

Lần đầu tiên cá lia thia ấp miệng tôi nuôi đẻ là vào đầu năm 2011. Bọn cá tự đẻ trong hồ. Tới khi tôi thấy đám cá con đồng thời với việc con đực ngậm tiếp lứa trứng thứ hai thì mới phát hiện ra!

Sau lần đó, tôi mới bắt đầu để ý đến việc sinh sản của bọn cá này. Té ra việc cho sinh sản bọn này cũng rất dễ, thực sự là còn dễ hơn cả cá lia thia làm tổ bọt. Chúng ta chỉ cần nuôi chúng cho tốt, tạo nhiều chỗ ẩn nấp cho chúng. Việc sinh sản bọn chúng sẽ “tự lo”, không sớm thì muộn. Sau vụ “sinh sản ngoài kế hoạch” trên thì việc bọn lia thia ấp miệng tôi nuôi đẻ trở thành bình thường!

Cuối năm 2011, một cặp cá lia thia ấp miệng lại bắt đầu đẻ trong hồ nuôi (riêng). Tôi quyết định quan sát kỹ hơn quá trình sinh sản của bọn này. Thời điểm đó, tôi không biết quay video và cũng không quan tâm lắm nên việc ghi nhận chỉ là hình chụp. Tuy nhiên, loạt hình này cũng đủ để giúp chúng ta hiểu tương đối về cách thức sinh sản của loại cá này.

Ghi chú:

Loài cá lia thia ấp miệng trong bài này có lẽ là Betta prima, phân bố tương đối rộng ở một số tỉnh thuộc miền Nam. Nhóm này có thể có nhiều hơn một loài ở Việt Nam hay không thì chưa rõ.

Trong quyển “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ“, xuất bản năm 1992, có mô tả một loài lia thia với tên gọi là Betta taeniata. Loài này thực ra không có ở nước ta. Các mô tả trong quyển sách đó khớp với loài Betta prima ấp miệng hiện nay. Thời điểm đó, có lẽ do thiếu tài liệu tham khảo (nước ta chưa mở cửa hoàn toàn, internet chưa có…) nên việc định danh không thực hiện được cho đúng đắn, chứ thực ra các mô tả, số liệu đo đếm trong quyển sách trên rất chuẩn xác! Mẫu vật dùng để mô tả loài này trong sách trên thu ở chúng tôi Tôi cũng từng thu được loài lia thia ấp miệng ở Bình Chánh, trong sinh cảnh rừng tràm và nước phèn (hình như gần khu vực nông trường Lê Minh Xuân ngày xưa).

Trong sinh sản của loài Betta prima, cá mái là giới tính kích hoạt việc sinh sản. Khi cá mái muốn đẻ, nó sẽ tìm đến con đực. Nếu con đực không có “vấn đề” gì, cặp cá sẽ tiến hành quá trình đẻ trứng.

Đôi cá sẽ tiến sát và ép vào nhau như các loài cá lia thia làm tổ bọt.

Trong quá trình “ép”, cá đực luôn luôn ở phía dưới. Khi trứng được “xả” ra thì đồng thời sẹ cá đực cũng tiết ra để thụ tinh cho trứng (thụ tinh ngoài). Con đực sẽ uốn cái vi hậu môn của nó để hợp với thân tạo thành một cái rãnh để hứng trứng. Một lần trứng “xả” có thể khoảng hơn chục trứng hoặc có thể ít hơn. Càng về cuối quá trình đẻ hình như số trứng “xả” mỗi lần càng ít (cái này tôi không chắc lắm).

Sau đó cá đực vẫn giữa nguyên tư thế, để tránh cho trứng bị rơi ra ngoài. Con cá mái sẽ lần lượt ngậm hết trứng vào miệng của nó. Ta lưu ý rằng trong tự nhiên, quá trình sinh sản có thể xảy ra ở khu vực nước chảy, do vậy hành vi của con đực giúp tránh thất thoát trứng.

Tiếp theo là quá trình nhả – bắt trứng hết sức ngoạn mục, mà nếu ai không hiểu sẽ tưởng rằng bọn chúng đang tranh nhau ăn trứng!

Sau khi ngậm trứng, cá mái bắt đầu phun trứng ra trở lại. Mỗi lần khoảng 1-2 trứng, rất ít khi nào tới 3 trứng. Khi cá mái vừa phun trứng ra, con đực nhanh như chớp đớp lấy trứng.

Nếu con đực hơi chậm một chút, con cá mái lập tức đớp lại số trứng nó vừa nhả ra. Ta lại phải đặt hành vi này vào hoàn cảnh thực tế: quá trình sinh sản xảy ra nơi nước chảy, nếu con đực “chậm chân” (thực ra là “chậm mồm”) 🙂 , thì trứng có thể trôi mất. Do vậy, con cá mái sẽ “nhận định” tình hình, nếu thấy con đực “chậm mồm”, nó sẽ thu hồi lại trứng.

Như đã nói ở trên, rất ít khi con mái nhả ra quá 2 trứng. Một lần nữa, ta xem xét vấn đề trong hoàn cảnh tự nhiên: nếu nhả quá nhiều trứng, con đực không thể “gom” hết trứng trong một lần đớp, trứng có thể bị trôi mất trong điều kiện nước chảy!

Quá trình “ép”, thu trứng, trả trứng lặp đi lặp lại cho tới khi con cái ngưng đẻ. Thời gian này có thể rất lâu. Trong loạt hình trên, từ lúc tôi bắt đầu chụp hình là 11 giờ đến tấm cuối cùng tôi còn lưu là 15 giờ. Quá trình kéo dài 4 tiếng, có thể hơn!

