Đá Dế, Đá Cá Lia Thia.

--- Bài mới hơn ---

  • Kinh Nghiệm Chọn Cá Lia Thia Đẹp
  • Cá Lia Thia Cũng Làm Ổ Để Đẻ Trứng
  • Xúc Cá Lia Thia Thu Tiền Triệu
  • Kĩ Thuật Nuôi Cá Lia Thia
  • Lia Thia Quen Chỗ (Vũ Đăng Khuê
  • Cá lia thia màu xanh được gọi là cá Xiêm.

    Loại cá lia thia màu hồng đỏ có vây rất đẹp là cá Phướn.

    Nhân nói về chuyện con nít học hành bây giờ khổ sở quá, tôi lại muốn bắt qua chuyện cái chơi của con nít thời xưa cách nay nửa thế kỷ, chẳng ở đâu xa mà ngay tại xứ Sè Gòong hoa lệ này, cái thuở tôi còn để chỏm suốt ngày lê la chòm xóm, cùng với một lũ đồng trang lứa chơi đùa đủ mọi thứ trò chơi.

    Năm mươi năm về trước tụi nhóc tì như tôi chỉ có những trò chơi dân gian để mà chơi đùa. Tụi con trai chơi với nhau bày ra những trò chơi hoạt động, thường là bắn bi, đánh đáo, đánh cù (trong Nam gọi là chơi bông vụ), chơi u, chơi trốn tìm, đánh khăng… và tùy theo mùa mà chơi đá dế, đá cá lia thia… (thường vào dịp hè). Trong cái vụ chơi đùa trẻ ranh này thì tụi con nít có lẽ thích nhất là đá dế, đá cá lia thia… Thuở tôi là nhóc tì thì mùa hè tha hồ mà chơi đùa. Dế đá thì chẳng phải đi mua, mà là đi bắt. Mà ngày ấy đâu đâu cũng có ao hồ đồng cỏ, đến mùa mưa là buổi tối dế theo ánh đèn bay đầy vào nhà, đủ mọi loại, dế chó (to bằng dế đá, tức là bằng khoảng ngón tay nhưng không đá đuợc, chỉ có nước bắt cho gà ăn), dế trũi (con này nhà văn Tô Hoài có nhắc đến trong Dế mèn phiêu lưu ký, có 2 cái càng to gần đầu, cũng không đá được, bị con nít tóm là chung số phận như dế chó), dế cơm, a con dế cơm này ngày xưa to ác chiến chứ không giống như con dế cơm chiên dòn bây giờ, nó to gấp năm lần những con dế thường, với đôi càng gai nhọn lởm chởm, con nít ít đụng tới loài này vì bắt nắm trong tay mà bị chúng búng càng trúng thì bật máu, loài này to xác nhưng cũng chẳng đá đấm gì, con nít chê. Mới đây tôi đọc trong một tạp chí bài viết của một nhà văn về chú dế cơm này, nhà văn nói con dế cơm có đôi mắt láo liên, chúng không tấn công bằng đôi hàm mà tấn công loài khác bằng đôi càng. Thật là buồn cười, chẳng biết nhà văn có thật biết con dế cơm không mà tả như thế. Thứ nhất vụ mắt láo liên, loài côn trùng như dế mắt chỉ có độc một màu, chẳng có tròng mắt như các loài động vật để mà láo liên. Thứ nhì là vụ tấn công bằng càng, càng của chúng đáng sợ thật, nhưng chỉ khi chúng bị người bắt nắm trong tay càng mới búng lung tung, lỡ trúng mới đau thôi, chứ thực sự chúng không có ý thức tấn công hay tự vệ bằng càng. Loại dế đá là chú dế than đen trùi trũi như cục than, hoặc chú dế lửa có màu vàng đỏ như ánh lửa, cũng có con lai giữa dế than và dế lửa màu ít đỏ hơn, loại này chỉ có con trống mới đá, con trống trên cánh có gân và điểm thêm 2 chấm màu vàng ở đầu cánh, chà, trẻ con mà tóm được chú dế trống ác chiến đá đâu thắng đó là phải biết, phải kiếm cái hộp thiếc lót cỏ non cho chúng ở, thức ăn phải vào bếp lén lấy của mẹ mấy cọng giá sống, lá rau xà lách tươi… Con dế đá cũng hấp dẫn hơn hẳn các loài dế khác ở tiếng gáy, tiếng gáy của chúng nghe vang rền trong đêm khuya… À, một trò chơi khác của con nít thời tôi là đá cá lia thia. Trò này thì có tốn kém, bởi cá lia thia không đi bắt được mà phải mua. Cá lia thia thường có 2 loại, một loại là cá Xiêm, màu xanh tuyền, đuôi, vây ngắn, loại này thường đá rất chiến, chịu đòn lì, có khi 2 con xáp vào nhau phùng mang trợn mỏ, lừa thế đớp nhau túi bụi, đến khi đuôi, vây rách bươm te tua cũng chưa chịu thôi. Loại thứ hai là cá Phướn, có 2 màu là màu xanh biếc và màu đỏ. Cá Phướn có đuôi, vây đúng như tên gọi, dài lướt thướt rất đẹp, nhưng loài này đá không dai bằng cá Xiêm, có lẽ bởi chúng có bộ đuôi và vây dài quá, khó xoay sở khi lâm trận. Cá lia thia không nuôi trong bồn như cá vàng hay những loài cá kiểng khác, mà trong một keo thủy tinh nhỏ, hơi cao, một keo nuôi một con, thức ăn của chúng là lăng quăng, mà nuôi phải đậy khéo không chúng nhảy ra hoặc bị thằn lằn (thạch sùng) câu mất. Dế và cá chỉ có con trống mới đá, con mái trẻ con chê. Tuổi nhỏ ngày xưa kể cũng sướng thật…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bán Cá Lia Thia Cần Thơ
  • Thức Ăn Cho Cá Lia Thia
  • Cụ Ông 70 Năm Đam Mê Cá Lia Thia
  • Cá Lia Thia Loài Cá Đẹp Mang Nhiều Màu Sắc
  • Cách Nuôi Cá Lia Thia Con
  • Cách Chọn Cá Lia Thia Đá Tốt

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nuôi Cá Lia Thia Và Kỹ Thuật Nuôi Cá Lia Thia
  • Cách Nuôi Cá Lia Thia Con
  • Cá Lia Thia Loài Cá Đẹp Mang Nhiều Màu Sắc
  • Cụ Ông 70 Năm Đam Mê Cá Lia Thia
  • Thức Ăn Cho Cá Lia Thia
  • Như thế nào là dạng cá đá tốt nhất? Dạng cá đá tốt nhất là dạng tổng hợp của cả ba dạng kể trên. Điều đó có nghĩa con cá tốt nhất phải có thân tròn như bản lóc. Nó cũng phải có cái cổ và thân dày như bản rô và bơi nhanh như bản thát lát. Nhìn chung, cấu trúc cơ thể phải cân đối. Kích thước của đầu và gốc đuôi phải có tỷ lệ thích hợp. Mỗi bộ phận cơ thể không được quá to hay quá nhỏ. Chiều dài phần đầu bằng khoảng 1/3 chiều dài thân vì vậy con cá trông không quá dài hay quá ngắn. Cá quá dài hay quá ngắn làm cho chuyển động của nó mất cân bằng.

    ĐÁNH GIÁ CÁ

    Mục đích của việc đánh giá cá là kiểm tra về mức độ phù hợp của con cá trước khi đem huấn luyện rồi sau đó là đi thi đấu. Có hai bước đánh giá cần được thực hiện: 1-đánh giá về sinh lý để biết được mức độ trưởng thành của con cá và đảm bảo cá không bị khuyết tật. 2-đánh giá về tâm lý để biết được mức độ bạo dạn của con cá.

    Đánh giá sinh lý: độ trưởng thành của con cá là điều đầu tiên cần phải cân nhắc đến trước khi đem cá đi huấn luyện. Những bộ phận sau đây của cá cần được lần lượt kiểm tra gồm: Miệng-Nắp mang-Mắt-Kỳ-Vảy-Thịt và Cấu trúc tổng quát toàn thân.

    – Miệng bị biến dạng

    – Miệng không khép kín

    – Môi sứt

    – Miệng khoằm hay vểnh

    – Miệng phù

    – Miệng sần sùi

    Con cá này có miệng không khép kín, môi trên cũng trề ra và méo mó. Cá có miệng tốt phải khép kín và hơi gồ lên một chút.

    – Mang bị biến dạng

    – Mang không khép kín

    – Mang không thể phùng ra hết cỡ

    – Nếp mang lòi ra.

    Con cá này có nắp mang hở. Điều này đồng nghĩa với việc cho phép đối thủ tấn công vào các nếp mang, phần nhạy cảm nhất của con cá.

    Mắt: là bộ phận dẫn đường. Nếu mắt có vấn đề thì cá không thể trông thấy địch thủ một cách rõ ràng. Cá sẽ đá chậm lại ngay lập tức nếu mắt bị thương. Một vài con thậm chí còn bỏ chạy khi mắt bị thương. Mắt cá không được mờ và phải nằm ở vị trí thích hợp. Chúng ta có thể kiểm tra độ nhạy của mắt cá bằng cách di chuyển vật sậm màu như đầu bút chì gần lọ cá. Hầu hết những con cá mạnh khỏe đều trở nên linh động, tiến lại gần đầu bút chì và bắt đầu phùng mang giương vây.

    Kỳ: được xem như là chân của con cá. Nó được sử dụng để điều khiển và hỗ trợ cho chuyển động của cá. Vì vậy, nếu con cá có kỳ quá ngắn thì sẽ di chuyển không mau lẹ bằng đối thủ. Kỳ cũng phải nằm đúng vị trí thích hợp. Nó phải chuyển động chắc chắn và mạnh mẽ. Kỳ không được cũn cỡn và phải khép sát vào thân.

    Vảy: là áo giáp của cá và được bao phủ bởi lớp nhớt. Có hai loại vảy, loại lớn và loại nhỏ. Cả hai đều có đặc điểm riêng. Loại vảy lớn rất khó tróc nhưng một khi bị tróc rồi thì những vảy bên cạnh cũng dễ bị tróc theo. Loại vảy nhỏ dễ bị tróc hơn nhưng các vảy bên cạnh lại không bị ảnh hưởng nhiều. Dù cho là loại vảy gì thì nó cũng phải được sắp xếp một cách đều đặn. Các vảy phải xếp sát vào nhau và trông gọn gàng. Màu vảy phải càng đậm càng tốt vì điều này cho thấy nhớt cá ở tình trạng tốt.

    Thịt: là gốc của vảy và giúp vảy được rắn chắc. Vì vậy, nếu cá có thịt chắc và nhiều cơ bắp thì vảy cũng rất chắc. Cá có thịt chắc sẽ rất khó bị thương hoặc vết thương không lan quá rộng và nhờ đó cá không mất quá nhiều máu. Cơ bắp rắn chắc được kết hợp bởi nhiều yếu tố như di truyền, môi trường nuôi dưỡng, thức ăn, dạng cá, độ tuổi và sự huấn luyện. Cá cùng bầy nhưng được huấn luyện bởi những người chủ khác nhau có thể có chất lượng khác nhau, kể cả về dạng cấu trúc cơ thể. Điều này lý giải tại sao hầu hết những con cá đá bậc nhất đều xuất phát từ các cao thủ huấn luyện cá. Chúng ta không thể thấy một con cá có thịt tốt thế nào nếu như chúng ta không đem chúng đi đá với con khác có cùng đẳng cấp. Thịt tốt có nghĩa vết thương mà nó nhận phải không lan rộng và trở nên trầm trọng hơn khi bị đối thủ cắn lủng lớp vảy. Hơn nữa, nó phải có khả năng phục hồi thật nhanh sau trận đấu.

    Cấu trúc tổng quát toàn thân: phải được cân đối. Tất cả các bộ phận bên ngoài phải mạnh mẽ và cân xứng. Thân không được quá dài hay quá ngắn vì có thể làm cho cá bơi chậm và khó xoay trở khi bị đối thủ áp sát.

    Đây là một ví dụ về cá có cấu trúc cơ thể không tốt, được biết như là dạng thân cá mè. Cá trông rất lớn bởi vì thân dẹp và nhiều thịt nhưng lại rất yếu ớt. Nó là mục tiêu to lớn dễ bị tấn công. Dạng mặt nhỏ và cong cũng như mõm nhọn là nhược điểm và dễ dàng bị rách chỉ sau một vài cú câu mõm. Cũng dễ nhận thấy dạng đầu này rất dễ bị sặc nước bởi vì xương mặt không được hỗ trợ bởi những xương hàm lớn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chơi Cá Lia Thia Đồng
  • “chạy Deadline” Hiệu Quả Với 7 Quán Cafe Yên Tĩnh Làm Việc Nhóm Có Wifi Cực Mạnh
  • Đố Bạn: Sống Ở Dưới Nước Đấy Nhưng Loài Cá Có Bao Giờ Thấy Khát Và Phải Uống Nước Không?
  • Mẹo Nhận Biết Cá Ướp Urê, Hàn The
  • Ure Là Chất Gì Và Có Vai Trò Gì Với Cơ Thể?
  • Cá Lia Thia , Cá Lia Thia Đồng

    --- Bài mới hơn ---

  • 【4/2021】Giá Bán Cá Lăng Đuôi Đỏ Bao Nhiêu Tiền 1Kg Mua Ở Đâu Tại Tphcm【Xem 739,827】
  • Cá Lăng Sông Đà Tươi Sống Bán Tại Hà Nội Size 3
  • Cá Lăng Đen, Giá Cá Lăng Đen Sạch Sông Đà Tiêu Chuẩn Vietgap
  • Giá Cá Lăng Đỏ, Đen, Đuôi Vàng, Sông Bao Nhiêu 1Kg 2022? Mua Bán Ở Đâu Rẻ?
  • Cung Cấp Cá Mè Hoa Tươi Sống, Cá Mè Tàu Tươi Sống, Cá Mè Ngất, Cá Mè Đông Lạnh Trên Toàn Quốc
  • Cá lia thia, loài cá có kích thước nhỏ ,nhưng màu sắc đẹp, hiếu chiến, vừa là sinh vật nuôi làm cành vừa làm thú vui tiêu khiển .

    1.Cá lia thia đồng đặc tính sinh học

    -Cá lia thia có nhiểu chủng loại như: cá lia thia xiêm, cá lia thia phướng, cá lia thia đồng. Các loại cá lai : xiêm lai phướng ,xiêm lai đồng.Các loại giống mới Beta, Hamoon….Nhưng nhìn chung cá lia thia là loài cá cảnh, cá chọi có kích thước cơ thể nhỏ, trung bình chiều dài thân khoản 6cm-8cm.Có một số loài cái lia thia kích thước lớn trên 8cm.

    -Thức ăn tự nhiên cho cá lia thia cũng khá đa dạng, từ rong rêu, các động vật nhiệm thể, đến các loài cá nhỏ hơn, lăng quăng , trùng trĩ…

    – Cá lia thia có nguồn gốc từ các nước Đông Nam Á như : Việt Nam, Thái Lan, Campuchia. Riêng chỉ Thái Lan là có đầu tư sâu và chuyên sâu nuôi dưỡng và lai tạo loại cá này. Nên thường cá lia thia cũng thường hay gọi là cá Xiêm.

    – Cá lia thia thường sống trong các ao nước nhỏ và thường đẻ trứng vào mùa mưa. Loài cá này rất hiếu chiến khi gặp các con đực cùng loài . Khi chiến đấu cá sẽ phùn mang, thay đổi màu sắc và tấn công đối thủ bằng hàng răng sắc nhọn

    Ảnh cá lia thia đồng

    Cá lia thia cơ bản gồm 3-4 loại gồm :

    • Cá lia thia đồng : loài cá này có nguồn gốc bảng địa ở Việt Nam, sống trong các khu đồng ruộng, các ao nước nhỏ ven các kênh rạch. Trước kia sống nhiều khắp miền Tây, nay chỉ tìm thấy cá lia thia đồng tại các tỉnh Kiên Giang, An Giang và Đồng Tháp Mười. Loài cá này có thân nhỏ so với các giống khác, màu sắc thông thường màu nhạt đến khi chọi nhau thì lên màu rất đẹp. Nhưng sức chiến đấu kém, chỉ chọi nhau được 5-10 phút. Nhưng đặc điểm nổi bật loài cá này là dễ nuôi và sẽ chăm sóc.
    • Cá lia thia xiêm : loài cá có nguồn gốc từ Thái Lan, được lại tạo từ nhiều loài giống cá lia thia, nên loài này có ưu điểm nổi trội như : kích thước to, vảy dày, mỏ dày và răng sắc nhọn. Đặc biệt loài cá này chọi rất lâu có khi lên đến 3-4h mà vẫn chưa có kết quả thắng thua. Loại này có nhược điểm là sống ngoài tự nhiên kém và kém thức ăn.
    • Cá lia thia phướng : loài cá này chủ yếu nuôi làm cảnh, vì có màu sắc đa dạng, sặc sỡ, màu sắc đẹp, có tay bơi dày, vay cá dài to và đẹp cá cũng sống khá lâu từ 2-4 năm. Vì thân hình to và đồ sộ nên chậm chạp trong chiến đấu. Loại cá này cũng có các dòng như beta, fancy, dumboo.
    • Cá lia thia tàu : loại này có nguồn gốc từ Trung Quốc cũng giống cá xiêm, nhưng có vảy cứng, sặc sở . Nhưng giá thành loại cá này cao .