Sau khi “gom hàng” xong, cá đực sẽ “trốn” vào một xó để ấp trứng. Bạn có thể giữ nguyên cá mái chung trong hồ và cho nó ăn bình thường. Con đực sẽ nhịn đói trong thời gian ấp. Trứng ở trong mồm cá đực khoảng 8 – 10 ngày. Sau khi nhả cá con ra, bọn cá con có thể ăn ngay bo bo vì chúng có kích thước khá lớn, có thể đến 5 mm, tuỳ lứa (có lứa cá con nhỏ hơn).

Số lượng trứng mỗi lần đẻ tuỳ thuộc vào kích thước cặp cá. Có một lần tôi đếm thử thì với một cặp lớn, số cá con có thể lên đến khoảng 80 hoặc hơn.

Lưu ý : Trong thời gian con đực ấp trứng, cá mái thể tạo trứng lại. Không dưới một lần tôi quan sát thấy con đực vừa nhả đám cá con của lứa ấp đầu tiên ra thì con cái đã xông tới “ép” tiếp. Con đực nào khoẻ vẫn chấp nhận sinh sản tiếp lần 2, và như vậy nó phải nhịn đói tới gần 20 ngày. Do vậy, bạn có thể tách cá mái ra sau lần đẻ thứ nhất để dưỡng sức cho cá đực.

Nhận xét: Bọn cá lóc ( Channa spp.) khi chuyển từ hình thức sinh sản làm tổ sang ấp miệng thì bọn ấp miệng có kích thước nhỏ hơn nhiều so với bọn làm tổ; trong khi ở bọn Betta, khi chuyển từ hình thức sinh sản làm tổ sang ấp miệng thì kích thước bọn ấp miệng lớn hơn nhiều so với bọn làm tổ!

Cá Bình Tích Sống Được Bao Lâu

Kỹ Thuật Nuôi Cá Chọi

Tổng Hợp Toàn Bộ Cách Nuôi Cá Betta Khoẻ Mạnh

Cá Betta (Xiêm, Chọi, Lia Thia, Đá) Ăn Gì? Cách Cho Cá Betta Ăn

Cá Lia Thia Là Cá Gì Cách Nuôi Chơi Cảnh Như Thế Nào

Chơi Cá Lia Thia Đồng

Cách Chọn Cá Lia Thia Đá Tốt

Cách Nuôi Cá Lia Thia Và Kỹ Thuật Nuôi Cá Lia Thia

Cách Nuôi Cá Lia Thia Con

Cá Lia Thia Loài Cá Đẹp Mang Nhiều Màu Sắc

Cụ Ông 70 Năm Đam Mê Cá Lia Thia

Lia thia là loại cá nhỏ có vảy, con trưởng thành dài khoảng 4cm kể từ miệng cho đến chót đuôi, bề ngang 1cm không kể lúc giương hai kỳ lên để dọa đối thủ. Đặc tính của giống cá này là rất hung hăng, không như con mái có màu tai tái không có vẻ gì đặc biệt, con cá trống màu sắc sặc sỡ rất đẹp. Hễ hai con trống gặp nhau là chắc chắn sẽ có một trận thư hùng quyết liệt, phải có một con bỏ chạy mới thôi. Giống như trong trò chơi với loài dế, khi hai con cá lia thia trống thư hùng với nhau người ta không dùng từ đấu mà gọi là “đá”: đá cá.

Những thập niên giữa của thế kỷ trước, trong các trò chơi có con vật tham gia, nhóm trẻ chúng tôi coi trò đá cá lia thia đồng là nhất, trên cả đá dế. Nhất hạng vì bắt chước người lớn chúng tôi cũng tìm nguồn cá tốt, sàng lọc để tìm con đá hay, rồi cũng học kỹ thuật nuôi vỗ cho cá khỏe mạnh, hung hăng…

Chúng tôi thích đá cá lia thia đồng vì nhiều lẽ, trước hết là loại cá này khỏi phải mua- nó có rất nhiều trên các cánh đồng, chịu khó ra đồng tìm bắt là có thể có những con ưng ý. Thứ đến là bọn cá này chỉ cần tranh hùng trong một thời gian ngắn, lâu lắm là hơn chục phút là có thể phân định thắng thua, không như lũ cá lia thia Xiêm của người lớn thích chơi, chúng rất lì lợm nên nhiều trận kéo dài cả buổi…