    6.Cách ép cá lia thia đồng

    1. Chọn giống bố mẹ
    2. Chọn môi trường ép cá
    3. Cho tiến hành giao phối
    4. Nuôi cá sao khi nở
    5. Nuôi cá đến khi trưởng thành và tách bầy

    7.Cách nuôi và chăm sóc cá lia thia đồng

    Khi cá từ 1-2 tháng tuổi, nên cho cá ăn các loại thức ăn bột và tự nhiên như: trứng nước, lòng đỏ trứng luột chín. Nuôi cá trong các chậu sành có kích thước nhỏ, để nơi có ánh sáng trung bình . Trong chậu bỏ thêm rong và bèo cho cá con có nơi bám và chổ che chắn.

    Sau khi cá được hơn 2 tháng tuổi có thể cho ăn các loại thức ăn có kích thước to hơn như : lăng quăng, trùng trĩ, thịt các loại thủy sản sống như tôm và tép. Lúc cá 3-5 tháng tuổi các đã to bằng ngón tay. Lúc này có thể tách bầy để tránh cho các con cá chọi nhau gây tổn thương cho cơ thể.

    Sau 5-6 tháng có thể nuôi riêng cá theo từ chậu . Kích thước chậu cao tầm 15-20cm và đường kín từ 10-15cm. Cá có thể ăn được các loại thức ăn tổng hợp và kích thước khoản 1mm. Thường xuyên luyện tập cho ca kình bóng trước gương và kình với các con cá khác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bán Cá Lóc Giống( Cá Lóc Đầu Nhím, Đầu Vuông, Chuối Hoa Giống), Báo Giá Cá 2022
  • Giá Cá Lóc Giống. Giá Cá Lóc Thịt. Trang Trại Bán Cá Lóc Giống Uy Tín
  • Cập Nhật Giá Cá Lóc Giống Đầu Năm 2022
  • Khô Cá Lóc Đồng Bạc Liêu Giá Sỉ
  • Giá Khô Lóc Bao Nhiêu 1Kg, Nơi Bán Nào Uy Tính Và Bảo Quản Ra Sao?
  • Cách Nuôi Cá Lia Thia Đá Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • 1 Vỉ Vitamin E Giá Bao Nhiêu
  • Lia Thia Quen… Nồi Đất
  • Top 10 Loại Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Đẹp Và Hiếm Trên Thế Giới
  • Hướng Dẫn Cài Đặt Hình Nền Khoá Photos Live Cá Lia Thia Cho Các Thiết Bị Đời Thấp Hơn 6S
  • Hinh Nen Ca Dep Cho Iphone
  • Nếu như bạn đang nuôi những chú cá của mình và muốn cho chúng vào một ngôi nhà mới thì đừng cho vội vàng bạn nên cho chúng vào 1 túy cả để nổi khoảng 15 phút như vậy sẽ giúp chúng có thể thích nghi được với độ PH mà không bị sock nước tránh chúng sẽ gặp phải các vấn đề không hay.

    2. Chế độ thức ăn trong cách nuôi cá lia thia đá.

    Khi nuôi những chú cá lia thia đá thì chế độ ăn của chúng rất quan trọng, bạn có thể tưởng tượng rằng những chú cá lia thia của bạn có dạ dày rất nhỏ cho nên chúng chỉ cần được cho ăn một lượng thức ăn vừa phải hàng ngày là đủ. Thức ăn tốt nhất cho cá lia thia ở giai đoạn này là trùng chỉ các loại bo bo một ngày bạn nên cho chúng ăn 1 lượng vừa phải là đã đảm bảo được độ dinh dưỡng Thức ăn cho chúng không nên cho quá nhiều nếu không sẽ khiến cho môi trường sống của chúng bị bẩn và bạn sẽ phải tốn một khoảng thời gian không nhỏ để thay nước

    3. Chế độ sinh sản

    Trong cách nuôi cá lia thia đá thi có một vấn đề quan trọng không kém đó chính là việc bạn cần phải biết cách chăm sóc nuôi dưỡng sinh sản để tạo ra được những thế hệ sau với chất lượng tốt hơn. Thông thường khi bạn nuôi một chú cá betta giai đoạn chúng bắt đầu cặp kè và sinh sản ở khoảng 6 tháng tuổi.

    4. Nuôi cá

    Kỹ thuật nuôi là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong cách nuôi cá lia thia đá. Để chúng có thể đá tốt nhất thì bạn nên nuôi mỗi một con một nơi ở riêng không được cho những chú cá chiến được đói vì sẽ rất ảnh hưởng đến tình hình sức khỏe của chúng. Khi bạn nuôi những chú cá choi thì nên tập luyện cho chúng hàng ngày bạn cứ cho chúng gằm ghè với đối thủ khác thì những chú cá của bạn sẽ thiện chiến và máu đánh nhau hơn. Bạn chỉ nên cho những chú cá cảnh của mình chiến đấu thật sự trong 1 lần còn lần thứ 2 sẽ là các cuộc chiến thật sự. Nếu trong quá trình thử thách những chú có dấu hiệu chạy ngay thì nuôi tiếp rồi thử lại, nếu trong quá trình đánh nhau chúng trụ được khoang 15 thì thôi không có chiến nữa. Còn nếu đánh được 1 khoảng rồi gian ngắn mà bỏ chạy thì bạn có thể nuôi làm cảnh chứ không chiến đấu được. Khi chúng sắp sửa đánh nhau thì bạn nên xùy mái để cho chúng căng hơn khi chiến đấu thì sẽ tốt hơn.

    Trang được tổng hợp bởi: Chăm Sóc Thú Cưng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngẫu Hứng Về Cá Lia Thia Phướng Tự Nhiên Của Ngày Xưa
  • 10 Quán Cafe Làm Việc Tuyệt Vời Tại Sài Gòn
  • Gợi Ý 10 Quán Cafe Đẹp, Wifi Mạnh Cực Thích Hợp Để Bạn Làm Việc
  • Hải Sản Tẩm Urê Gây Hại Cho Sức Khỏe
  • Những Tác Dụng Bất Ngờ Của Nước Ngọt Coca Cola
  • Thú Chơi Cá Lia Thia – Cách Lựa Cá Lia Thia

    --- Bài mới hơn ---

  • Nuôi Cá Cảnh Thuận Phong Thuỷ Ắt Thành Công
  • Bí Kíp Giúp Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Sống Lâu Hơn
  • Trại Cá Betta Nghĩa Hiền: Bán Cá Xiêm Betta Thái Cao Cấp Sỉ / Lẽ 302267
  • 5 Bệnh Phổ Biến Ở Cá Betta Và Cách Chữa
  • Cây Hồng Xiêm – Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Hồng Xiêm
  • Thú chơi cá “thia-thia”

    Thia-thia đá bóng trong keo,

    Ham vui trước mặt, quên nghèo sau lưng.

    Ao sâu cá lội khoe màu,

    Đố ai biết mỗ: bã trầu, thia-thia?

    V.H.S

    Thua thì thua mẹ thua cha,

    Cá sinh một lứa, ai mà thua ai!

    (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Huỳnh Tịnh Của)

    CÁ THIA-THIA. Chuyện địa phương, chỗ nhau rún nói ra họa may không ai nói gì, chớ tôi rất sợ các ông làm tàn, giỏi nghề ngồi không moi móc.

    – Bạn nhỏ đá cá chơi, không ăn tiền, cũng không có tiền mà ăn, – cốt tranh nhau giữa nhóm “hỷ mũi chưa sạch”: con cá mày dở vì hớt tại đồng “mấy thằng đánh giặc thua”, không như con cá tao hay lắm, vì gốc nó ở trên Hòa-Hưng, còn phảng phất vong hồn “tụi đánh giặc chống Tây” đời trước!

    – Bọn già thì bất chấp điển tích, họ nghĩ rẻ rề: lấy đó làm nghề sanh nhai, “chạy gạo”, kiếm tiền nhậu nhẹt, hút xách, chơi bời… Đối với họ, mùa hạn, thì chơi gà. Mùa ướt, gà đổ lông, thì day qua đá cá: có thế thôi. Chừng nào cá cũ, thì bắt qua mùa gà. Trái đất cứ xây, người dân Việt quê, chỉ biết gà gà, cá cá…

    Hồi còn mài đũng quần trường tỉnh xứ Sốc-trăng yêu nhớ, một trang một lứa nay còn sống sót ở đất Sài-gòn, đếm số còn thua số răng trên hai hàm lão già bảy chục, (không kể răng do các bác-sĩ nha-y trồng, nhìn không ra), lúc thiếu thời ấy, chúng tôi không gì thích bằng ngày lễ nghỉ xả hơi hay ngày chúa nhựt, sau khi bày vở đâu êm vào đó:

    Rồ-lem (problème) làm rồi, con-bò-té-sông-răng-ke (composition française) vừa làm rồi; chia quẹt-bờ (verbe): rồi mà chưa, để sáng coi lại còn dư chán: anh-đi-xúc-tép-về-rang (indicatif présent) chưa mà rồi, vì dễ ợt, mai sáng chép vô tập còn kịp; bài học thuộc lòng, cũng nhớ làu làu, ngặt nỗi đọc lên như kéc mẹ chớ nhiều câu không hiểu nghĩa, nhưng dám chắc trong lớp cũng bí-lù như mình, tóm lại “đâu êm vào đó”, chừng ấy chúng tôi bèn rủ nhau, mỗi đứa cụ bị một rổ con hay một mủng trẹt, kèm thêm một chai nhỏ, thứ chai dầu thơm “Cô Ba” của mẹ hay chị đựng dầu dừa hay giấm chua, sẽ lén lấy, mượn đỡ hay ăn cắp cũng vậy, đem súc sạch và chứa sẵn nửa phần nước trong, đồ nghề đại khái rổ và chai cặp nách sẵn sàng thì hè nhau kéo ra đồng ruộng chia tay hớt cá.

    Không phải bất cứ đồng nào cũng có cá hay.

    Phải rành đôi chút mới chắc ăn kiểu “ba bó một giạ”.

    Chung quanh thành phố Sốc-trăng, năm ấy (lối 1914 – 1915) tôi biết có:

    1) Đồng Lọ-Nghẹ, ở phía sau trại lính Ma-tà. Gần đám ruộng nầy có nhà thợ rèn ở nhiều, than bụi tro lò đổ xuống nước ruộng, lâu ngày nước đen ngòm: thia-thia đồng nầy có màu đen đúa chắc da chắc thịt như con cháu tướng Uất-Trì đời Đường, vảy da như trui, thoét trong lò nấu đồng thổi sắt, nên đinh ninh cá đồng nầy “mình đồng gan sắt”, răng cứng như thép khóa chắc trong hàm như trong họng kềm: cá đồng nầy không chạy mặt cá đồng nào! Thảm nỗi, đồng ở gần trại lính Ma-tà, mà con cháu Ma-tà dữ quá, hễ chúng nó gặp bọn tôi lén hớt cá đồng Lọ-Nghẹ thì bọn nó đánh chúng tôi chạy bò lê bò càng, không biết đường về.

    2) Đồng hàng tràm, gọi cá chùa Phật, vì nơi đây có chùa thờ đức Di-Đà. Nhờ lá tràm tích-đọng lâu năm, nhuộm nước đỏ au, – lá tràm vả chăng là vị thuốc đón gió ngừa phong, – nên cá vùng nầy mình như tẩm thuốc, bắt được con nào bỏ vô chai, ít giờ sau quen nước quen cái, cá phùng mang sậm màu, vảy xanh ửng hồng, đuôi đỏ chớp sao, chăm bẳm như các tổ-sư Bồ-Đề, hay nói cách khác, như thầy bùa, thầy ngải giỏi nghề “gồng chém không đứt” hay có học “xầng-tả”, xìn tả (thần đả). Năm xưa, nơi đây tôi hớt được một con “cá nái”, lớn bằng ngón tay út, lưu lại nhiều năm quá nên quá cỡ, không cáp độ gặp cá nào bằng nó, tôi để đá bóng chơi và đặt chiến danh là “Ngũ-Lang hòa-thượng”! để nhớ thành tích ông tướng “thầy chùa” trong tuồng “Mộc Quế-Anh dâng cây”. Con cá nái nầy, khi tôi hớt được, bỏ vào chai không lọt, phải gởi qua chai khác, đủ biết nó lớn con đến bực nào!

    3) Một đồng khác là đồng Lình-kía (Long-tử cang), ở phía chùa Phật sau nhà máy Quách Xên. Tuy mang danh đẹp là “cá xóm Rồng con”, nhưng thia-thia đồng nầy không anh hùng chút nào, vì ở xóm chệc rẫy, bủng dứ vì quen tiêu thụ những đồ thừa của bọn nầy gởi trong đám ruộng bên nhà.

    4) Một đồng khác nữa, rất xa xăm đối với cặp giò trẻ thơ của chúng tôi buổi đó, là đồng Bắc-Tà-Ky (tên thổ). Đây là ruộng phụ ấm của ông cậu họ Trần, nguyên con quan Đàng Cựu, xưa kia ngồi trấn xứ Ba-Thắc (srock Passac, tức Sốc-trăng). Cá vùng nầy nổi danh một thuở, bền gan không đâu có nhưng ít ai kiếm được lắm. Chủ ruộng là nhà đá cá lớn, dạy tá-điền canh chừng nghiêm mật, không ai hớt lén được. Đặc sắc trong vùng có thứ cá-kỳ-son, tức kỳ trên lưng có chấm một điển son, đây là giống cá xiêm lai biệt dạng của chủ ruộng đúc nắn lâu đời: cắn quạu, bền gan bực nhứt. Ông Trần, ông cậu của tôi, xưa có một con, ăn trọn mùa, không chạy độ nào, danh còn nhắc: “cá Triệu-Tử”.

    5) Tệ nhứt là cá đồng Thầy Tám, trên đường đi Cần-thơ. Thầy Tám nguyên là pháp-sư, chuyên chữa bịnh bằng phù-chú. Thây ma chết chôn sau am, cá sanh vùng nầy lẹt đẹt không khác những con bịnh đau ma do thầy Tám chữa chạy: chưa đá chưa cắn ai một miếng nào, đã xếp đuôi xếp giáp, chạy cuốn cờ! Nguyên sở ruộng Thầy Tám là cuộc đất gò, nước cạn. Thảo nào cá thiếu nước không nơi dụng võ, ngắn hơi và nhát gan là lẽ cố nhiên. Tôi nói nước ít nên cá nhát gan, vì kinh nghiệm dạy rằng con cá ở nước sâu quen nín hơi, lâu lâu mới lên đớp bóng một lần, nhờ đó mà chịu đựng hay, bền hơn cá ở nước cạn.

    6) Đồng lác, đồng cỏ năn, ở phía sau nhà thương tỉnh, dọc theo đường đi xuống Bang-Long (tục gọi quận Giếng Nước). Cá vùng nầy dở hơi, vì sanh trưởng trong lác, trong năn, trong cỏ, nên không có chi đặc sắc (thuở ấy chưa có anh hùng Rừng Sác, nước mặn). Tuy vậy đừng quen chê sớm mà lầm to có ngày, vì may thời Tổ đãi, hớt được cá kinh niên, thứ cá trốn ẩn lâu năm gần nhà xác, hình như còn oan hồn uổng tử vấn vương, hoặc nữa hớt được những cá lẻ loi sống chung lộn nhiều năm trong bộng trong hang rắn dữ, ngày ngày từng hớp nước có nọc con ác-xà phun ra, cá quen hơi rắn nên không hầy hấng, chực khi đụng độ với cá lạ đồng, thì khác nào con xà-niên ngậm ngải đối chọi với phàm phu, có thể nói bách chiến bách thắng. Tôi đã nói phải là có Tổ đãi mới bắt được thứ cá dữ nầy. Khoan vội tin lời tôi, ham thọc tay vào hang rắn, có ngày bỏ mạng!

    Về việc nầy, tôi đã từng ngộ trận, một phen tởn tới già, nay nhắc lại nghe chơi mà còn rởn tóc gáy: Bữa ấy, trời mưa rỉ rả, tại đồng Hàng Tràm, mặt trời vừa xế bóng, tôi đặt rổ xuống nước, vừa lấy chơn giậm giậm xung quanh rổ rồi rút rổ lên, nghe như được một vật gì nặng nặng. Rổ lên vừa khỏi mặt nước. Mẹ cha ôi! Một con rắn hổ lên nước đen mun, nằm khoanh tròn chật rổ. Khỏi nói, tôi vừa thấy rắn, ba hồn bảy vía lên mây, lẹ như chớp, tôi quăng rổ té bật ngửa ra sau, không kể áo quần ướt vấy, mặt cắt không còn chút máu. Úy hà! Chút xíu nữa, không còn sống mà viết bài nầy! Quên nói, rắn ta cũng hoảng hồn hoảng vía (nếu thật rắn cũng có hồn), rắn đánh cái “tỏm”, buông mình xuống nước, phăn phăn lủi bụi trốn theo đường, rắn cút mất tự thuở nào!

    Các anh em bạn theo tôi bữa đó đều chạy té đùn cục trong ruộng sình, báo hại thia-thia huyền bí đâu chẳng thấy, duy thấy một phen vỡ mật hú hồn.

    Một lần khác cũng tại đồng Hàng Tràm nầy, tôi lại bị trâu dữ rượt, chạy bò càng, ve thúng quăng mất, may sao còn giữ được hồn. Con trâu nầy tôi nhớ rõ, sừng của nó, không biết vì sao không dựng quớt lên mà vẫn nằm lòng thòng hai bên đầu, có lẽ nếu nó húc cũng không hại gì lắm, nhưng nói giỏi, sao hồi đó không ở lại mà thử sức với nó! Tởn đi một dạo rồi chứng nào tật nấy, tôi cũng mon men ra đồng xúc cá, vì thuở ấy, thú thật, chúng tôi tiền bạc đến một đồng một chữ cũng chẳng có dính lưng, cho nên chỉ biết những thú vui không tốn tiền; mà theo tôi còn vui nào bằng ngày chúa nhựt đi hớt cá thia-thia, để được nhăm nhi củ kiệu chua nhai nghe giòn rụm, bây giờ nhắc lại còn chảy nước miếng!

    Độ xưa, một nhà chơi cá ở chợ Sốc-trăng, có một con cá kỳ quặc, ông ta lượm nó ngoài đồng, ở sẵn trong một bình vôi sành mẻ miệng, bỏ gần bên gò mả loạn. Ông rinh luôn như vậy đem về nuôi, để y con cá ấy trong bình vôi của nó quen ở, trừ khi nào xách ra trường cáp độ, khi ấy ông mới vớt nó ra đọi ra thố đường hoàng. Con cá nầy có thể nói là lạ lắm, vì thắng không biết bao nhiêu độ, về sau không ai dám đem cá đối thủ với bất cứ cá nào của chủ nó, báo hại ông ta vì một con cá linh, thắng độ hoài, mà chủ không tiền hút! Tôi sau nầy, vì đi học trường lớn, cũng mất tích con cá ở bình vôi gò mả hoang nầy.

    XÚC, BẮT, HỚT CÁ THIA-THIA

    Muốn có được cá để chơi, phải có chút ít kinh nghiệm. Kinh nghiệm nầy không có trường nào chuyên môn dạy. Thuở đó, dẫu là con ông Thông đứng bàn ông Chánh, hay con Thầy ký Kho bạc, muốn có cá chơi, phải lén cha lén mẹ, phải lo lót xin thọ giáo với các tay rành nghề, mà không ai khác hơn là bọn bộ hạ dưới tay cha mẹ chúng, bọn trẻ chăn trâu giữ bò, cắt cỏ ngựa, mục-đồng, bọn ở đợ. Dạy không lấy tiền công tiền Tổ, cao thượng vậy thay. Duy phải chiều lòn, dẹp bỏ bộ tịch “cậu”, dày công tâng hót thì họ mới truyền nghề. Một trang một lứa với tôi năm đó có con ông Huyện Kim, con Thầy Thông Tây, toàn là tay “công-tử”, con các người có máu mặt đương thời. Trối kệ, phải xuống nước nhỏ, dẹp chức “Ấm” vào ngăn kéo, tôn họ làm “Sư”, làm “Mồ Tổ”, họ mới đoái hoài. Quên nữa, và phải trốn học, theo họ ra ngoài đồng ruộng, đổi với họ một khúc bánh mì thì họ cho leo lưng bò cỡi thử một chặp, hoặc dâng cho họ “đồng xu mẹ cho để dành ăn bánh”, thì họ cho phép lội xuống ruộng sình, bước lỏm bỏm theo họ mà hớt cá thia-thia hay là bắt ốc! Trốn trường cũng vì muốn biết cỡi bò, bỏ lớp, hoang phế việc học hành, cũng vì ba con cá xanh-xanh đỏ-đỏ! Thầy dạy chúng tôi hớt cá là anh Tỷ-Bò. Anh chăn bò, “giữ bò” từ lên sáu. Cứ mỗi sáng, cho ăn ba miếng cơm nguội no nê, chú đày tớ già bồng Tỷ đặt trên lưng bò, đèo thêm chai nước mưa, và mo cơm vắt…. Ra đồng, trọn ngày hết ngồi đến nằm, Tỷ ở trên lưng thú, nắng mưa phú có cao xanh thương xót, một cái nón rách, một chiếc áo tơi, – con nhà nghèo có ông Trời nuôi, – Tỷ mạnh lành, da đỏ sậm có cần gì hứng gió Long-Hải, tắm nắng Vũng-Tàu? Chiều lùa bò về, chú tớ già ẵm Tỷ xuống cho Tỷ xã hơi, cơm nước, ngủ nghê, ngày ngày y một kiểu như thế cho đến tuổi Tỷ lên xuống lưng bò mình ên được. Mà cái tuổi ấy không xa, mới ngộ chưa, vì cỡi bò được ít lâu, Tỷ đã dạy được con bò cầm bầy tên là “Cành-Tết”, biết nằm xuống, mỗi khi Tỷ cần dùng không muốn ở mãi trên lưng nó: bò nằm rồi, Tỷ bắn lùi như tôm, đít đi trước, chân đụng đất bình yên vô sự, nào cần ai bồng ẵm? Khi lên, Tỷ dạy “Cành-Tết” nằm nữa, Tỷ trèo, – có khó hơn khi xuống một tý, – trèo như kiểu thằn-lằn ôm cột đình, nhưng rồi cũng trèo lên lưng bò được, chớ không sao! Tỷ giấu nhẹm chú tớ già việc nầy, để hưởng tận cảnh: “cực thì có cực, nhưng khổ thì không khổ”. Ai ở đợ ra sao không biết chớ Tỷ không bao giờ bị chủ rầy la, một bầu trời nước bao la, mặc sức nghêu ngao hò hát! Sạm da vì nắng, săn thịt vì mưa, không hề sổ mũi gió máy bậy bạ, không bao giờ biết nhức đầu là gì, lên mười tuổi, Tỷ vỗ ngực xưng “Chúa tể Đồng Trường Đua”, “ngô chánh thị Tỷ-Bò thị giả!!!”

    Không chuyện gì xảy ra ngoài đồng ruộng mà Tỷ-Bò không thạo: gò nào có rùa vàng, rùa nấp ở; hễ thấy dấu cỏ dấu đất ra làm sao là Tỷ biết có con vật ẩn núp dưới bụi đế hay gốc lức, v.v… Vì vậy mà Tỷ-Bò mỗi ngày mỗi lục lạo, lục còn hơn học trò lớp nhứt khuấy rầy quyển tự-vị lúc dịch “version” Tây! Con rắn làm hang như thế nào, và con rắn ấy là loại rắn gì, Tỷ-Bò biết đủ. Tỷ-Bò quả quyết thuốc “không xa”, và thường thường có giống cỏ nào mọc gần miệng hang, thì cỏ ấy là món thuốc thần trừ nọc con độc-xà kia vậy. Tỷ-Bò cam đoan đêm nào trăng sáng là rắn ra trững mỡ, “giỡn trăng”, chầy ngày lăn lộn trững đùa trên đám cỏ, sao sao cũng chảy dãi, nhểu nước miếng thấm cọng cây lá cỏ, tẩm già chất độc, chất nầy nhờ gội sương chan nắng nhiều ngày mà dịu lần, biến nên môn “thuốc ngừa” (kiểu nầy y như kiểu thuốc ngừa do viện Pasteur bào chế!). Tỷ-Bò dốt mà sao nghiệm được việc nầy, lạ thật! Mai sau người nào nếu bị rắn cắn, cứ nhớ tìm hang nó và bứt một mớ cỏ mọc nơi miệng hang, lớp đem về nấu nước uống, lớp nhai cấp kỳ nuốt nước và lấy xác đắp lên chỗ bị cắn, là có cơ thoát khỏi nạn nghèo! (Tỷ-Bò chúc ngôn).

    Nghe làm vậy thì hay làm vậy, chớ tôi chưa dám truyền-bá, đem phương nầy bày vẽ cho ai thí nghiệm bao giờ. Nay viết ra đây cũng không bảo-kê hiệu quả. Tóm lại, chồn đèn, chuột đồng, kỳ-đà, rắn mối, rùa vàng, cá bộng, các con sinh vật ở ruộng, nhứt cử nhứt động là Tỷ-Bò hay biết từ đường đi nước bước. Sau nầy, mặc dầu tôi đỗ bằng Trung-học, “lên mặt” trở về làng, nhưng đối với môn vạn-vật-học và môn địa-dư tỉnh nhà, tôi vẫn như thuở còn bé thơ, thua anh Tỷ-Bò xa lắc! Miền Nam, từ cửa “Vàm Tấn” (Đại-Ngãi) cho đến sông Ông Đốc (Cà-Mau), không một khúc quanh nào mà Tỷ-Bò không biết tên, không một xẻo-co nào mà Tỷ-Bò chưa từng đặt chơn đến đó. Giờ nào nước lớn, nước ròng, nước đứng, Tỷ-Bò thuộc nằm lòng. (Nhờ vậy mà muốn đi đây đi đó, Tỷ-Bò không cần chèo chống. Một lá buồm rách, một cơn gió thuận, một chuyến nước xuôi, Tỷ-Bò thả ghe vô ruộng. Công việc xong xả, Tỷ-Bò chờ con nước, thả ghe về nhà, không tốn công chèo, còn hay hơn đời nay, sắm máy thế chèo mà có khi máy trục trặc, đã tốn tiền thêm mất công linh chờ đợi). (Không nói đến cái nạn mọi việc đều máy móc thay thế, sau nầy tầm vóc, bắp thịt đàn bà Việt sẽ kém thua bây giờ vì còn thể-thao chèo bơi gì nữa đâu?) Nói quá xa đề, nhắc lại đối với Tỷ-Bò, tuy vô học, nhưng con thú nào kêu la làm sao…, chỗ nào đào xuống là bắt được rắn hổ, chỗ nào đốt cỏ già hơi là có rùa mập bò ra, v.v…, tắt lại, địa-lý, địa-dư vùng đồng Ba-Thắc (Sốc-trăng), Tỷ-Bò xem rẻ như thò tay vào túi lấy đồ.

    Hôm nào chúng tôi được theo sau lưng Tỷ-Bò ra đồng, thì hả hê bữa ấy: không cháo rùa cũng rắn xào, lươn um, hoặc cá lóc mập ú bó đất sét nướng trui vào lửa rơm, ăn nội cái “filet” chấm muối hột, “nóng hổi, vừa thổi vừa ăn”, đến nay còn thèm. Chúng tôi hùn tiền sắm gần đủ nồi ơ, chảo, đũa, gởi kỹ miễu “Ông Tà”, đũa rất ít dùng; vì chúng tôi kinh nghiệm ăn “bốc tay” sướng và ngon nhất! Chúng tôi không mê Tỷ-Bò không được! Tỷ-Bò rất khác tôi. Tôi thì, học toi cơm, học thuộc tên tổng tên làng làu như cháo lỏng, đọc như kéc mẹ, tên thảo mộc, tên chất khoáng hay ngũ kim, tôi kể giòn hơn lặt rau rang bắp, thế mà nếu ai hỏi vặn: làng ấy ở đâu, chất ấy biến thể ra gì, tôi sẽ ú ớ như đứa câm ăn ớt: học mà không hành, tôi kém Tỷ-Bò hằng mấy dặm! Biết mà thiếu kinh nghiệm, ra trường đời, tôi chỉ là thằng hủ nho Tây đại chi vô dụng!!!

    Anh Tỷ-Bò dạy tôi phương pháp hớt cá lia thia.

    Anh dặn: “Khi để chơn xuống ruộng sâu, thì phải nhớ không còn là con cưng của cha mẹ tại nhà nữa. Muốn nhỏng nhẻo thì ở nhà. Đến đây, phải biết hòa mình cùng Trời Đất: tập bước cho khéo chân, cá không giựt mình, mới có mà bắt. Lựa gốc rạ, dốc lức mục, giẵm cẳng lên đó thì khỏi sợ sa lầy khỏi uống nước bùn. Dẫu đỉa trâu lớn bằng ngón cái nó đeo bắp vế non, và dẫu đỉa hẹ đỉa mén mỏng như lá lúa bò lúc nhúc, lòng thòng trên bắp chuối, thì trối kệ nó! Dẫu vắt rừng cắn, máu ra ướt đỏ chân, háng, thì cắn răng để vậy! Tập chịu, thét rồi quen! Đó là thường sự! Muốn làm dân ruộng thì phải tập cho quen lần: tập cắn răng nín khóc, đau thế mấy cũng không được la! Rên la không ích gì, và chỉ làm bối rối người lớn, thêm làm cho cá tôm hoảng chui trốn mất, mà lỡ cơ hội tốt. Tập lâu ngày thì hết sợ; rồi thét đi sẽ dạn lần, sẽ thấy vui thú. Cần nhất là miễn sao đừng để đỉa con, vắt mén chui vào hậu môn, vào lỗ chỗ nhược, thì thầy chợ cũng khoanh tay mà Tỷ-Bò cũng vô phương tiếp cứu! Học bao nhiêu đó trước đã, rồi Tỷ sẽ dạy thêm”. Tôi nhớ lại hồi nhỏ, nhỏng nhẻo với mẹ có tiếng, mẹ vừa lấy cán chổi lông gà phủi sơ sơ ngoài quần, chưa chi đã la còn hơn bị ong bầu đút đít! Bây giờ mãi mê ba con cá thia-thia xanh-xanh đỏ-đỏ, anh Tỷ-Bò “phán” ra câu nào là dạ răng rắc, xem còn hơn câu kinh nhật tụng, tuân theo răm rắp, không dám cãi nửa lời! (Nay mẹ đã mất, cha cũng đã mất, con nhớ lại ăn năn không nghe cha mẹ bằng nghe Tỷ-Bò).

    Tỷ-Bò dạy tôi phải cho có gan, thì tôi làm gan! Tỷ-Bò dạy tôi bậm môi thì tôi cắn môi đến giập máu! Anh dạy tôi túm, vo ống quần cho sát bẹn sát háng, tôi làm coi cũng gọn bâng; bây giờ tôi viết bài nầy, nhớ lại việc cách trên năm mươi năm, tôi mới hiểu và thương mẹ tôi, mỗi lần lấy áo quần ra giặt, đăm-đăm muốn biết sao “đứa con ăn cá, mẹ lừa xương” y-phục lại bèo-nhèo đến thế! (Mẹ! Mẹ ôi! giá-thử con cũng nghe huấn-từ của cha mẹ bằng như con đã nghe lời anh Tỷ-Bò!)

    Tâm trí của tôi lúc đi hớt cá, không lo đỉa chun hậu môn, – thú thật tuổi ấy tôi cũng chưa biết đó là một tai nạn lớn và sẽ làm khổ cho cha mẹ đến bực nào, – tâm trí tôi mảng lo và chăm chú ngó theo bờ mẫu, ngó dài mặt nước bọc theo lức, đế, ô-rô, rau dừa. Chỗ nào có bọt nổi trắng-trắng hay vàng-vàng (trắng khi nào ruộng toàn nước mưa, vàng khi nào nước có lộn chất phèn chất sắt do dưới đất hoà lên, hay có lá mục…): bọt ấy là bọt cá thia-thia, rõ đích-thị hắn đây rồi! Con mắt thông thạo của Tỷ-Bò, dòm thoáng qua là biết ngay, không do dự môt giây một khắc! Đối với tôi thì cóc cần, bọt gì cũng mặc! Khi ấy hãy đưa rổ vào cho lẹ, vừa đẩy rổ tới trước vừa thọc sâu xuống và cũng vừa hứng lần lên, ba việc: đưa đẩy, thọc sâu, hứng lên, phải làm nhanh lẹ vén khéo, cùng khi ấy hai chơn lại phải giậm-giậm thật đều, thật kỹ giáp vòng chỗ mình đang đứng, cốt làm sao cho con cá, dẫu muốn thoát thân ra bụi bậm thì cũng vì “địa-võng” của mình bố trí quá khít khao, và nhờ sự “tấn công ba mặt” của mình quá chặt chẽ, đành vô phương thối bộ và đành rút lui về bọt, mặc tình bắt tha! Mỗi lần nâng rổ lên, nếu khéo tay và thông thạo thì gặp bọt chín mười lần, làm sao cũng phải hớt được vài ba con cá.