Ngày ấy, các cánh đồng trồng lúa hai bên con lộ giữa của cù lao Dài quê tôi (cù lao Quới Thiện, Thanh Bình thuộc huyện Vũng Liêm), sau các trận mưa đầu mùa là nước đã xăm xắp mắt cá chân, cá lia thia đồng không biết từ đâu nương theo nước lên đồng nhiều vô kể. Buồi sáng, xách rổ ra đồng, dùng chân giậm vào các đám cỏ lác đã được phát nằm xăm xắp trên nước và lấy rổ chặn thì sẽ có ngay vài “trự” vừa trống vừa mái. Nhưng loại này thường chưa đủ tuổi để đá, chỉ có nước đem đi… khô! Muốn có các con lia thia chiến thì phải mất nhiều công sức hơn: kiên trì lội ruộng tìm các con đóng bọt làm ổ bên các gốc lác, góc bờ. Ở mỗi ổ như vậy, chắc chắn sẽ có một con trống và một con mái trưởng thành. Chúng xây tổ uyên ương để tính chuyện duy trì nòi giống, lúc đó nhiệm vụ con trống rất nặng nề: phải đủ dữ tợn để bảo vệ được giang sơn của mình. Vậy cũng chưa ngon, muốn có con thật chiến thì nhẹ nhàng vớt một con trống ở ổ này để sang ổ gần đó. Tức khắc sẽ có một cuộc huyết chiến xảy ra, con thắng trận là con cá được chọn. Mỗi con như thế được túm trong một chiếc lá môn đem về nhà nuôi. Kỳ công như vậy nhưng một buổi sáng chúng tôi cũng chọn cho mình vài con như thế. Cá đá hay còn tùy giống và cánh đồng nó sống. Thuở ấy, chúng tôi có thông tin là các cánh đồng ở Giồng Keo, gần thị trấn Ba Vát (Mỏ Cày, Bến Tre) luôn có cá hay và rủ nhau đến đó tìm cá, dù phải đi đò qua sông Cổ Chiên rồi lội bộ hàng chục cây số nữa. Mà đúng thật, lũ cá trên các cánh đồng này thường đá ăn đứt các con cá vớt trên cánh đồng quê tôi. Sau đó, qua người lớn, bọn con nít chúng tôi mới vỡ lẽ, sở dĩ nhiều con cá chúng tôi vớt được tại các cánh đồng Giồng Keo đá hay vì chúng là cá lai Xiêm, nên kế thừa đặc tính là dữ dằn và đặc biệt lì đòn của mẹ cha. Theo các cha chú, Giồng Keo thời ấy có nhiều “trường đá cá” ăn thua lớn. Những con cá bị thua được hắt xuống ruộng trước khi về nhà là nguồn cội cho lũ cá lai cho bọn trẻ chúng tôi. Con cá lia thia lai có màu sắc cũng hơi khác con cá lia thia đồng, có chút “nghề chơi” là nhận ra ngay. Từ đó, chúng tôi qui ước với nhau: cá lai thì đá với cá lai, nếu con lai đá với con cá đồng thì phải có thỏa thuận riêng, như là “chấp nước” (con cá đồng được ở trong keo của nó, còn địch thủ phải vớt từ keo khác sang, dĩ nhiên là con bị vớt sẽ mất sức hơn con tại chỗ) hoặc “chấp xác” (con cá đồng lớn hơn con cá lai).

Lia thia là loại cá nhỏ có vảy, con trưởng thành dài khoảng 4cm kể từ miệng cho đến chót đuôi, bề ngang 1cm không kể lúc giương hai kỳ lên để dọa đối thủ. Đặc tính của giống cá này là rất hung hăng, không như con mái có màu tai tái không có vẻ gì đặc biệt, con cá trống màu sắc sặc sỡ rất đẹp. Hễ hai con trống gặp nhau là chắc chắn sẽ có một trận thư hùng quyết liệt, phải có một con bỏ chạy mới thôi. Giống như trong trò chơi với loài dế, khi hai con cá lia thia trống thư hùng với nhau người ta không dùng từ đấu mà gọi là “đá”: đá cá. Con cá lia thia có một điều hết sức đặc biệt là con cá trống nào đá bị thua thì màu của nó cũng thay đổi, không còn “mun” đen như trước mà trở nên tai tái và nổi lờ mờ các sọc hai bên hông như sọc dưa gan, chưa hết hễ gặp lại đối thủ vừa thua là bỏ chạy trối chết. Có lẽ vì đặc tính này, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược vừa qua, cán bộ, chiến sĩ cách mạng nào bị đánh giá là “sọc dưa” là coi như khó được giao nhiệm vụ.

Bọn trẻ chúng tôi xem cá đá nhau rất “máu”, nhất là trong trận đấu có con cá của mình hay “phe mình”. Khi hai con cá địch thủ được thả vào chung một cái keo thì vừa nhận ra nhau chúng lập tức phùng mang, giương kỳ vờn nhau. Đó cũng là lúc các con mắt chúng tôi banh ra hết cỡ. Thông thường có một con sẽ xông lên cắn mạnh vào đối thủ, có khi mạnh đến nỗi làm nước reo lên một tiếng “tỏn”, cùng lúc ông chủ của nó cũng hét lên một tiếng khoái trá khiến ông chủ của con cá bị cắn thiếu điều muốn đứng tim! Con cá kia cũng không vừa, liền cắn một phát trả miếng. Hai con tiếp tục vờn rồi lại xông vào đá (cắn) nhau, các con cá dữ thường nhè đầu đối thủ mà cắn. Thích nhất là khi con cá nhà đớp được một mảng đuôi hay kỳ của đối phương, dĩ nhiên con bị đả thương như thế sẽ mất sức chiến đấu, chưa kể hình dáng te tua trông xấu tệ! Cao trào là khi hai đối thủ đối mặt đấu sức với nhau qua miếng “khấu miệng”: hai con dùng miệng cắn vào miệng nhau, cố sức dìm địch thủ xuống. Con yếu sức sẽ là con mau mắn ngoi lên ngớp không khí trước sau khi chúng nhả miệng nhau ra, cũng là lúc phơi bụng cho đối phương đánh “tỏn” một miếng ra trò nếu con kia còn sức. Miếng độc là miếng cắn đứt một phần vi của đối phương, bởi khi mất một phần vi thì sự di chuyển sẽ không còn linh hoạt, thậm chí nghiêng hẳn một bên nếu vi bị đứt nhiều. Chỉ hơn khoảng 10 phút sau là trận đấu kết thúc, con thua sẽ là con chạy có cờ trước sự truy đuổi của địch thủ, mình mẫy nó lúc này nhợt nhạt với mấy cái “sọc dưa”. Lúc thắt ngặt, lũ trẻ chúng tôi cũng đem con thua về o bế lại để chơi tiếp, nhưng thường là nó bị hất xuống mương cho đã đời một kiếp lang thang bất hạnh của một con cá “rót” (thua).

Thú chơi cá lia thia không chỉ là lúc đem cá đi đá mà còn những lúc nuôi dưỡng cho cá sung độ. Tìm thức ăn gì để cá mạnh khỏe và hung hăng, nhất là dưỡng cho bộ răng phải luôn luôn sắc như dao cạo. Muốn thế phải luôn thay đổi thức ăn cho mấy con cá cưng, từ lăng quăng non đến trùn chỉ, kẹt lắm mới là một con nhện chân dài thường giăng tơ ở các góc nhà… Lại còn phải thay nước một tuần mấy lần. Xem cá lia thia “đá bóng” cũng rất thích: hai con cá lia thia sung mãn trong hai cái keo để khít nhau được ngăn cách bằng một mảnh giấy. Khi kéo mảnh giấy đi, hai con cá vốn rất hung hăng thấy nhau tức thì phùng mang, giương kỳ vờn nhau- mỗi con một cách trông rất đẹp, lắm con hung hăng cắn cả vào thành keo, khiến ông chủ phải dừng cuộc chơi ngay vì sợ cá bị… hư răng!

“chạy Deadline” Hiệu Quả Với 7 Quán Cafe Yên Tĩnh Làm Việc Nhóm Có Wifi Cực Mạnh

Đố Bạn: Sống Ở Dưới Nước Đấy Nhưng Loài Cá Có Bao Giờ Thấy Khát Và Phải Uống Nước Không?

Mẹo Nhận Biết Cá Ướp Urê, Hàn The

Ure Là Chất Gì Và Có Vai Trò Gì Với Cơ Thể?

4 Nguyên Tắc Quan Trọng Nhận Biết Cá Ướp Ure, Hàn The

Cách Nuôi Cá Lia Thia Và Kỹ Thuật Nuôi Cá Lia Thia

Cách Nuôi Cá Lia Thia Con

Cá Lia Thia Loài Cá Đẹp Mang Nhiều Màu Sắc

Cụ Ông 70 Năm Đam Mê Cá Lia Thia

Thức Ăn Cho Cá Lia Thia

Bán Cá Lia Thia Cần Thơ

Cách nuôi cá lia thia và kỹ thuật nuôi cá lia thia, nhiều người luôn đặt ra câu hỏi về cá lia thia, cá xiêm và cá betta…Cá betta là tên gọi chung hai dòng cá cảnh và cá đá, cá xiêm và cá lia thia có họ hàng với nhau nên cách nuôi của chúng giống nhau.

Cách nuôi cá lia thia và kỹ thuật nuôi cá lia thia

Cá lia thia hay còn gọi là cá lia thia Betta thuộc phân họ cá cờ Macropodinae của cá Betta.Cá betta hay Betta splendens là loài cá hoang dã phân bố ở vùng Đông Nam Á bao gồm các nước Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Ngoài môi trường tự nhiên, chúng cư ngụ trong ruộng lúa, ao, đầm… nói chung là ở tất cả những vùng nước nông và tĩnh. Nhiệt độ thích hợp đối với cá betta từ 27 đến 30 độ C, nước mềm, có độ pH trung hoà hay hơi acid.

Cách nuôi cá lia thia và kỹ thuật nuôi cá lia thia, cá lia thia thuộc một chi của cá Betta

Cá đực thường chọn những vị trí được che chắn tốt như trong các bụi lúa, rong hay bên dưới lá rụng… để làm tổ bọt và dẫn dụ cá cái đến đẻ trứng. Mỗi đợt sinh sản, cá cái đẻ hàng trăm trứng, trứng nở sau khoảng 1 ngày. Cá bột mới nở được cá cha chăm sóc trên tổ bọt thêm khoảng 3 ngày nữa cho đến khi chúng bắt đầu bơi tự do và bước vào đời sống tự lập.

1. Bể nuôi cá betta

Trên thị trường, có rất nhiều hồ thiết kế riêng cho betta.

Chọn một bộ thích hợp để cá phát triển và khỏe mạnh,tránh những rủi ro có thể. Không nuôi cá betta chung với một số loài cá khác. Vì cá betta bản chất là một loài cá sinh ra để chiến đấu,chúng sẽ giết những con cá hiền hơn.

Cách nuôi cá lia thia, cá lia thia xanh

Cá betta nhiệt độ thích hợp từ 24-27 độ. Tránh để đá lổm chởm hoặc đồ trang trí vì như vậy có thể làm rách vây,trầy xước cá. Có thể trồng một số cây thủy sinh,một số loại bèo,lục bình.

2. Cho thêm nước vào bể

Nước nên được khử CLo trước khi cho vào bể. Clo và chloramines trong nước máy có thể gây hại cho cá betta, cũng như giết chết tất cả những vi khuẩn có lợi.

Cá betta rất năng động và có thể nhảy qua 3.5 inchs( 7.5 cm)

3. Thả cá betta vào bể

Khi thả betta vào môi trường mới,chúng ta không nên vội vàng cho vào ngay, mà chậm rãi, cẩn thận để bịch cá vào hồ.