    Cá giãy lách chách trong lòng rổ mà lòng mình cũng rung lên thình thịch, còn sung sướng hơn đánh bài tứ-sắc “tới quan”! Nhưng cũng khoan vội mừng sớm và hãy đợi cho cá lọt vào chai đem theo, xem đi xem lại kỹ càng rồi sẽ mừng không vội. Nếu hắn là con cá trống thì mặc sức mừng vui! Bất ngờ hớt trúng con cá thia-thia mái, thì nên phóng sanh phứt cho rảnh nợ đời, hoặc giả bắt được thứ cá sọc dưa, cá bã-trầu thì mừng hụt một phen và cũng nên mở nút chai trút ngược cá xuống ruộng mà làm doan làm phước cho nó nhờ! Để thì giờ xúc con cá khác còn hay hơn!

    Cá bã-trầu, mình dẹp, vảy xanh lè, coi tốt mã ghê, thoáng qua tưởng mình thộp được con cá xiêm, mừng quýnh, không dè đó là thứ cá bã-trầu, đồ vô dụng, được nhiều kho mẻ tô thì đã tanh thêm xương nhiều thịt ít, ăn không ngon, bằng để nuôi chơi trong chai trong keo, thì chỉ phá đám, tốn công nuôi, cá bã-trầu trững giỡn cũng không biết đừng nói chi đá độ: bã-trầu chỉ giỏi tài nuốt cung quăng, vì kính trọng Ba tôi lắm, nên chuyền tay đem về Sốc-trăng, Ba tôi quí hơn vàng: con cá nầy nước lội xem đủ oai, thêm miệng quai xách, mắt thụt (không sợ cá khắc cắn nhằm), vảy đều đều óng ánh như lửa sáng, kỳ trên thật nhọn như cây bút lông chấm son dựng đứng, kỳ dưới đỏ chói khi xếp như lá cờ lịnh, khi xoè tươi như cờ hiệu nhà Vương!

    Thằn-lằn quen mửng cũ, tôi giết đã nhiều, thế mà hắn còn đây, hay thật! (Chuyến nầy chết m. mày rồi!) Thằn-lằn quen mửng cũ, thấy nắp keo đậy không kín thì ăn quen, mon men toan độn nhập vào trong, định bề bắt cá tươi “xực” (thực) như kỳ trước! Tôi ngồi chỗ bộ ván, thấy con thằn-lằn ngán giùm cho cá, nó vóc to và mập, trắng đỏ như “thằng Lê-dương” năm ấy: có lẽ sức mạnh nó không vừa: nếu khoẻ như “lính đầu đỏ” và tinh anh có thừa, thì chu cha, ghê quá, không biết con xiêm bự của mình làm lại nó không? Khi ấy, tôi ngưng làm bài học, và định trong trí sẽ can thiệp cứu cá cho kịp thời. Thằn-lằn, vốn tánh dè dặt sẵn, (ba mươi đời quân gian thường kỹ càng, nên càng thêm lợi hại), thằn-lằn làm như “Lê-Huê khán trận”, ngó trước xem sau, (hát ba câu Nam rồi!) thì bò lần đút đầu vào miệng keo, không khác hùm dữ vào chuồng trâu…

    Đàng nầy tôi ngồi mà nôn quýnh, không dám nhúc nhích cục kịch, gần như nín thở, hờm sẵn chờ dịp sẽ tiếp cứu và ám trợ con cá câng.

    Thằn-lằn bò nhẹ nhẹ như tên du-kích lành nghề, mắt lườm lườm ngó riết con cá đang ở dưới đáy keo, thong thả xê xích từ phân từ ly, rình xem nhứt cử nhứt động của con vật sắp làm mồi ngon cho mình. Tôi nín thở, phập phồng lo sợ cho cá. Bỗng thằn-lằn quay đầu trở lên, lú chót mũi khỏi miệng keo, bốn chân hít cứng vào cổ keo thủ thế như thầy nghề võ, cặp mắt ngoáy trở xuống liếc theo từng mỗi hành động con thủy vật. Nắm được thế thủ vững chắc rồi, thằn-lằn bèn ra miếng độc. Nó thò đuôi rà mặt nước, lay động nhẹ nhẹ giả như chót đuôi là con quăng đang trở mình biến hình con muỗi, hoặc như con ruồi sa cơ vừa té xuống nước, đang giãy tử, chi vậy? – Xin thưa: ấy là kế dụ địch của thằn-lằn, để nhử thia-thia hờ cơ sẽ ra tay. Nếu khi ấy thia-thia không khéo đề phòng, trồi lên đớp nước, hoặc ơ hờ hoặc vô tình tưởng chừng chót đuôi kia là quăng, là muỗi, trân mình định táp, khi cá vừa tằm đòn thì thằn-lằn, lẹ như chớp, sẽ phóng mình xuống mặt nước và dùng đầu làm củ chuỳ đập mạnh vào đầu cá. Người có biệt tài, khéo ở chỗ đúc mà khi cáp cá, người ta không biết cá mình là cá lai, hoặc thấy “lai phảng phất” chút ít, kể như cá hồ, nên chịu độ, đến khi thả vô keo đá mới thấy lai rõ rệt, mà phép “thả cá vô keo” rồi thì kể chịu độ, phải để đá đến ăn thua, chớ không bắt ra được. Phép đúc cá, phải làm sao cho người ta biết cá mình không phải cá lai xiêm, thì mới dễ kiếm độ; chớ ở trường, khi cáp cá ngoài thố nhỏ, khi thấy cá lai rõ rệt thì ít ai khứng đá với mình, cũng có khi họ thấy lai mà dám đá là khi nào họ từng thấy trong bầy cá lai của người đó đã đá trước một hai con mà không dữ, hình thể cá đã xấu hoặc hư rồi, hoặc “cá lai non” nên họ không sợ. Cũng vì lầm tưởng như vậy, nên đã có người “tương kế tựu kế”, đúc và nuôi đến hai bầy: khác nhau ở chỗ mẹ cha khác giống, nhưng giống nhau ở chỗ cùng màu, cùng sắc, để dễ gạt lớp người thực thà, tuần nầy họ đem cá dở ra đá, rồi tuần sau họ mang cá hay đến gỡ độ, đá lớn hơn, những ai quá tham không kịp xét nét, sẽ thua họ mà không ngờ đã lầm kế độc “ly miêu hoán chúa”!

    Phàm cá cũng như gà, “gan ruột” giống mẹ. Muốn đổ, phải lựa chọn cá mái cho thật dữ, nghĩa là mái lựa mái xiêm rặc hoặc lai một hai đời tuỳ ý, nhưng “cá trống” phần nhiều lựa “trống Rạch” (Rạch-Giá), “trống cỏ”, “trống hồ” đã từng ăn độ “anh hùng”, và lựa từ nết đá, nét chịu đòn, đến hình thể, v.v… Các tay chơi chưa lão luyện, ai ai lúc đổ cá, cũng ham cá sau nầy sẽ giỏi chịu đòn, cắn dữ, biết đánh “đòn hồi-mã-thương”, biết “chơi cú-đờ-tết”, tức biết quày mình dùng đầu đánh trái lại đầu con cá kia chưa đề phòng, biết đòn “câu nước hàm trên”, “câu nước hàm dưới”, tức cắn ngay hàm (trên hay dưới) của con cá nọ, ngậm chắc và trì xác con nọ xuống tận đáy, vừa lấy thế đó mà nghỉ mệt, xả hơi, vừa thi tài “giỏi nín hơi”, con nào không quen, không đủ sức chịu đựng, nín hơi lâu không nổi, sẽ giựt hàm chịu thua và chạy luôn có cờ! Nhưng những nhà lão luyện, kinh nghiệm có thừa, lại thích đúc cá thật bén, cắn dữ bội phần, để con cá kia bị cắn, bị đòn, rát quá thì chạy ngay; chớ những miếng “hồi-mã-thương”, “đâu hàm”, “bỏ chạy dụ địch” đều có chút phần nguy hiểm vì trong khi “chạy dụ địch” nếu có một bóng lạ, một tiếng động thình lình, cá chạy luôn cũng chưa biết chừng, nguy hiểm là vì vậy, nên họ không thích lắm.

    Khỏi nói, về cá mái, cá để giống luôn luôn là cá lựa “gắt củ kiệu”, không chỗ chê, và trứng phải thật già. Trứng chưa già, ép ra thì cá non hao nhiều, mớ nào sống cũng không bền, không khác người ta đẻ thiếu tháng. Trong lúc mái còn non trứng, phải để cặp bên cá trống, mỗi ngày, cho ăn đầy đủ và mỗi bữa cho đá bóng cho cá sung sức, trứng mau già. Khi nào thấy con mái lội, đầu chìm xuống, khúc đuôi chổng vổng lên, bụng no tròn, ở hai bên hông “sọc dưa” vàng đen rõ rệt và một trứng lòi ra dưới bụng, ấy là trứng đã già, cá đã đúng lứa ép, không nên để lâu nữa. Trứng già mà không cho trống ép thì con mái cũng chết. Đây chỉ là một mánh khóe nhỏ, còn ngón gian trong trường cá không sao tả xiết, người thức thời và biết khôn, duy đừng mó tay vào nghề chơi cá và đá cá mới khỏi bị thua trí thua tiền.

    THỂ LỆ ĐÁ CÁ

    Theo phép chơi cá, tuy không có trường dạy luật lệ, nhưng theo thói quen thành tục, lấy đó làm chuẩn thằng, thì chịu đá hay không là khi nào cá của mình còn ngoài thố cáp, chưa thả vào “keo trường”. Cá còn ngoài thố, thì mình là chủ cá, có trọn quyền chạy, không đá, hay là ưng thuận, cho hai con đá nhau. Một khi cá thả vô “keo trường” thì như ván đóng đinh, phải để cho hai con đá đến ăn thua, chớ không bên nào được bắt cá ra, dẫu bên đối phương cá là cá lai “rặt” hay “lai mấy đời” cũng phải cắn răng mà chịu. Vì vậy khi cáp cá, phải cẩn thận từ ly từ phân, phải luyện cặp mắt biết “cá lai”, “cá Rạch” từ trong thố, chớ đừng đợi thả cá vô keo, kêu Trời vô ích!

    Điều lệ khác cần biết là khi thả cá vô keo, khởi sự ăn thua là khi nào hai con đều cắn nhau “miếng vay miếng trả”, mỗi con cắn một miếng là bắt đầu “thành độ”. Nếu thả vô keo, hai con phùng xòe, con A cắn con B, B chưa cắn miếng nào, thoạt A bỏ chạy, thì độ cá kể “huề”, vì B chưa cắn, chưa thành độ.

    Đây là thể lệ chánh, ở đâu cũng vậy, còn những chi tiết nhỏ nhặt khác thì sẵn chủ trường vừa là “cố vấn” vừa là quan Toà, sẽ giải quyết tuỳ sự thông cảm của đôi bên. Một điều nên nói nữa là chủ trường, ở tại trường cá, lịnh và quyền, lớn hơn ông Cò tại Bót Cảnh-sát; và ở trường cá không có luật “chống án”!

    MỘT ĐỘ CÁ ĐIỂN HÌNH

    Lúc nãy, tôi có nói về những mánh khóe gian lận của bọn đá cá chạy gạo, chuyên gạt lớp, phỉnh phờ, đến em cháu cũng không buông tha. Nói thì nói vậy, chớ thỉnh thoảng ông Tổ nghề đá cá cũng sửa lưng đồ đệ một cách bất ngờ cho chúng nó bớt khinh lờn oai Tổ! Lối năm 1938, tôi còn tùng sự tại tỉnh nhà Sốc-trăng để dễ bề thần tỉnh mộ khan. Ở xứ đá cá nên tật cũ khó chừa, chúa nhựt nào cũng có mặt tôi tại trường, mà trường cá vốn không xa lạ, vì chủ là anh Nguyễn Trinh-T., mặc dầu nay gương vỡ, chớ chức “anh vợ trước” không mất! Một buổi gần trưa chúa nhựt, tôi xách nả tre có đựng mươi cái thố sành, mỗi thố là một con cá chiến. Từ sáng sớm họ đã đá xong vài ba độ, trường đang nóng tiết, kẻ ăn cười người thua, luồng điện bắt đầu muốn xẹt lửa. Chú Bảy Minh đem cá từ Bãi-Xàu qua cáp độ. Khiến cá tôi gặp cá chú. Lúc còn trong thố, rõ ràng cá tôi lấn cá chú, một mười một tám. Đôi bên bằng lòng ưng đá, tiền độ là năm chục bạc, phần tôi “bao” phân nửa, hai mươi lăm đồng, còn lại chia kẻ năm người ba cho vui. Bên chú Bảy, chú bao sổ, chú muốn “ăn một mình trọn gói”, không cho bọn thua từ sớm “ké vào chút ít” gọi là gỡ gạc vớt vát ít nhiều.

    Bởi họ thiện nghệ nên họ khôn hơn mình! Lúc nãy, cá còn trong thố, họ dùng lông gà nhận chìm con cá họ xuống sát đáy, lại thêm lấy lông gà quét túm vi kỳ con cá, nên mình thấy nhỏ xíu! Bây giờ được thả vào keo rộng, cá nở nang bành trướng đúng sức nên to gấp hai ban nãy! Thôi rồi! cái thua nắm chắc về phần mình rồi! Tôi ngồi đó mà chỉ trông mau dứt độ để về nhà sớm sớm, tránh những cặp mắt ngạo nghễ của bọn hàng sáo khó chịu. Chú Bảy, không nói gì, chỉ rung rung mấy sợi râu mép “kiểu Char-lot”, thầm hân hoan nhưng còn ngại, nếu cười ra mặt e tôi đổ quạu không chung tiền thì uổng lắm! Nhóm bàng quan nãy giờ thấy cá chú Bảy “kể ăn chắc” nên phóng bắt om xòm. Ban đầu còn kiêng dè, họ phóng mười đồng ăn bảy. Về sau bất kể, họ quăng ăn năm, ăn tư, nghe mà thêm tức giận. Riêng tôi, tôi ói gan, nhưng đã bước vào nghề, phải học chữ “nhẫn”, nên cắn răng mà chịu. Duy, nói chí đáng, mấy người đá theo phe tôi, một là nóng ruột sắp mất tiền oan uổng, hai là thấy tôi mắc mớp nên bên vực, bọn đồng sổ chưởi thề liền miệng, nào “đá không ngay thật”, nào “ăn gian sẽ thua mạt có ngày”!

    Trong keo, hai con cá đã “trao đổi găng tay”, cắn nhau mỗi con một miếng cắn: thế là bắt đầu ăn thua thực sự. Cá của tôi vẫn quạt đuôi, phùng xoè, lo lội, lo tìm chỗ nhược mà hạ thủ. Cũng trong lúc ấy, ngờ đâu cá chú Bảy lại không lo nghinh chiến; để liến thoắng, đảo bên nầy rồi đảo bên kia, lội tung tăng theo cá tôi, hết lội sau rồi bọc ra trước mặt, giương kỳ, xòe đuôi, khoe mã, giáp. Bỗng lẹ như chớp nhoáng: con cá của tôi, thừa lúc cá chú Bảy uốn mình trước mặt khoe bộ vảy óng ánh như sao, nó bỗng phóng hết mình tới trước, cắn một miếng thật mạnh vào bụng bở, mạnh cho đến đỗi bọt nước văng tung tóe và nghe rõ ràng một tiếng “bóc” rung rinh mặt nước hồi lâu. Rồi một sự bất ngờ diễn ra mau như điện chớp. Cá chú Bảy bị một vố đau quá, giựt mình chạy khan, xếp đuôi cuốn giáp, hát bài “tẩu mã” luôn, không còn gan dạ nào trở đầu nghinh chiến! Mà có gì lạ đâu: chẳng qua từ khi thả chung vào keo, cá chú Bảy thấy cá tôi sặt rằn, trên mình có vằn có vện, lầm tưởng đó là “cá mái” nên sẵn lòng trổ ngón ba mươi lăm! Bất thần nay bị cắn mạnh “như trời đánh, búa bổ” bèn kinh tâm tán đởm, ù chạy luôn, quên chuyện đấu tranh!

    Từ bại trước mắt, chuyển ra thắng một cách bất ngờ, tôi thò vợt múc cá ra, chìa tay lãnh hai mươi lăm đồng bạc ngon lành, trong khi chú Bảy, bây giờ mới nhìn bà con, lằm bằm: “Đồng tiền của ông cháu lớn quá! Tự hậu, tôi không dám đương đầu với ông nữa! Ai coi! cá tôi lớn mười, đá với cá ông không bằng phân nửa của nó; tiền kể như bỏ túi, tội gì cá lớn trổ tật, trững mái làm chi hại tôi thua vô cớ vô căn! Hoặc tôi hết thời nên Tổ trác? Hoặc ông cháu có thần tài giữ của chi đây? Thật báo tôi quá, và tự hậu tôi không đá với ông nữa đâu!”

    Thật vậy! Chú Bảy từ ấy không hề cáp đá với tôi, mà tôi cũng giải nghệ từ đây vì biết rõ trong trường đấu kê đá cá, ngu ngơ như tôi làm vầy mà không sớm rút lui thì chỉ đưa đầu gối cho chúng đột !

    CÓ MẤY THỨ CÁ ĐỂ NUÔI CHƠI?

    Nay xin kể theo chỗ tôi biết, một vài thứ cá thường thấy:

    1) Cá thia-thia cỏ, ao, hồ: tuỳ tên đồng nội, tên địa phương mà gọi, như tại Sốc-trăng, có cá đồng Lọ-Nghẹ, đồng Hàng Tràm, giồng Lình-kía (Long-tử cang), v.v…

    2) Cá nước, cá Rạch (ở Rạch Giá, rừng U Minh). – Như đã nói, cá loại nầy hay lắm, răng bén, cắn dữ, giỏi chịu đòn, không chạy bậy, trừ phi “hết mùa cá xuống nước”. Xiêm lai lơ mơ cũng cự không lại nó. Người đi hớt cam go, lội rừng mấy ngày ròng rã, cá trốn trong bọng dừa nước, chung với rắn, đỉa, trong bưng biền có tiếng là đầy cọp, sấu, thú dữ… Ngày xưa cá đồng hạng tốt, bán một hai cắc bạc mỗi con, thì cá Rạch, gặp mùa hút và cho xổ thử thấy tài trước mắt thì ba đồng bạc mỗi con cá tốt, cũng có người dám mua. Cá nước duy bất tiện một điều là dễ nhìn ra, và chỉ cáp độ với cá nước khác chỗ hớt, còn cá cỏ, cá đồng, không ai dám đá với loại cá nước, cá Rạch nầy.

    3) Cá xiêm rặt, gọi “cá xiêm thiệt” chia ra cá có kỳ và đuôi đỏ lòm, “cá xiêm đỏ”: bền nhưng ít bén; “cá xiêm xanh” thì kỳ và đuôi xanh lè xanh lét, cắn dữ, mạnh, lẹ, nhưng ít bền; “cá xiêm đen” vảy đen huyền, như cục xiên xáo, vừa đẹp, vừa hay, nhưng ít thấy bán; “cá sáp” mình trắng, để chưng chơi, không ai nuôi đá, đủ biết tài nghệ tầm thường nên không ai chuộng.

    4) Cá xiêm lai một đời, còn dữ như thứ thiệt. Thấy dễ biết, vì càng lai thì thân mình con cá càng dài đòn thêm.

    5) Cá xiêm lai biệt dạng, riêng gọi “cá đúc”; người sành nghề dòm qua dễ biết vì cá ta, đuôi, kỳ màu không sáng như cá lai.

    Năm giống cá vừa kể là cá thia-thia đá độ. Đặc biệt nhứt là cá xiêm của các ông hoàng chơi riêng trong hoàng cung. Người dân thường làm gì có được? Cái con tôi nói trong chuyện “thia-thia đại chiến thằn-lằn” vì cỡ lớn quá, không gặp độ nên cũng không biết tài hắn. Lại nữa, lão thủy thủ tặng cho Ba tôi, nói làm vậy, mà đủ tin chăng? Nước Xiêm, nước Cam-Bốt là hai nước tu theo đạo Phật, cấm sát sanh. Thế mà người Xiêm và người Cơ-me thích chơi cá hơn ai hết. Thậm chí, thầy sãi thấy đá cá cũng dừng chơn đứng xem! Có người phàn nàn: “Ông đã tu-hành, sao lại ưa xem sát-phạt? E trái với lòng từ-bi của phật-tử chăng?”

    Trả lời: “Việc tu-hành là khác. Đây là hai con cá nó đá lộn. Tự nó cắn nhau thì tôi coi! Tôi có xúi giục bao giờ mà tội với lỗi ???”.

    Ngoài các giống cá “võ-sĩ”, biết trống mái thư hùng, biết cắn xé giết hại nhau, tranh đấu giữa đồng loại làm trò chơi cho thế gian vui mắt, lại có thứ cá “văn-sĩ”, y mão lượt bượt, xúng xính trong những bộ áo “may trừ hao” nên rộng xùng xình thấy dễ tức cười, tôi muốn nói những cá nuôi trong bể cạn, trong bồn thuỷ-tinh để làm kiểng chưng chơi. Ấy là:

    a) Cá phướn (poisson de paradis) lội dựng đứng đầu trở lên trên, đuôi ở dưới, nên đặt cá bút chì là vì vậy.

    c) Cá giống chiếc là khô (Monochire)…

    e) Cá Taxotes Jaculatores, tức cá sọc dưa, mình giống cá chim, có sọc đen sọc trắng, trông rất đẹp. Người Tàu có tánh hiếu kỳ tuỳ theo màu sắc đặt tên khá ngộ: “Hắc thần-tiên”(hắc xành-xính), Mỹ-châu Bạch thần-tiên (Pạc xành-xính),v.v…

    g) Cá Barbus de Suatra, có hai dải dưới dài giáp đuôi.

    i) Cá Rasbora, sọc dưa sặt rằn theo chiều dài như pyjama màu xanh vàng.

    k) Cá Tétra Déon toàn đen.

    m) Cá Girardinus Guppy, mình xám, mắt và cạnh đuôi điểm đỏ.

    o) Cá mình trong ngần dòm thấu xương

    2) Giống cá vàng y như cá Ông Thọ, nhưng cá nầy có kỳ trên. Thường lội dưới nước tha thướt như công-tử hát bội du xuân! Kim-ngư mắt lồi như mắt cá thòi-lòi là quí nhứt, danh gọi “Đôn-nhãn”.

    3) Một thứ Kim-ngư khác, mắt lồi thêm lật ngửa dòm trời, vì đó tên đặt “long-nhãn ngưỡng thiên”.

    4) Cũng Kim-ngư, nhưng mắt như có bọc nước, lại gọi cá “thuỷ-bao-nhãn”.

    5) Kim-ngư tuyền đen là “hắc mẫu-đơn”.

    6) Cá tuyền trắng, lớn lên vảy chớp như bạc; còn kỳ đuôi cũng trắng phếu, thêm dài lê thê, trông đẹp như “bạch-tỵ công-tử” trong tuồng Tàu hay anh chàng văn-sĩ bạch y bạch mạo.

    7) Kim-ngư nửa vàng nửa trắng là cá dính-dướng.

    8) Kim-ngư nuôi lâu năm, đầu có mọc chóp mao, lúc lội vừa đớp nước vừa phun ra bọt tròn tròn, người Trung-Hoa đặt tên là “sư-tử hý cầu” để câu khách sộp, bán không dưới đôi ba trăm bạc. Đủ cặp giá còn mắc hơn nữa! Nhưng mua về, cá già mau mệt, và khó nuôi. Không vậy người bán cá dưỡng làm chi thứ “sử-tử hý cầu” mỗi lần ăn lăng-quăng còn hơn xe Huê-kỳ hoặc như voi uống nước!

    Trừ những thia-thia nuôi để đá, phải cho ăn lăng-quăng tẩy sạch chất dơ và đếm từ con một, – có độ lượng thì cá không hư sớm, ngoài ra nuôi Kim-ngư và những cá để chưng chơi thì có thể cho ăn thêm với lăng-quăng, chút ít rau cải, như rau muống tươi để nguyên lá, xà lách, ruột bánh mì, bột cho cá ăn, và lăng-quăng hóa-học, đỏ đỏ, bé ly-ty Hoạ sĩ Hoàng Xuân Lợi không biết hình dạng của cá thia thia nên đã vẽ chúng với cái đuôi dài thậm thượt như giống cá Xiêm đuôi dài nuôi làm cảnh phổ biến vào thời đó (mà ngày nay gọi là loại “đuôi voan” tức veiltail). Đuôi cá lia thia đồng ngắn và nhỏ như đuôi cá đá Xiêm.

    Theo tài liệu của người Thái Lan thì các trò đá cá, đá gà là các trò chơi dân dã ở nông thôn. Cá đá được nông dân Thái thuần dưỡng và tuyển chọn qua nhiều thế hệ vì vậy mà những con đá hay nhất thuộc về những nhà lai tạo. Không thấy đề cập đến việc chơi cá đá trong tầng lớp quí tộc ở Thái. Có lẽ người thủy thủ nói quá lên cho con cá thêm phần giá trị.

    Ban đầu, thể loại đá cá lia thia được người ta ưa chuộng bởi vì cá lia thia đá không bền, các trận đấu thường kết thúc rất chóng vánh vì vậy mà làm được nhiều “độ”. Sau người ta tìm cách lai cá lia thia với cá xiêm sao cho bề ngoài càng giống cá lia thia càng tốt (“lai biệt dạng”) nhưng lại đá bền như cá xiêm. Cá này mà đem đá với cá cá lia thia thực sự là nắm chắc phần thắng. Đây là trò lừa đảo tinh vi vì phải lai tạo, nuôi dưỡng và tuyển chọn cá một cách công phu. Một khi ai cũng biết trò này thì việc lai tạo có thể đi đến hai kết cục. Thứ nhất, ở Việt Nam ngày nay không ai đá độ thể loại này nữa (có lẽ vì việc “lai biệt dạng” quá công phu), họ chuyển sang đá cá xiêm để khỏi bị ai lừa. Thứ hai, mọi người chấp nhận đá cá lai một cách công khai như ở miền Đông Bắc Thái Lan ngày nay.

    Nghe nói có người còn luyện cho cá quen với nước muối rồi khi đá thì dụ cho người ta đá trong lọ của mình hay đổ nước từ lọ cá của mình vào lọ đá chung. Cá đối phương không quen với nước muối sẽ bị “xót mình”, mau bỏ chạy. Cách nữa là để đầu rắn độc thúi có giòi, rồi bắt giòi cho cá lia thia của mình ăn ít một cho quen lần. Cá ăn lâu ngày thì răng có ngấm chất độc nhưng nó không sao vì đã quen rồi. Đến khi đem đá mà cắn trúng cá của đối thủ một hồi là con kia giãy chết liền. Cách sau này tuy độc địa nhưng e rằng dễ bị phát hiện.

    Nannostomes là chi cá bút chì Nannostomus.

    Theo Dthong, Tel Matherina Ladigesi có lẽ là cách viết sai của loài Telmatherina ladigesi (tên chính thức hiện nay là Marosatherina ladigesi) còn gọi là cá cầu vồng Indonesia (Celebes rainbowfish), gọi vậy để phân biệt với cá cầu vồng châu Úc. Loài nầy thuộc về một họ cá rất lạ là Telmatherinidae. Ở đây, cụ Vương đã nhầm lẫn khi gọi chúng là macropode, bởi vì macropode chính là cá lia thia hay cá cờ như đã nói ở trên.

    Scalaire tức Pterophyllum scalare, cá ông tiên nước ngọt. Điều ngạc nhiên là cách viết sai (thừa một chữ “i”) cũng khá phổ biến trên mạng.

    Trichogaster là chi cá sặc, ở Việt Nam có ba loài là sặc bướm (Trichogaster trichpoterus), sặc rằn (Trichogaster pectoralis) và sặc điệp (Trichogaster microlepis). Nếu là cá nội địa thì có lẽ Vương tiên sinh đã nhận ra vì hồi nhỏ ông từng đi bắt cá ngoài đồng. Vậy theo chúng tôi, có thể ông đề cập đến các loài ngoại nhập như sặc trân châu (Trichogaster leeri), sặc mật (Trichogaster cheni) hay cá cẩm thạch (và một biến thể khác có màu vàng) vốn là loài cá sặc bướm thuần dưỡng.

    Danio rario là cá ngựa vằn, xuất xứ từ Ấn Độ.

    Mollinésie đoán chừng là Molly, là những loài thuộc chi Poecilia, tức cá bảy màu hay cá khổng tước. Một số cá thể có màu vàng-cam tươi và vây dựng lên như cánh buồm được gọi là khổng tước có diềm hay hoàng kim (sailfin molly). Nếu là loại màu đen tuyền như tác giả mô tả thì chính là cá hắc kim (để phân biệt với hồng kim). Các loài nầy thường bị lai tạp.

    Hemi Grammus có lẽ là cách viết sai của Hemigrammus cũng là một chi cá tetra mà thôi, không rõ Vương tiên sinh nói đến loài nào.

    Cá mà hình thù cá chim, vọc ngũ sắc, mặt vằn vện và rất đắt tiền (vào thời đó) thì có thể là… cá đĩa.

    Đoán chừng là con bo-bo (hay trứng nước, hồng trần cũng là nó).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Phân Biệt Dòng Cá Betta Halfmoon
  • Tượng Cá Xiêm Bằng Gỗ Hương Việt – T99
  • Bí Quyết Nuôi Cá Lia Thia Đá (Chọi Chiến, Xiêm Đá) Vô Địch – Kỳ 3
  • Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Ăn Gì Và Các Loại Thức Ăn Cho Cá Betta
  • Cá Betta Ăn Gì? Những Loại Thức Ăn Cho Cá Betta (Xiêm, Chọi, Lia Thia) Khoẻ Mạnh, Lên Màu Đẹp
  • Bí Quyết Nuôi Cá Lia Thia Đá (Chọi Chiến, Xiêm Đá) Vô Địch

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Nuôi Cá Đá (Cá Xiêm) Chọi Thiện Chiến
  • Betta Xiêm Thái Phụ Kiện Cho Hồ Cá Cảnh Giá Rẻ
  • Cách Phân Biệt Cá Betta Rồng Và Kỹ Thuật Nuôi Giúp Cá Mau Lớn
  • Cá Betta Rồng Giá Rẻ Bất Ngờ Quyến Rũ Dân Chơi
  • Betta Rồng Và Tiêu Chuẩn ( Dragon Betta )
  • KỲ 3: NUÔI CÁ ĐÁ ĐỘ

    1. Tách bầy

    Cá đá độ phải nuôi trong ổ tới 7-8 tháng tuổi mới tách bầy, phải nuôi ở trại (hay khu vực nhỏ) có mái che bằng lá, đủ ánh sáng thiên nhiên, bố trí hũ trong một góc riêng cho từng ổ cá, đồng thời có khu vực riêng cho cá ra đấu trường. Có thể sắp chồng lên nhiều tầng, nhưng phải đánh dấu mỗi ô để không bị lộn… Ngoài ra, phải có góc riêng nuôi cá ăn độ để chuẩn bị làm trống ép với mái gốc sau này.

    Tất nhiên, phải có 2 dàn kệ sắp keo cá. Mỗi kệ đóng 3-4 tầng, bố trí nơi có ánh sáng gần nhà ở để tiện việc theo dõi, chăm sóc thường xuyên.

    2. Lên keo, xuống hũ

    Nuôi cá độ thì nước là khâu quan trọng. Vì vậy, ở trại tách riêng lúc nào cũng phải có một lu nước máy pha muối loãng có nắp đậy và để lắng từ 3 ngày trở lên. Không nên dùng nước mưa vì nước mưa có thể làm cá bị sâu kỳ vây. Cá tách bầy vốn đá bị rách kỳ vây nên dễ bị nhiễm trùng. Sau đó, tùy theo con cá nào bị rách kỳ vây ít, ta để vào hàng hũ trên, rách kỳ vây nhiều ta để ở hàng hũ dưới. Trung bình cá mới nuôi riêng để nằm hũ 7 ngày, cá lành vớt lên cho đứng chai trước, mỗi chu kỳ nuôi cá độ phải đứng chai 3 ngày, xuống hũ 3 ngày, 3 lần liên tiếp (tất cả là 18 ngày). Suốt thời gian này, thường xuyên giở bìa chặn cho tất cả dãy cá trên keo phùng mang cự lộn cho hăng khoảng 5-10 phút gọi là đá bóng. Lưu ý nếu giở bìa ngăn keo đá ra mà cá quá hăng cắn vào keo thì phải chặn bìa lại ngay. Khi cá đá độ đã nuôi đủ 3 kỳ chai, hũ mà ra trường chưa “đụng” thì về nhà cho nằm hũ 2 ngày, 1 ngày đứng chai để cá không bị cũ. Cho ăn ngày 1 bữa, mỗi lần 15-20 con lăng quăng. Số lượng này là căn bản cố định dù khi đứng chai hay xuống hũ. Quan tâm nhất là đến ngày ra trường, ban đêm phải dùng đèn coi cá có lội nhởn nhơ hay không. Nếu con nào nằm mặt nước thì lập tức phải để riêng. Ban ngày kiểm tra lại coi hiện tượng bị bệnh, nhất là kiểm tra lại miệng cá. Buổi sáng chuẩn bị ra trường chỉ nên cho ăn ít lăng quăng thôi, tránh tình trạng đá độ bị cắn vào bụng sẽ mau suy.