Cách nuôi cá lia thia, khi thả cá betta vào bể nên chậm rãi, cẩn thận vào bịch cá vào trước

Để cá thích nghi với môi trường và nhiệt độ xung quanh và tránh shock nước.

4. Thức ăn của cá betta

Trong môi trường tự nhiên betta thường ăn các ấu trùn hay các côn trùng nhỏ. Nhưng khi chúng ta sở hữu 1 con betta thì không cần theo lí thuyết phức tạp chỉ cần cho cá ăn trùn chỉ , cung quăn, bobo,….bay thức theo công thức tổng hợp, chúng ta cũng cần phải chú ý rằng dạ dày betta rất nhỏ chỉ bằng 1 hạt đậu. Nên mỗi lần cho ăn với số lượng rất ít như 10 con cung quăn hay vài cọng trùn chỉ là vừa ta có thể chia ra 3 cử hay tốt nhất là 2 cử cho một ngày.

1. Khi mua cá về

Trước khi bạn cho cá vào một ngôi nhà mới thì cách tốt nhất không riêng gì betta mà cho tất cả các loài cá ta nên cho túi cá nổi trên mặt hồ khảng 10-15 phút để cá thích nghi được sự thay đổi nhiệt độ cũng như ph , dh,…

Kỹ thuật nuôi cá lia thia, dạ dày của cá betta rất nhỏ nên thức ăn của chúng là trùn chỉ, thức ăn tổng hợp…

Một đều mà ta cần nhớ là tuyệt đối không sử dụng nước trong túi cá cho luôn vào bể mà ta nên bỏ đi cho dù nước đó là nơi ta mua cá thân quen.

2. Sinh sản

Cá betta có tuổi thọ khá ngắn 2-3 năm tuổi đôi khi chăm tốt cá có thể đến 4 năm tuổi. Nhưng cá đến tháng thứ 6 trở lên là ta có thể tiến hành sinh sản cho chúng.

Việc chọn lựa một con cá trông và mái tiêu chuẩn để cho ra một bậy con tốt thì còn phụ thuộc vào việc chọn cá cha mẹ có tốt không, vì thế có cách chọn lựa sau:

Cá trống: Càng lớn tướng càng tốt , màu sắc phải thật chuẩn của loại, vây vảy không được rách hay nhợt nhạt màu sắc, vây bụng và vây lưng xòe phải rộn, không dị tật, mang tính hung hăng càng cao càng tốt.

Cách đầu tiên là xem trên nhà của cá trống có bọt nổi không, nếu con nào bọt nổi thì con đó đang ”sung” và ta đã thành công 35% rồi vì tính khí cá trống quyết định rất cao trong việc tạo dựng cá con.

Cá mái: Cũng giống như cá trống , nhưng cá mái cũng cần chú ý đến ”bụng” xem bụng chúng to tròn chứa, tốt nhất là bắt cá lên lồng bàn tay xem hậu môn có ” mụn trắng” chưa,nếu có thì cá mái đã sẵn sàng.

Kỹ thuật nuôi cá lia thia, loài cá betta có nhiều màu sắc đẹp lạ mắt

Chuẩn bị nơi sinh sản:

Chọn nhà cho betta sinh sản khá dễ dàng, chúng ta có thể dùng một chậu hoa kiểng bán kính 40cm hay hồ xi măng dày 50x25x25 là được. Đầu tiên ta nên cho ca 1mái vào trước sau đó cho cá trống vào một keo nhỏ rồi cho cá vào bể ép chung với cá mái sau 1 ngày thì ta thả cá trống và mái chung 1 bể (làm vậy cho cá trống hay cá mái không tấn công nhau quá nhiều). Nhưng trước khi ép ta nên cho cả 2 con ăn thật no là thật đủ chất dinh dưỡng. Đến ngày thứ 2 sau vài pha rượt đuổi cá trống sẽ nhả bọt và hết lòng ve vãn lôi cuốn con mái đến tổ bọt sinh sản. Khi cá mái đã đồng tình thì cả 2 con sẽ đến dưới bọt cuộn tròn nhau và cá mái ”xịt” trứng ra liền đó cá trống thực hiện nhiệm vụ cho trứng. Sau khi cá mái sinh sản xong thì cá trống liền đánh đuổi cá mái đi chổ khác, lúc này ta nên tách cá mái ra nơi khác và tẩm bộ lại sau 10 ngày hay 20 ngày ta có thể cho sinh sản tiếp.

Đặt Betta của bạn trong ca hoặc thau chứa đầy nước cũ trong khi rửa hồ.Thay 1/3 nước,bơm nước đã khử clo vào hồ.

Cách Chọn Cá Lia Thia Đá Tốt

Chơi Cá Lia Thia Đồng

“chạy Deadline” Hiệu Quả Với 7 Quán Cafe Yên Tĩnh Làm Việc Nhóm Có Wifi Cực Mạnh

Đố Bạn: Sống Ở Dưới Nước Đấy Nhưng Loài Cá Có Bao Giờ Thấy Khát Và Phải Uống Nước Không?

Mẹo Nhận Biết Cá Ướp Urê, Hàn The

Đá Dế, Đá Cá Lia Thia.

Kinh Nghiệm Chọn Cá Lia Thia Đẹp

Cá Lia Thia Cũng Làm Ổ Để Đẻ Trứng

Xúc Cá Lia Thia Thu Tiền Triệu

Kĩ Thuật Nuôi Cá Lia Thia

Lia Thia Quen Chỗ (Vũ Đăng Khuê

Cá lia thia màu xanh được gọi là cá Xiêm.