    3. Cáp cá

    Đây là khâu quan trọng, vì nếu cầm con cá hay mà cáp không kỹ để cá đối phương lớn hơn một chút thì cũng thiệt thòi. Người nuôi cá kỹ thì thân hình con cá mảnh dẻ, luôn cáp độ nhỉnh hơn cá nuôi còn hơi mập, vì hình dáng khi cáp chỉ coi từ trên xuống, nên cá nuôi kỹ hình dáng thẳng nhỏ hơn, nhưng khi thả vô keo cá kỳ vây giương ra lớn hơn. Vì vậy, khi cáp cá nên dựa vào tiêu chuẩn ở cạnh mang là chính xác.

    NUÔI TRỐNG GIỐNG

    Muốn tuyển cá trống giống, người nuôi cá đá hầu như có mặt thường xuyên ở tụ điểm đá cá, dù có cá nhà ra trường họ không trực tiếp cầm cá cáp độ mà trước đó giao cho một số người thân tín cầm vài con cá hay đi đá ở các trường. Họ chỉ đứng ngoài quan sát các độ cá xem con nào hay, thắng độ bằng thế cắn nào. Dù cá nhà có thắng hay thua cũng biết nguyên nhân để tìm mua giống từ các ổ khác. Có khi còn nài mua nhiều cá trống ăn độ xuất sắc ở trường, về nhà ghi xuât xứ, đòn thế cắn, dưỡng thương, chăm sóc đến lành lặn trở lại phong độ cao nhất, ghép với cá mái gốc ở nhà để sản sinh đàn cá con sau này hay hơn, xuất sắc hơn. Phải nghiên cứu kỹ để nâng giá trị đàn cá nhà bằng cách ép pha đòn.

    ÉP PHA ĐÒN

    Để ép pha đòn với cá mái gốc của mình, như phần đầu viết về các thế cắn của cá, nuôi quy mô lớn lúc nào cũng có sẵn 3 loại mái cắn kỳ quyết một chỗ: cắn thượng (mắt, mép), cắn trung (cổ, bụng, vây bơi), cắn hạ (đuôi, cạnh đuôi). Còn cá trống nhà chỉ để lại một phần ít cá thắng độ xuất sắc làm trống giống, đem ép với cá mái gốc để giữ truyền thống, nhưng cá nhà phải ép khác hệ, khác ổ vì sợ đồng huyết, đồng tông dù rằng cá thắng độ đó chỉ là hệ cháu chắt của mái gốc.

    Có nhiều mùa cá gặp khi “cơn sốt” trống, do đó, người nuôi cá phải mất bao công sức tìm trống hay của các chủ nuôi khác, thậm chí có điều kiện phải mua trống giống từ nước ngoài với giá gấp 5-10 lần cá trong nước để tạo thành các ổ cá vang danh.

    ÉP CÁ ĐÁ

    Nếu đơn thuần ép cá đá không định hướng thì ép rất dễ, ai cũng có thể ép được: vài cái lu, vài cái khạp lại không khó khăn như ép cá thịt, cá cảnh đòi hỏi ép nhân tạo, nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Nhưng muốn ép một bầy cá đạt đẳng cấp cao, nhiều cá con thì trong nhà phải có bầy mái gốc và kỹ thuật nuôi trống mái cho sung, kích dục tối đa. Ta phải kè trống mái đúng 2 kỳ lên keo, xuống hũ. Sau đó cho cá trống vào hồ đã dọn sẵn. Ổ cá rất đơn giản, chỉ để một nhánh tre nhỏ hoặc nan tre xé miếng lá chuối cỡ 15 phân gác lên cây ngang cách mặt nước 2-3 phân, hoặc một vài tép bèo, lục bình để cá trống đóng bọt. Thả cá trống vào ổ trước, sau đó bỏ cá mái trong keo để vào giữa hồ cho cá trống vờn cá mái và chui vào ổ đóng bọt. Lưu ý nước trong hồ chỉ cao 3 tấc để cá cha hớp trứng phun vô bọt dễ dàng khi 2 con ép nhau và trứng từ cá mái rớt ra. Nên thả cá mái vào với cá trống buổi chiều từ lúc 4-5 giờ để 2 con rượt đuổi nhau khoảng vài giờ thì trời tối. Điều này tránh trường hợp cá trống quá sung cắn cá mái bị thương. Sáng hôm sau thì cá trống ép cá mái đẻ trứng. Độ khoảng 1-2 giờ sau thấy cá trống rượt cá mái chạy thì nhẹ nhàng lấy vợt vớt cá mái ra nuôi tiếp một tháng sau ép bầy em. Thường thì chỉ ép cá mái 2 lần là đủ, đừng ép lứa thứ ba trở đi. Cá mái ép 2 lứa xong thì phế thải, lứa thứ 2 là có thể ép đổi trống này với mái khác trong cùng đợt ép sau, nhưng nhớ ghi sổ tay để sau này đánh giá trống mái nào đẻ con hay hơn, hoặc khỏi lộn hệ, tránh trùng huyết sau này.

    Lưu ý: Ép cá đồng loạt càng nhiều ổ cá càng tốt. Như vậy ta có nhiều loại cá đồng tuổi để phân loại.

    Hằng năm, từ tháng Mười đến tháng Chạp là mùa lập đông không nên ép cá, vì nước quá lạnh, cá con chết hết. Như vậy ta vẫn nuôi cá trưởng thành để thi đấu dịp Tết kéo dài quanh năm.

    Ảnh scan bản gốc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tuyển Chọn Cá Xiêm Đá, Betta Chọi
  • Chia Sẻ Cách Nuôi Cá Xiêm Đá Chọi Hay
  • Các Loại Cá Phượng Hoàng Đẹp Và Cách Nuôi
  • Tìm Hiểu Hơn 50 Loại Cá Có Thể Nuôi Chung Với Cá Betta
  • Kinh Nghiệm Chọn Những Nơi Bán Cá Xiêm Đá Uy Tín Tại Tphcm
  • Thú Chơi Cá Lia Thia

    --- Bài mới hơn ---

  • Cá Betta Là Cá Gì? Cách Nuôi Và Chăm Sóc Cá Betta Khỏe Mạnh, Lớn Nhanh
  • Làm Sao Để Chăm Sóc Bể Cá Lúc Về Quê Ăn Tết?
  • Top 4 Địa Chỉ Bán Cá Cảnh Đẹp Và Uy Tín Nhất Đà Nẵng
  • Kỹ Thuật Ép Cá Betta Để Đạt Được Số Lượng Cao
  • Vé Máy Bay Giá Rẻ Từ () Đi Xiêm Riệp (Rep)
  • Thia-thia đá bóng trong keo,

    Ham vui trước mặt, quên nghèo sau lưng.

    Ao sâu cá lội khoe màu,

    Đố ai biết mỗ: bã trầu, thia-thia?

    V.H.S

    Thua thì thua mẹ thua cha,

    Cá sinh một lứa, ai mà thua ai!

    (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, Huỳnh Tịnh Của)

    CÁ THIA-THIA. Chuyện địa phương, chỗ nhau rún nói ra họa may không ai nói gì, chớ tôi rất sợ các ông làm tàn, giỏi nghề ngồi không moi móc.

    Đá cá thia-thia vừa là một thú vui của trẻ thơ, mà cũng vừa của người lớn, những ai có máu me cờ bạc:

    – Bạn nhỏ đá cá chơi, không ăn tiền, cũng không có tiền mà ăn, – cốt tranh nhau giữa nhóm “hỷ mũi chưa sạch”: con cá mày dở vì hớt tại đồng “mấy thằng đánh giặc thua”, không như con cá tao hay lắm, vì gốc nó ở trên Hòa-Hưng, còn phảng phất vong hồn “tụi đánh giặc chống Tây” đời trước!

    – Bọn già thì bất chấp điển tích, họ nghĩ rẻ rề: lấy đó làm nghề sanh nhai, “chạy gạo”, kiếm tiền nhậu nhẹt, hút xách, chơi bời… Đối với họ, mùa hạn, thì chơi gà. Mùa ướt, gà đổ lông, thì day qua đá cá: có thế thôi. Chừng nào cá cũ, thì bắt qua mùa gà. Trái đất cứ xây, người dân Việt quê, chỉ biết gà gà, cá cá…

    Hồi còn mài đũng quần trường tỉnh xứ Sốc-trăng yêu nhớ, một trang một lứa nay còn sống sót ở đất Sài-gòn, đếm số còn thua số răng trên hai hàm lão già bảy chục, (không kể răng do các bác-sĩ nha-y trồng, nhìn không ra), lúc thiếu thời ấy, chúng tôi không gì thích bằng ngày lễ nghỉ xả hơi hay ngày chúa nhựt, sau khi bày vở đâu êm vào đó:

    Rồ-lem (problème) làm rồi, con-bò-té-sông-răng-ke (composition française) vừa làm rồi; chia quẹt-bờ (verbe): rồi mà chưa, để sáng coi lại còn dư chán: anh-đi-xúc-tép-về-rang (indicatif présent) chưa mà rồi, vì dễ ợt, mai sáng chép vô tập còn kịp; bài học thuộc lòng, cũng nhớ làu làu, ngặt nỗi đọc lên như kéc mẹ chớ nhiều câu không hiểu nghĩa, nhưng dám chắc trong lớp cũng bí-lù như mình, tóm lại “đâu êm vào đó”, chừng ấy chúng tôi bèn rủ nhau, mỗi đứa cụ bị một rổ con hay một mủng trẹt, kèm thêm một chai nhỏ, thứ chai dầu thơm “Cô Ba” của mẹ hay chị đựng dầu dừa hay giấm chua, sẽ lén lấy, mượn đỡ hay ăn cắp cũng vậy, đem súc sạch và chứa sẵn nửa phần nước trong, đồ nghề đại khái rổ và chai cặp nách sẵn sàng thì hè nhau kéo ra đồng ruộng chia tay hớt cá.

    Không phải bất cứ đồng nào cũng có cá hay.

    Phải rành đôi chút mới chắc ăn kiểu “ba bó một giạ”.

    Chung quanh thành phố Sốc-trăng, năm ấy (lối 1914 – 1915) tôi biết có:

    1) Đồng Lọ-Nghẹ, ở phía sau trại lính Ma-tà. Gần đám ruộng nầy có nhà thợ rèn ở nhiều, than bụi tro lò đổ xuống nước ruộng, lâu ngày nước đen ngòm: thia-thia đồng nầy có màu đen đúa chắc da chắc thịt như con cháu tướng Uất-Trì đời Đường, vảy da như trui, thoét trong lò nấu đồng thổi sắt, nên đinh ninh cá đồng nầy “mình đồng gan sắt”, răng cứng như thép khóa chắc trong hàm như trong họng kềm: cá đồng nầy không chạy mặt cá đồng nào! Thảm nỗi, đồng ở gần trại lính Ma-tà, mà con cháu Ma-tà dữ quá, hễ chúng nó gặp bọn tôi lén hớt cá đồng Lọ-Nghẹ thì bọn nó đánh chúng tôi chạy bò lê bò càng, không biết đường về.

    2) Đồng hàng tràm, gọi cá chùa Phật, vì nơi đây có chùa thờ đức Di-Đà. Nhờ lá tràm tích-đọng lâu năm, nhuộm nước đỏ au, – lá tràm vả chăng là vị thuốc đón gió ngừa phong, – nên cá vùng nầy mình như tẩm thuốc, bắt được con nào bỏ vô chai, ít giờ sau quen nước quen cái, cá phùng mang sậm màu, vảy xanh ửng hồng, đuôi đỏ chớp sao, chăm bẳm như các tổ-sư Bồ-Đề, hay nói cách khác, như thầy bùa, thầy ngải giỏi nghề “gồng chém không đứt” hay có học “xầng-tả”, xìn tả (thần đả). Năm xưa, nơi đây tôi hớt được một con “cá nái”, lớn bằng ngón tay út, lưu lại nhiều năm quá nên quá cỡ, không cáp độ gặp cá nào bằng nó, tôi để đá bóng chơi và đặt chiến danh là “Ngũ-Lang hòa-thượng”! để nhớ thành tích ông tướng “thầy chùa” trong tuồng “Mộc Quế-Anh dâng cây”. Con cá nái nầy, khi tôi hớt được, bỏ vào chai không lọt, phải gởi qua chai khác, đủ biết nó lớn con đến bực nào!

    3) Một đồng khác là đồng Lình-kía (Long-tử cang), ở phía chùa Phật sau nhà máy Quách Xên. Tuy mang danh đẹp là “cá xóm Rồng con”, nhưng thia-thia đồng nầy không anh hùng chút nào, vì ở xóm chệc rẫy, bủng dứ vì quen tiêu thụ những đồ thừa của bọn nầy gởi trong đám ruộng bên nhà.

    4) Một đồng khác nữa, rất xa xăm đối với cặp giò trẻ thơ của chúng tôi buổi đó, là đồng Bắc-Tà-Ky (tên thổ). Đây là ruộng phụ ấm của ông cậu họ Trần, nguyên con quan Đàng Cựu, xưa kia ngồi trấn xứ Ba-Thắc (srock Passac, tức Sốc-trăng). Cá vùng nầy nổi danh một thuở, bền gan không đâu có nhưng ít ai kiếm được lắm. Chủ ruộng là nhà đá cá lớn, dạy tá-điền canh chừng nghiêm mật, không ai hớt lén được. Đặc sắc trong vùng có thứ cá-kỳ-son, tức kỳ trên lưng có chấm một điển son, đây là giống cá xiêm lai biệt dạng của chủ ruộng đúc nắn lâu đời: cắn quạu, bền gan bực nhứt. Ông Trần, ông cậu của tôi, xưa có một con, ăn trọn mùa, không chạy độ nào, danh còn nhắc: “cá Triệu-Tử”.

    5) Tệ nhứt là cá đồng Thầy Tám, trên đường đi Cần-thơ. Thầy Tám nguyên là pháp-sư, chuyên chữa bịnh bằng phù-chú. Thây ma chết chôn sau am, cá sanh vùng nầy lẹt đẹt không khác những con bịnh đau ma do thầy Tám chữa chạy: chưa đá chưa cắn ai một miếng nào, đã xếp đuôi xếp giáp, chạy cuốn cờ! Nguyên sở ruộng Thầy Tám là cuộc đất gò, nước cạn. Thảo nào cá thiếu nước không nơi dụng võ, ngắn hơi và nhát gan là lẽ cố nhiên. Tôi nói nước ít nên cá nhát gan, vì kinh nghiệm dạy rằng con cá ở nước sâu quen nín hơi, lâu lâu mới lên đớp bóng một lần, nhờ đó mà chịu đựng hay, bền hơn cá ở nước cạn.

    6) Đồng lác, đồng cỏ năn, ở phía sau nhà thương tỉnh, dọc theo đường đi xuống Bang-Long (tục gọi quận Giếng Nước). Cá vùng nầy dở hơi, vì sanh trưởng trong lác, trong năn, trong cỏ, nên không có chi đặc sắc (thuở ấy chưa có anh hùng Rừng Sác, nước mặn). Tuy vậy đừng quen chê sớm mà lầm to có ngày, vì may thời Tổ đãi, hớt được cá kinh niên, thứ cá trốn ẩn lâu năm gần nhà xác, hình như còn oan hồn uổng tử vấn vương, hoặc nữa hớt được những cá lẻ loi sống chung lộn nhiều năm trong bộng trong hang rắn dữ, ngày ngày từng hớp nước có nọc con ác-xà phun ra, cá quen hơi rắn nên không hầy hấng, chực khi đụng độ với cá lạ đồng, thì khác nào con xà-niên ngậm ngải đối chọi với phàm phu, có thể nói bách chiến bách thắng. Tôi đã nói phải là có Tổ đãi mới bắt được thứ cá dữ nầy. Khoan vội tin lời tôi, ham thọc tay vào hang rắn, có ngày bỏ mạng!

    Về việc nầy, tôi đã từng ngộ trận, một phen tởn tới già, nay nhắc lại nghe chơi mà còn rởn tóc gáy: Bữa ấy, trời mưa rỉ rả, tại đồng Hàng Tràm, mặt trời vừa xế bóng, tôi đặt rổ xuống nước, vừa lấy chơn giậm giậm xung quanh rổ rồi rút rổ lên, nghe như được một vật gì nặng nặng. Rổ lên vừa khỏi mặt nước. Mẹ cha ôi! Một con rắn hổ lên nước đen mun, nằm khoanh tròn chật rổ. Khỏi nói, tôi vừa thấy rắn, ba hồn bảy vía lên mây, lẹ như chớp, tôi quăng rổ té bật ngửa ra sau, không kể áo quần ướt vấy, mặt cắt không còn chút máu. Úy hà! Chút xíu nữa, không còn sống mà viết bài nầy! Quên nói, rắn ta cũng hoảng hồn hoảng vía (nếu thật rắn cũng có hồn), rắn đánh cái “tỏm”, buông mình xuống nước, phăn phăn lủi bụi trốn theo đường, rắn cút mất tự thuở nào!

    Các anh em bạn theo tôi bữa đó đều chạy té đùn cục trong ruộng sình, báo hại thia-thia huyền bí đâu chẳng thấy, duy thấy một phen vỡ mật hú hồn.

    Một lần khác cũng tại đồng Hàng Tràm nầy, tôi lại bị trâu dữ rượt, chạy bò càng, ve thúng quăng mất, may sao còn giữ được hồn. Con trâu nầy tôi nhớ rõ, sừng của nó, không biết vì sao không dựng quớt lên mà vẫn nằm lòng thòng hai bên đầu, có lẽ nếu nó húc cũng không hại gì lắm, nhưng nói giỏi, sao hồi đó không ở lại mà thử sức với nó! Tởn đi một dạo rồi chứng nào tật nấy, tôi cũng mon men ra đồng xúc cá, vì thuở ấy, thú thật, chúng tôi tiền bạc đến một đồng một chữ cũng chẳng có dính lưng, cho nên chỉ biết những thú vui không tốn tiền; mà theo tôi còn vui nào bằng ngày chúa nhựt đi hớt cá thia-thia, để được nhăm nhi củ kiệu chua nhai nghe giòn rụm, bây giờ nhắc lại còn chảy nước miếng!

    Độ xưa, một nhà chơi cá ở chợ Sốc-trăng, có một con cá kỳ quặc, ông ta lượm nó ngoài đồng, ở sẵn trong một bình vôi sành mẻ miệng, bỏ gần bên gò mả loạn. Ông rinh luôn như vậy đem về nuôi, để y con cá ấy trong bình vôi của nó quen ở, trừ khi nào xách ra trường cáp độ, khi ấy ông mới vớt nó ra đọi ra thố đường hoàng. Con cá nầy có thể nói là lạ lắm, vì thắng không biết bao nhiêu độ, về sau không ai dám đem cá đối thủ với bất cứ cá nào của chủ nó, báo hại ông ta vì một con cá linh, thắng độ hoài, mà chủ không tiền hút! Tôi sau nầy, vì đi học trường lớn, cũng mất tích con cá ở bình vôi gò mả hoang nầy.

    XÚC, BẮT, HỚT CÁ THIA-THIA

    Muốn có được cá để chơi, phải có chút ít kinh nghiệm. Kinh nghiệm nầy không có trường nào chuyên môn dạy. Thuở đó, dẫu là con ông Thông đứng bàn ông Chánh, hay con Thầy ký Kho bạc, muốn có cá chơi, phải lén cha lén mẹ, phải lo lót xin thọ giáo với các tay rành nghề, mà không ai khác hơn là bọn bộ hạ dưới tay cha mẹ chúng, bọn trẻ chăn trâu giữ bò, cắt cỏ ngựa, mục-đồng, bọn ở đợ. Dạy không lấy tiền công tiền Tổ, cao thượng vậy thay. Duy phải chiều lòn, dẹp bỏ bộ tịch “cậu”, dày công tâng hót thì họ mới truyền nghề. Một trang một lứa với tôi năm đó có con ông Huyện Kim, con Thầy Thông Tây, toàn là tay “công-tử”, con các người có máu mặt đương thời. Trối kệ, phải xuống nước nhỏ, dẹp chức “Ấm” vào ngăn kéo, tôn họ làm “Sư”, làm “Mồ Tổ”, họ mới đoái hoài. Quên nữa, và phải trốn học, theo họ ra ngoài đồng ruộng, đổi với họ một khúc bánh mì thì họ cho leo lưng bò cỡi thử một chặp, hoặc dâng cho họ “đồng xu mẹ cho để dành ăn bánh”, thì họ cho phép lội xuống ruộng sình, bước lỏm bỏm theo họ mà hớt cá thia-thia hay là bắt ốc! Trốn trường cũng vì muốn biết cỡi bò, bỏ lớp, hoang phế việc học hành, cũng vì ba con cá xanh-xanh đỏ-đỏ! Thầy dạy chúng tôi hớt cá là anh Tỷ-Bò. Anh chăn bò, “giữ bò” từ lên sáu. Cứ mỗi sáng, cho ăn ba miếng cơm nguội no nê, chú đày tớ già bồng Tỷ đặt trên lưng bò, đèo thêm chai nước mưa, và mo cơm vắt…. Ra đồng, trọn ngày hết ngồi đến nằm, Tỷ ở trên lưng thú, nắng mưa phú có cao xanh thương xót, một cái nón rách, một chiếc áo tơi, – con nhà nghèo có ông Trời nuôi, – Tỷ mạnh lành, da đỏ sậm có cần gì hứng gió Long-Hải, tắm nắng Vũng-Tàu? Chiều lùa bò về, chú tớ già ẵm Tỷ xuống cho Tỷ xã hơi, cơm nước, ngủ nghê, ngày ngày y một kiểu như thế cho đến tuổi Tỷ lên xuống lưng bò mình ên được. Mà cái tuổi ấy không xa, mới ngộ chưa, vì cỡi bò được ít lâu, Tỷ đã dạy được con bò cầm bầy tên là “Cành-Tết”, biết nằm xuống, mỗi khi Tỷ cần dùng không muốn ở mãi trên lưng nó: bò nằm rồi, Tỷ bắn lùi như tôm, đít đi trước, chân đụng đất bình yên vô sự, nào cần ai bồng ẵm? Khi lên, Tỷ dạy “Cành-Tết” nằm nữa, Tỷ trèo, – có khó hơn khi xuống một tý, – trèo như kiểu thằn-lằn ôm cột đình, nhưng rồi cũng trèo lên lưng bò được, chớ không sao! Tỷ giấu nhẹm chú tớ già việc nầy, để hưởng tận cảnh: “cực thì có cực, nhưng khổ thì không khổ”. Ai ở đợ ra sao không biết chớ Tỷ không bao giờ bị chủ rầy la, một bầu trời nước bao la, mặc sức nghêu ngao hò hát! Sạm da vì nắng, săn thịt vì mưa, không hề sổ mũi gió máy bậy bạ, không bao giờ biết nhức đầu là gì, lên mười tuổi, Tỷ vỗ ngực xưng “Chúa tể Đồng Trường Đua”, “ngô chánh thị Tỷ-Bò thị giả!!!”

    Không chuyện gì xảy ra ngoài đồng ruộng mà Tỷ-Bò không thạo: gò nào có rùa vàng, rùa nấp ở; hễ thấy dấu cỏ dấu đất ra làm sao là Tỷ biết có con vật ẩn núp dưới bụi đế hay gốc lức, v.v… Vì vậy mà Tỷ-Bò mỗi ngày mỗi lục lạo, lục còn hơn học trò lớp nhứt khuấy rầy quyển tự-vị lúc dịch “version” Tây! Con rắn làm hang như thế nào, và con rắn ấy là loại rắn gì, Tỷ-Bò biết đủ. Tỷ-Bò quả quyết thuốc “không xa”, và thường thường có giống cỏ nào mọc gần miệng hang, thì cỏ ấy là món thuốc thần trừ nọc con độc-xà kia vậy. Tỷ-Bò cam đoan đêm nào trăng sáng là rắn ra trững mỡ, “giỡn trăng”, chầy ngày lăn lộn trững đùa trên đám cỏ, sao sao cũng chảy dãi, nhểu nước miếng thấm cọng cây lá cỏ, tẩm già chất độc, chất nầy nhờ gội sương chan nắng nhiều ngày mà dịu lần, biến nên môn “thuốc ngừa” (kiểu nầy y như kiểu thuốc ngừa do viện Pasteur bào chế!). Tỷ-Bò dốt mà sao nghiệm được việc nầy, lạ thật! Mai sau người nào nếu bị rắn cắn, cứ nhớ tìm hang nó và bứt một mớ cỏ mọc nơi miệng hang, lớp đem về nấu nước uống, lớp nhai cấp kỳ nuốt nước và lấy xác đắp lên chỗ bị cắn, là có cơ thoát khỏi nạn nghèo! (Tỷ-Bò chúc ngôn).

    Nghe làm vậy thì hay làm vậy, chớ tôi chưa dám truyền-bá, đem phương nầy bày vẽ cho ai thí nghiệm bao giờ. Nay viết ra đây cũng không bảo-kê hiệu quả. Tóm lại, chồn đèn, chuột đồng, kỳ-đà, rắn mối, rùa vàng, cá bộng, các con sinh vật ở ruộng, nhứt cử nhứt động là Tỷ-Bò hay biết từ đường đi nước bước. Sau nầy, mặc dầu tôi đỗ bằng Trung-học, “lên mặt” trở về làng, nhưng đối với môn vạn-vật-học và môn địa-dư tỉnh nhà, tôi vẫn như thuở còn bé thơ, thua anh Tỷ-Bò xa lắc! Miền Nam, từ cửa “Vàm Tấn” (Đại-Ngãi) cho đến sông Ông Đốc (Cà-Mau), không một khúc quanh nào mà Tỷ-Bò không biết tên, không một xẻo-co nào mà Tỷ-Bò chưa từng đặt chơn đến đó. Giờ nào nước lớn, nước ròng, nước đứng, Tỷ-Bò thuộc nằm lòng. (Nhờ vậy mà muốn đi đây đi đó, Tỷ-Bò không cần chèo chống. Một lá buồm rách, một cơn gió thuận, một chuyến nước xuôi, Tỷ-Bò thả ghe vô ruộng. Công việc xong xả, Tỷ-Bò chờ con nước, thả ghe về nhà, không tốn công chèo, còn hay hơn đời nay, sắm máy thế chèo mà có khi máy trục trặc, đã tốn tiền thêm mất công linh chờ đợi). (Không nói đến cái nạn mọi việc đều máy móc thay thế, sau nầy tầm vóc, bắp thịt đàn bà Việt sẽ kém thua bây giờ vì còn thể-thao chèo bơi gì nữa đâu?) Nói quá xa đề, nhắc lại đối với Tỷ-Bò, tuy vô học, nhưng con thú nào kêu la làm sao…, chỗ nào đào xuống là bắt được rắn hổ, chỗ nào đốt cỏ già hơi là có rùa mập bò ra, v.v…, tắt lại, địa-lý, địa-dư vùng đồng Ba-Thắc (Sốc-trăng), Tỷ-Bò xem rẻ như thò tay vào túi lấy đồ.

    Hôm nào chúng tôi được theo sau lưng Tỷ-Bò ra đồng, thì hả hê bữa ấy: không cháo rùa cũng rắn xào, lươn um, hoặc cá lóc mập ú bó đất sét nướng trui vào lửa rơm, ăn nội cái “filet” chấm muối hột, “nóng hổi, vừa thổi vừa ăn”, đến nay còn thèm. Chúng tôi hùn tiền sắm gần đủ nồi ơ, chảo, đũa, gởi kỹ miễu “Ông Tà”, đũa rất ít dùng; vì chúng tôi kinh nghiệm ăn “bốc tay” sướng và ngon nhất! Chúng tôi không mê Tỷ-Bò không được! Tỷ-Bò rất khác tôi. Tôi thì, học toi cơm, học thuộc tên tổng tên làng làu như cháo lỏng, đọc như kéc mẹ, tên thảo mộc, tên chất khoáng hay ngũ kim, tôi kể giòn hơn lặt rau rang bắp, thế mà nếu ai hỏi vặn: làng ấy ở đâu, chất ấy biến thể ra gì, tôi sẽ ú ớ như đứa câm ăn ớt: học mà không hành, tôi kém Tỷ-Bò hằng mấy dặm! Biết mà thiếu kinh nghiệm, ra trường đời, tôi chỉ là thằng hủ nho Tây đại chi vô dụng!!!

    Anh Tỷ-Bò dạy tôi phương pháp hớt cá lia thia.

    Anh dặn: “Khi để chơn xuống ruộng sâu, thì phải nhớ không còn là con cưng của cha mẹ tại nhà nữa. Muốn nhỏng nhẻo thì ở nhà. Đến đây, phải biết hòa mình cùng Trời Đất: tập bước cho khéo chân, cá không giựt mình, mới có mà bắt. Lựa gốc rạ, dốc lức mục, giẵm cẳng lên đó thì khỏi sợ sa lầy khỏi uống nước bùn. Dẫu đỉa trâu lớn bằng ngón cái nó đeo bắp vế non, và dẫu đỉa hẹ đỉa mén mỏng như lá lúa bò lúc nhúc, lòng thòng trên bắp chuối, thì trối kệ nó! Dẫu vắt rừng cắn, máu ra ướt đỏ chân, háng, thì cắn răng để vậy! Tập chịu, thét rồi quen! Đó là thường sự! Muốn làm dân ruộng thì phải tập cho quen lần: tập cắn răng nín khóc, đau thế mấy cũng không được la! Rên la không ích gì, và chỉ làm bối rối người lớn, thêm làm cho cá tôm hoảng chui trốn mất, mà lỡ cơ hội tốt. Tập lâu ngày thì hết sợ; rồi thét đi sẽ dạn lần, sẽ thấy vui thú. Cần nhất là miễn sao đừng để đỉa con, vắt mén chui vào hậu môn, vào lỗ chỗ nhược, thì thầy chợ cũng khoanh tay mà Tỷ-Bò cũng vô phương tiếp cứu! Học bao nhiêu đó trước đã, rồi Tỷ sẽ dạy thêm”. Tôi nhớ lại hồi nhỏ, nhỏng nhẻo với mẹ có tiếng, mẹ vừa lấy cán chổi lông gà phủi sơ sơ ngoài quần, chưa chi đã la còn hơn bị ong bầu đút đít! Bây giờ mãi mê ba con cá thia-thia xanh-xanh đỏ-đỏ, anh Tỷ-Bò “phán” ra câu nào là dạ răng rắc, xem còn hơn câu kinh nhật tụng, tuân theo răm rắp, không dám cãi nửa lời! (Nay mẹ đã mất, cha cũng đã mất, con nhớ lại ăn năn không nghe cha mẹ bằng nghe Tỷ-Bò).

    Tỷ-Bò dạy tôi phải cho có gan, thì tôi làm gan! Tỷ-Bò dạy tôi bậm môi thì tôi cắn môi đến giập máu! Anh dạy tôi túm, vo ống quần cho sát bẹn sát háng, tôi làm coi cũng gọn bâng; bây giờ tôi viết bài nầy, nhớ lại việc cách trên năm mươi năm, tôi mới hiểu và thương mẹ tôi, mỗi lần lấy áo quần ra giặt, đăm-đăm muốn biết sao “đứa con ăn cá, mẹ lừa xương” y-phục lại bèo-nhèo đến thế! (Mẹ! Mẹ ôi! giá-thử con cũng nghe huấn-từ của cha mẹ bằng như con đã nghe lời anh Tỷ-Bò!)