Loại cá lia thia màu hồng đỏ có vây rất đẹp là cá Phướn.

Nhân nói về chuyện con nít học hành bây giờ khổ sở quá, tôi lại muốn bắt qua chuyện cái chơi của con nít thời xưa cách nay nửa thế kỷ, chẳng ở đâu xa mà ngay tại xứ Sè Gòong hoa lệ này, cái thuở tôi còn để chỏm suốt ngày lê la chòm xóm, cùng với một lũ đồng trang lứa chơi đùa đủ mọi thứ trò chơi.

Năm mươi năm về trước tụi nhóc tì như tôi chỉ có những trò chơi dân gian để mà chơi đùa. Tụi con trai chơi với nhau bày ra những trò chơi hoạt động, thường là bắn bi, đánh đáo, đánh cù (trong Nam gọi là chơi bông vụ), chơi u, chơi trốn tìm, đánh khăng… và tùy theo mùa mà chơi đá dế, đá cá lia thia… (thường vào dịp hè). Trong cái vụ chơi đùa trẻ ranh này thì tụi con nít có lẽ thích nhất là đá dế, đá cá lia thia… Thuở tôi là nhóc tì thì mùa hè tha hồ mà chơi đùa. Dế đá thì chẳng phải đi mua, mà là đi bắt. Mà ngày ấy đâu đâu cũng có ao hồ đồng cỏ, đến mùa mưa là buổi tối dế theo ánh đèn bay đầy vào nhà, đủ mọi loại, dế chó (to bằng dế đá, tức là bằng khoảng ngón tay nhưng không đá đuợc, chỉ có nước bắt cho gà ăn), dế trũi (con này nhà văn Tô Hoài có nhắc đến trong Dế mèn phiêu lưu ký, có 2 cái càng to gần đầu, cũng không đá được, bị con nít tóm là chung số phận như dế chó), dế cơm, a con dế cơm này ngày xưa to ác chiến chứ không giống như con dế cơm chiên dòn bây giờ, nó to gấp năm lần những con dế thường, với đôi càng gai nhọn lởm chởm, con nít ít đụng tới loài này vì bắt nắm trong tay mà bị chúng búng càng trúng thì bật máu, loài này to xác nhưng cũng chẳng đá đấm gì, con nít chê. Mới đây tôi đọc trong một tạp chí bài viết của một nhà văn về chú dế cơm này, nhà văn nói con dế cơm có đôi mắt láo liên, chúng không tấn công bằng đôi hàm mà tấn công loài khác bằng đôi càng. Thật là buồn cười, chẳng biết nhà văn có thật biết con dế cơm không mà tả như thế. Thứ nhất vụ mắt láo liên, loài côn trùng như dế mắt chỉ có độc một màu, chẳng có tròng mắt như các loài động vật để mà láo liên. Thứ nhì là vụ tấn công bằng càng, càng của chúng đáng sợ thật, nhưng chỉ khi chúng bị người bắt nắm trong tay càng mới búng lung tung, lỡ trúng mới đau thôi, chứ thực sự chúng không có ý thức tấn công hay tự vệ bằng càng. Loại dế đá là chú dế than đen trùi trũi như cục than, hoặc chú dế lửa có màu vàng đỏ như ánh lửa, cũng có con lai giữa dế than và dế lửa màu ít đỏ hơn, loại này chỉ có con trống mới đá, con trống trên cánh có gân và điểm thêm 2 chấm màu vàng ở đầu cánh, chà, trẻ con mà tóm được chú dế trống ác chiến đá đâu thắng đó là phải biết, phải kiếm cái hộp thiếc lót cỏ non cho chúng ở, thức ăn phải vào bếp lén lấy của mẹ mấy cọng giá sống, lá rau xà lách tươi… Con dế đá cũng hấp dẫn hơn hẳn các loài dế khác ở tiếng gáy, tiếng gáy của chúng nghe vang rền trong đêm khuya… À, một trò chơi khác của con nít thời tôi là đá cá lia thia. Trò này thì có tốn kém, bởi cá lia thia không đi bắt được mà phải mua. Cá lia thia thường có 2 loại, một loại là cá Xiêm, màu xanh tuyền, đuôi, vây ngắn, loại này thường đá rất chiến, chịu đòn lì, có khi 2 con xáp vào nhau phùng mang trợn mỏ, lừa thế đớp nhau túi bụi, đến khi đuôi, vây rách bươm te tua cũng chưa chịu thôi. Loại thứ hai là cá Phướn, có 2 màu là màu xanh biếc và màu đỏ. Cá Phướn có đuôi, vây đúng như tên gọi, dài lướt thướt rất đẹp, nhưng loài này đá không dai bằng cá Xiêm, có lẽ bởi chúng có bộ đuôi và vây dài quá, khó xoay sở khi lâm trận. Cá lia thia không nuôi trong bồn như cá vàng hay những loài cá kiểng khác, mà trong một keo thủy tinh nhỏ, hơi cao, một keo nuôi một con, thức ăn của chúng là lăng quăng, mà nuôi phải đậy khéo không chúng nhảy ra hoặc bị thằn lằn (thạch sùng) câu mất. Dế và cá chỉ có con trống mới đá, con mái trẻ con chê. Tuổi nhỏ ngày xưa kể cũng sướng thật…

Bán Cá Lia Thia Cần Thơ

Thức Ăn Cho Cá Lia Thia

Cụ Ông 70 Năm Đam Mê Cá Lia Thia

Cá Lia Thia Loài Cá Đẹp Mang Nhiều Màu Sắc

Cách Nuôi Cá Lia Thia Con

Lia Thia Quen… Nồi Đất

Top 10 Loại Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Đẹp Và Hiếm Trên Thế Giới

Hướng Dẫn Cài Đặt Hình Nền Khoá Photos Live Cá Lia Thia Cho Các Thiết Bị Đời Thấp Hơn 6S

Hinh Nen Ca Dep Cho Iphone

Dặm Cù Bắt Cá Lia Thia

Cá Lia Thia Là Cá Gì Cách Nuôi Chơi Cảnh Như Thế Nào

Chuyện vợ chồng quen hơi thì nhiều người biết, còn đám cá lia thia hạp nồi đất chắc ít người phố thị được nếm!

Thật ra, nồi đất có thể giúp chế biến nhiều món ngon, nếu bạn khéo nấu. Đến nay, nhiều chuyên gia ẩm thực danh tiếng vẫn không thể giải thích “tận ngọn” do đâu nồi đất khiến món ăn hấp dẫn hơn. Có thể lắm, sản vật của tự nhiên thì nên dùng những dụng cụ cũng trong tự nhiên để chế biến thì ngon hơn, thắm hơn bởi chúng đồng điệu… từ bùn đất.

Những chân ruộng miệt Tiền Giang phơi gốc rạ, khiến lũ cá tép phải rút nhanh xuống kênh, vũng, ao để sinh tồn. Chớp cơ hội này, nhiều người vội đặt thời – một dụng cụ bắt các loại cá nhỏ, tép, hoặc kéo lưới mắt nhỏ bắt bầy lia thia lượn lờ kia.

Cá tươi rói, đầu bếp chỉ cần lựa bỏ rong rêu, chà nhẹ tay với ít muối cho sạch nhớt, rồi “gửi” cho nồi đất. Người thích kho quéo, kẻ muốn kho lạt với nhiều sả, ớt bằm… nồi đất cũng đảm đương tốt. Chờ khoảng 15 phút, đã có món ngon.

Ấn tượng nhất là cuốn bánh tráng dẻo, gói căng muỗng lia thia kho lạt thắm màu hổ phách với ít dưa leo, tía tô, giấp cá… Tinh dầu sả ngát hương, rau mùi, dưa nghe giòn, vị cá thơm ngọt mà hết cuốn này sang cuốn khác… chưa mỏi tay. Có người thích ướp gia vị lên lia thia rồi đem tẩm bột năng ép thành miếng chiên giòn, ăn với rau sống, rau mùi cũng ngon.

Nhàn du, bạn có thể ghé lại quán Tạ Hiền, gần chùa Vĩnh Tràng ở thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang thưởng thức những món vừa kể. Giá khoảng 50.000 – 60.000 đồng một phần. Bằng không, ở các chợ vùng ven Sài Gòn cũng thường xuyên có cá lia thia, lòng tong hay thài bai… Bạn chớ xem thường các loài cá bé tăm này, có thể chế biến những món quen mà lạ và ngon ngoài sức tưởng tượng từ con cá quê nghèo này.

1 Vỉ Vitamin E Giá Bao Nhiêu

Cách Nuôi Cá Lia Thia Đá Chuẩn Nhất

Ngẫu Hứng Về Cá Lia Thia Phướng Tự Nhiên Của Ngày Xưa

10 Quán Cafe Làm Việc Tuyệt Vời Tại Sài Gòn

Gợi Ý 10 Quán Cafe Đẹp, Wifi Mạnh Cực Thích Hợp Để Bạn Làm Việc

Thức Ăn Ương Cá Lia Thia

Bà Bầu Ăn Hải Sản Như Thế Nào Để Tốt Nhất Cho Thai Nhi?

Bà Đẻ, Mẹ Sau Sinh Cho Con Bú Ăn Cá Ngừ, Cá Nục, Cá Biển Được Không?

Ăn Cá Biển Nhiều Có Tốt Không? Những Món Ăn Ngon Từ Cá Biển

Cá Cờ Biển 01/2021

Mua Sụn Cá Cờ Kiếm

– Ấu trùng artemia có kích thước thước khá nhỏ, khoảng 0,5 mm, nhưng chúng chỉ sống được khoảng vài giờ trong môi trường nước ngọt.

– Vì vậy trên thực tế, hai loại thức ăn nêu trên không thích hợp để nuôi cá lia thia bột. Bài viết này nhằm giới thiệu hai loại thức ăn đặc biệt nhỏ và thường được sử dụng để nuôi cá con mới nở rất hiệu quả: đó là trùng cỏ (infusoria) và trùn giấm (vinegar eel).

1. Trùng cỏ

– Trùng cỏ ( infusoria) là những sinh vật nguyên sinh hiện diện ở hầu hết các vực nước như ao, hồ, sông và biển. Chúng có kích thước rất nhỏ và là thức ăn vô cùng quan trọng cho cá bột mới nở. Trong ngành chăn nuôi thủy hải sản ở các nước công nghiệp phát triển, người ta thường phân lập và nhân giống đại trà một số loại trùng cỏ như luấn trùng ( rotifer) và trùng đế giày ( paramecium). Những sinh vật này thuộc về một nhóm trùng cỏ quan trọng gọi là mao trùng ( ciliates).

– Trùng cỏ có kích thước nhỏ nhất (khoảng dưới 200 micro mét) so với các nguồn thức ăn khác như bo bo, artemia và trùn giấm. Thực ra, bo bo và artemia mới nở cũng rất nhỏ nhưng chúng tăng trưởng rất nhanh và trở nên quá to để cá bột có thể ăn được. Như vậy, trùng cỏ là thức ăn thích hợp nhất đối với những loại cá bột có kích thước nhỏ chẳng hạn như cá lia thia, betta.

– Ngoài tự nhiên, trùng cỏ hiện diện và tập trung nhiều ở ven bờ ao hồ, kênh rạch, cống rãnh và ruộng lúa; chúng thâm nhập vào cả các hòn non bộ và chậu cảnh qua nguồn thực vật thủy sinh hay thức ăn mà chúng ta mang vào đó. Thức ăn của chúng là vi khuẩn, vi tảo và các loại mùn bã hữu cơ lơ lửng trong nước. Đấy là những nguồn “con giống” mà chúng ta có thể tận dụng để “ươm nuôi trùng cỏ tại gia”.

– Có nhiều phương pháp ươm nuôi trùng cỏ, trong loạt bài viết về nguồn gốc của Plakat Thái tác giả Precha đã khuyên nên bỏ một ít rau muống ao vào chậu ép cá và để ở chỗ tối một thời gian, khi cá con ra đời thì nguồn thức ăn trùng cỏ đã sẵn sàng. Bạn sẽ tự hỏi là con giống trùng cỏ ở đâu mà có? Trùng cỏ luôn hiện diện trên bề mặt thực vật thủy sinh (ở đây là rau muống), khi thực vật bị phân hủy bởi vi khuẩn (hiện tượng thối rữa), lượng vi khuẩn sẽ bùng phát và là nguồn thức ăn dồi dào cho trùng cỏ. Trùng cỏ sinh sôi thật nhiều và đến lượt chúng trở thành nguồn thức ăn cho cá bột mới nở.

2. Trùn giấm

Trùn giấm là loại giun tròn cực nhỏ ( nematode) sống trong môi trường giấm ăn. Đây là thức ăn tuyệt vời cho cá bột bởi vì chúng có xu hướng bơi tung tăng khắp hồ nên kích thích cá bột đuổi theo để ăn và nhờ vậy mà vây của cá mau phát triển. Mặt khác loại thức ăn này hầu như không cần phải tốn công sức để chuẩn bị như với artemia hay bo bo. Điểm khó khăn duy nhất là làm sao thu hoạch được chúng. Có hai cách mà người ta thường sử dụng để thu trùn giấm:

a) Cách thứ 1

– Khi phát triển quá nhiều, trùn giấm có xu hướng tụ lại ở mép bình giấm. Chúng ngoe nguẩy liên tục và quấn với nhau thành mảng tạm gọi là bọt giấm. Chúng ta có thể sử dụng ống hút (loại có bán ở các tiệm thiết bị y tế) để hút một mảng bọt giấm và nhỏ vào bồn nuôi cá. Để tránh hút theo quá nhiều giấm, hãy điều chỉnh để đầu hút đụng vào mảng bọt giấm và nhả nhẹ núm cao su cho đến khi mảng bọt đi vào ống hút thì nhấc lên. Một mảng nhỏ sẽ không làm ảnh hưởng nhiều đến độ pH của bồn và cung cấp hàng ngàn con trùn giấm làm thức ăn cho cá con. Mảng giấm có khả năng bị chìm xuống đáy bồn vì vậy chúng ta nhỏ giọt giấm vào ống nghiệm chứa sẵn một ít nước hồ, lắc nhẹ vài phút để bọt giấm tan ra và nhỏ vào nhiều vị trí khác nhau trong hồ để dàn đều thức ăn cho bầy cá con.

– Người ta nhận thấy bình càng nhám thì bọt giấm càng nhiều nên trước khi nuôi giấm người ta dùng giấy nhám chà mặt trong của bình! Vật liệu dùng để nuôi giấm là táo tây xay vụn, bọt giấm thường xuất hiện sau khi bắt đầu nuôi một tuần. Nếu bạn cho đẻ nhiều lứa cá thì số lượng bình nuôi dấm cũng phải nhiều tương ứng.

– Sử dụng một cái bình có cổ (bên trái là chai giấm ăn).

– Đổ dấm đầy gần đến cổ bình.

– Cho vào một miếng bông lọc (loại sử dụng để lọc cho hồ cá) nhưng đưòng đẩy bông quá sâu để nó khỏi lọt luôn xuống bình dấm. Đổ thêm một ít nước vào bình và để qua đêm (nên sử dụng nước cũ như nước hồ cá).

– Trùn giấm sẽ chui lên lớp nước phía bên trên để thở. Dùng ống hút lớp nước phía trên mặt bông đem đi nuôi cá bột.

– Lưu ý: Cách này thu hoạch hầu hết trùn giấm trong dung dịch vì vậy sau khi thu hoạch cần đổ giấm trở lại bồn cũ và nuôi tiếp trong vài tuần cho đến khi trùn sinh sôi trở lại.

Thức ăn ương cá lia thia, Nguồn: Diendancacanh.com.

Cá Thiên Đường, Lia Thia Đồng Nuôi Trong Hồ Thủy Sinh

Những Điều Quan Trọng Trong Cách Chọn Cá Lia Thia Đá Tốt

Cá Lia Thia Ấp Miệng

Cá Bình Tích Sống Được Bao Lâu

Kỹ Thuật Nuôi Cá Chọi