    Tâm trí của tôi lúc đi hớt cá, không lo đỉa chun hậu môn, – thú thật tuổi ấy tôi cũng chưa biết đó là một tai nạn lớn và sẽ làm khổ cho cha mẹ đến bực nào, – tâm trí tôi mảng lo và chăm chú ngó theo bờ mẫu, ngó dài mặt nước bọc theo lức, đế, ô-rô, rau dừa. Chỗ nào có bọt nổi trắng-trắng hay vàng-vàng (trắng khi nào ruộng toàn nước mưa, vàng khi nào nước có lộn chất phèn chất sắt do dưới đất hoà lên, hay có lá mục…): bọt ấy là bọt cá thia-thia, rõ đích-thị hắn đây rồi! Con mắt thông thạo của Tỷ-Bò, dòm thoáng qua là biết ngay, không do dự môt giây một khắc! Đối với tôi thì cóc cần, bọt gì cũng mặc! Khi ấy hãy đưa rổ vào cho lẹ, vừa đẩy rổ tới trước vừa thọc sâu xuống và cũng vừa hứng lần lên, ba việc: đưa đẩy, thọc sâu, hứng lên, phải làm nhanh lẹ vén khéo, cùng khi ấy hai chơn lại phải giậm-giậm thật đều, thật kỹ giáp vòng chỗ mình đang đứng, cốt làm sao cho con cá, dẫu muốn thoát thân ra bụi bậm thì cũng vì “địa-võng” của mình bố trí quá khít khao, và nhờ sự “tấn công ba mặt” của mình quá chặt chẽ, đành vô phương thối bộ và đành rút lui về bọt, mặc tình bắt tha! Mỗi lần nâng rổ lên, nếu khéo tay và thông thạo thì gặp bọt chín mười lần, làm sao cũng phải hớt được vài ba con cá.

    Cá giãy lách chách trong lòng rổ mà lòng mình cũng rung lên thình thịch, còn sung sướng hơn đánh bài tứ-sắc “tới quan”! Nhưng cũng khoan vội mừng sớm và hãy đợi cho cá lọt vào chai đem theo, xem đi xem lại kỹ càng rồi sẽ mừng không vội. Nếu hắn là con cá trống thì mặc sức mừng vui! Bất ngờ hớt trúng con cá thia-thia mái, thì nên phóng sanh phứt cho rảnh nợ đời, hoặc giả bắt được thứ cá sọc dưa, cá bã-trầu thì mừng hụt một phen và cũng nên mở nút chai trút ngược cá xuống ruộng mà làm doan làm phước cho nó nhờ! Để thì giờ xúc con cá khác còn hay hơn!

    Cá bã-trầu, mình dẹp, vảy xanh lè, coi tốt mã ghê, thoáng qua tưởng mình thộp được con cá xiêm, mừng quýnh, không dè đó là thứ cá bã-trầu, đồ vô dụng, được nhiều kho mẻ tô thì đã tanh thêm xương nhiều thịt ít, ăn không ngon, bằng để nuôi chơi trong chai trong keo, thì chỉ phá đám, tốn công nuôi, cá bã-trầu trững giỡn cũng không biết đừng nói chi đá độ: bã-trầu chỉ giỏi tài nuốt cung quăng, vì kính trọng Ba tôi lắm, nên chuyền tay đem về Sốc-trăng, Ba tôi quí hơn vàng: con cá nầy nước lội xem đủ oai, thêm miệng quai xách, mắt thụt (không sợ cá khắc cắn nhằm), vảy đều đều óng ánh như lửa sáng, kỳ trên thật nhọn như cây bút lông chấm son dựng đứng, kỳ dưới đỏ chói khi xếp như lá cờ lịnh, khi xoè tươi như cờ hiệu nhà Vương!

    Thằn-lằn quen mửng cũ, tôi giết đã nhiều, thế mà hắn còn đây, hay thật! (Chuyến nầy chết m. mày rồi!) Thằn-lằn quen mửng cũ, thấy nắp keo đậy không kín thì ăn quen, mon men toan độn nhập vào trong, định bề bắt cá tươi “xực” (thực) như kỳ trước! Tôi ngồi chỗ bộ ván, thấy con thằn-lằn ngán giùm cho cá, nó vóc to và mập, trắng đỏ như “thằng Lê-dương” năm ấy: có lẽ sức mạnh nó không vừa: nếu khoẻ như “lính đầu đỏ” và tinh anh có thừa, thì chu cha, ghê quá, không biết con xiêm bự của mình làm lại nó không? Khi ấy, tôi ngưng làm bài học, và định trong trí sẽ can thiệp cứu cá cho kịp thời. Thằn-lằn, vốn tánh dè dặt sẵn, (ba mươi đời quân gian thường kỹ càng, nên càng thêm lợi hại), thằn-lằn làm như “Lê-Huê khán trận”, ngó trước xem sau, (hát ba câu Nam rồi!) thì bò lần đút đầu vào miệng keo, không khác hùm dữ vào chuồng trâu…

    Đàng nầy tôi ngồi mà nôn quýnh, không dám nhúc nhích cục kịch, gần như nín thở, hờm sẵn chờ dịp sẽ tiếp cứu và ám trợ con cá câng.

    Thằn-lằn bò nhẹ nhẹ như tên du-kích lành nghề, mắt lườm lườm ngó riết con cá đang ở dưới đáy keo, thong thả xê xích từ phân từ ly, rình xem nhứt cử nhứt động của con vật sắp làm mồi ngon cho mình. Tôi nín thở, phập phồng lo sợ cho cá. Bỗng thằn-lằn quay đầu trở lên, lú chót mũi khỏi miệng keo, bốn chân hít cứng vào cổ keo thủ thế như thầy nghề võ, cặp mắt ngoáy trở xuống liếc theo từng mỗi hành động con thủy vật. Nắm được thế thủ vững chắc rồi, thằn-lằn bèn ra miếng độc. Nó thò đuôi rà mặt nước, lay động nhẹ nhẹ giả như chót đuôi là con quăng đang trở mình biến hình con muỗi, hoặc như con ruồi sa cơ vừa té xuống nước, đang giãy tử, chi vậy? – Xin thưa: ấy là kế dụ địch của thằn-lằn, để nhử thia-thia hờ cơ sẽ ra tay. Nếu khi ấy thia-thia không khéo đề phòng, trồi lên đớp nước, hoặc ơ hờ hoặc vô tình tưởng chừng chót đuôi kia là quăng, là muỗi, trân mình định táp, khi cá vừa tằm đòn thì thằn-lằn, lẹ như chớp, sẽ phóng mình xuống mặt nước và dùng đầu làm củ chuỳ đập mạnh vào đầu cá. Người có biệt tài, khéo ở chỗ đúc mà khi cáp cá, người ta không biết cá mình là cá lai, hoặc thấy “lai phảng phất” chút ít, kể như cá hồ, nên chịu độ, đến khi thả vô keo đá mới thấy lai rõ rệt, mà phép “thả cá vô keo” rồi thì kể chịu độ, phải để đá đến ăn thua, chớ không bắt ra được. Phép đúc cá, phải làm sao cho người ta biết cá mình không phải cá lai xiêm, thì mới dễ kiếm độ; chớ ở trường, khi cáp cá ngoài thố nhỏ, khi thấy cá lai rõ rệt thì ít ai khứng đá với mình, cũng có khi họ thấy lai mà dám đá là khi nào họ từng thấy trong bầy cá lai của người đó đã đá trước một hai con mà không dữ, hình thể cá đã xấu hoặc hư rồi, hoặc “cá lai non” nên họ không sợ. Cũng vì lầm tưởng như vậy, nên đã có người “tương kế tựu kế”, đúc và nuôi đến hai bầy: khác nhau ở chỗ mẹ cha khác giống, nhưng giống nhau ở chỗ cùng màu, cùng sắc, để dễ gạt lớp người thực thà, tuần nầy họ đem cá dở ra đá, rồi tuần sau họ mang cá hay đến gỡ độ, đá lớn hơn, những ai quá tham không kịp xét nét, sẽ thua họ mà không ngờ đã lầm kế độc “ly miêu hoán chúa”!

    Phàm cá cũng như gà, “gan ruột” giống mẹ. Muốn đổ, phải lựa chọn cá mái cho thật dữ, nghĩa là mái lựa mái xiêm rặc hoặc lai một hai đời tuỳ ý, nhưng “cá trống” phần nhiều lựa “trống Rạch” (Rạch-Giá), “trống cỏ”, “trống hồ” đã từng ăn độ “anh hùng”, và lựa từ nết đá, nét chịu đòn, đến hình thể, v.v… Các tay chơi chưa lão luyện, ai ai lúc đổ cá, cũng ham cá sau nầy sẽ giỏi chịu đòn, cắn dữ, biết đánh “đòn hồi-mã-thương”, biết “chơi cú-đờ-tết”, tức biết quày mình dùng đầu đánh trái lại đầu con cá kia chưa đề phòng, biết đòn “câu nước hàm trên”, “câu nước hàm dưới”, tức cắn ngay hàm (trên hay dưới) của con cá nọ, ngậm chắc và trì xác con nọ xuống tận đáy, vừa lấy thế đó mà nghỉ mệt, xả hơi, vừa thi tài “giỏi nín hơi”, con nào không quen, không đủ sức chịu đựng, nín hơi lâu không nổi, sẽ giựt hàm chịu thua và chạy luôn có cờ! Nhưng những nhà lão luyện, kinh nghiệm có thừa, lại thích đúc cá thật bén, cắn dữ bội phần, để con cá kia bị cắn, bị đòn, rát quá thì chạy ngay; chớ những miếng “hồi-mã-thương”, “đâu hàm”, “bỏ chạy dụ địch” đều có chút phần nguy hiểm vì trong khi “chạy dụ địch” nếu có một bóng lạ, một tiếng động thình lình, cá chạy luôn cũng chưa biết chừng, nguy hiểm là vì vậy, nên họ không thích lắm.

    Khỏi nói, về cá mái, cá để giống luôn luôn là cá lựa “gắt củ kiệu”, không chỗ chê, và trứng phải thật già. Trứng chưa già, ép ra thì cá non hao nhiều, mớ nào sống cũng không bền, không khác người ta đẻ thiếu tháng. Trong lúc mái còn non trứng, phải để cặp bên cá trống, mỗi ngày, cho ăn đầy đủ và mỗi bữa cho đá bóng cho cá sung sức, trứng mau già. Khi nào thấy con mái lội, đầu chìm xuống, khúc đuôi chổng vổng lên, bụng no tròn, ở hai bên hông “sọc dưa” vàng đen rõ rệt và một trứng lòi ra dưới bụng, ấy là trứng đã già, cá đã đúng lứa ép, không nên để lâu nữa. Trứng già mà không cho trống ép thì con mái cũng chết Bài nầy đã đăng rồi kỳ nhứt trong báo Tự-Do, Xuân Canh-Tý (1960). Nay có thêm nhiều chỗ (Ghi chú của tác giả).

    Quăng: larves de moustique. Nay quen gọi là con quăng, con lăng-quăng, không ai nói con “cung-quăng”. Tên nầy chỉ thấy trong tự vị Huình-Tịnh Của và Génibrel. Xưa ắt thấy con gì hình như cây cung mà biết quăng mình tới trước, nên đặt tên làm vậy chăng? Xin hỏi các bực cao-kiến (Ghi chú của tác giả). Theo chỗ tôi biết thì thằn lằn chỉ dùng đuôi để câu và hất con cá ra ngoài rồi ăn thôi chứ không có nhao xuống đớp theo kiểu đó. Đôi khi mất cá cũng chưa chắc vì thằn lằn mà vì cá tự nhảy ra khỏi lọ để “trốn đi”. Tôi bị mất nhiều cá lia thia theo kiểu này rồi mà chính cụ Vương cũng công nhận là đến ngày, đến tháng con cá nó tự tìm cách thoát thân. Có lần đang ép cá giữa chừng thì tôi vớt con cá mái ra. Sau nó xình bụng rồi chết. Không rõ con cá mái cho “đá bóng” hoặc để nuôi lâu mà không ép, trứng già rồi thì bao lâu nó sẽ bị sình bụng mà chết? Việc này cụ thể, thực hư ra sao chưa thấy ai nghiên cứu. “Poisson de paradis” hay “Macropode” là các tên gọi khác nhau của loài Macropodus opercularis (tức cá cờ, cá săn sắt hay… cá lia thia theo cách gọi ở miền Bắc và miền Trung). Theo Dthong, “Monochire” có thể là “Monochir” hay “Monochirus” là những loài cá thuộc họ cá bơn (Soleidae) hay họ cá dẹp (flatfish). Các họ cá này chủ yếu sống ở biển, tuy cũng có một số loài ở nước ngọt nhưng chúng cực kỳ khó nuôi vì chỉ ăn phiêu sinh vật. Tôi không nghĩ là người ta bán chúng một cách đại trà. Căn cứ theo mô tả của cụ Vương thì có lẽ đó là loài Monocirrhus polyacanthus, hình thù trông giống như chiếc lá khô (leaffish) sống ở sông Amazon, Nam Mỹ (thuộc họ Polycentridae); màu sắc chúng cũng phù hợp, đặc biệt phần chót vây hậu môn và vây lưng “trong khe” như mô tả. Loài này rất ít di chuyển và thường lẩn trốn trong các bụi thuỷ sinh. Tuy nhiên chúng là loài ăn mồi sống chẳng hạn như cá nhỏ, chứ không ăn chất thải của những loài khác. Toxotes jaculatores (tên chính thức là Toxotes jaculatrix) là loài cá ngoại nhập, xuất xứ từ Nam Á hay Úc. Loài tương tự mà chúng ta vẫn thấy bán trên thị trường cá cảnh có lẽ là loài cá nội địa Toxotes chatareus, tức cá pháo thủ hay cá mang rỗ. Barbus de Suatra có lẽ là cách viết sai của Barbus de Sumatra, tức cá tứ vân (Barbus tetrazona), xuất xứ từ đảo Sumatra. Rasbora là chi cá lòng tong gồm nhiều loài phân bố ở Đông Nam Á, không rõ Vương tiên sinh đề cập đến loài nào. Theo Dthong, Tetra Déon có lẽ là cách viết sai của Tetra Néon hay neon tetra (Paracheirodon innesi), loài cá thuộc họ Characidae (có người gọi là họ cá hồng nhung). Ngoài ra, còn có một số loài cá neon khác như neon xanh (Paracheirodon simulans) với sọc xanh nổi bật hơn loài neon thông thường, neon đỏ (Paracheirodon axelrodi) với phần thân dưới màu đỏ tươi và neon đen (Hyphessobrycon herbertaxelrodi) với sọc trắng đen. Cá neon trông khá giống với cá cầu vồng ở d) (mà cụ Vương gọi nhầm là macropode) nhưng không có họ hàng gì. Girardinus guppy (hay Girardinus guppii) tức cá bảy màu hay cá khổng tước, tên chính thức hiện nay là Poecilia reticulata. Đoán chừng là cá thủy tinh (hay cá trèn mỏng) Kryptopterus bicirrhis. Bây giờ mọi người đều gọi là cá vàng hay cá ba đuôi. Có vô số loại khác nhau, mô tả của cụ Vương cũng khá rõ ràng nhưng vì không rành nên chẳng dám bàn sâu.[26] Đoán chừng là con bo-bo (hay trứng nước, hồng trần cũng là nó).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lá Bàng Khô Có Lợi Hay Hại Cho Cá Betta Bạn Đã Biết Hết Chưa?
  • Các Loại Cá Cảnh Dễ Sinh Sản, Dễ Nuôi
  • Bệnh Đốm Trắng Ở Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Và Cách Điều Trị
  • Cá Betta Sinh Sản Như Thế Nào ?
  • Chế Biến Thức Ăn Dinh Dưỡng Cho Cá Betta Từ Thịt Bò
  • Bí Quyết Nuôi Cá Lia Thia Đá (Chọi Chiến, Xiêm Đá) Vô Địch – Kỳ 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Tượng Cá Xiêm Bằng Gỗ Hương Việt – T99
  • Cách Phân Biệt Dòng Cá Betta Halfmoon
  • Thú Chơi Cá Lia Thia – Cách Lựa Cá Lia Thia
  • Nuôi Cá Cảnh Thuận Phong Thuỷ Ắt Thành Công
  • Bí Kíp Giúp Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Sống Lâu Hơn
  • KỲ 3: NUÔI CÁ ĐÁ ĐỘ

    1. Tách bầy

    Cá đá độ phải nuôi trong ổ tới 7-8 tháng tuổi mới tách bầy, phải nuôi ở trại (hay khu vực nhỏ) có mái che bằng lá, đủ ánh sáng thiên nhiên, bố trí hũ trong một góc riêng cho từng ổ cá, đồng thời có khu vực riêng cho cá ra đấu trường. Có thể sắp chồng lên nhiều tầng, nhưng phải đánh dấu mỗi ô để không bị lộn… Ngoài ra, phải có góc riêng nuôi cá ăn độ để chuẩn bị làm trống ép với mái gốc sau này.

    Tất nhiên, phải có 2 dàn kệ sắp keo cá. Mỗi kệ đóng 3-4 tầng, bố trí  nơi có ánh sáng gần nhà ở để tiện việc theo dõi, chăm sóc thường xuyên.

    2. Lên keo, xuống hũ

    Nuôi cá độ thì nước là khâu quan trọng. Vì vậy, ở trại tách riêng lúc nào cũng phải có một lu nước máy pha muối loãng có nắp đậy và để lắng từ 3 ngày trở lên. Không nên dùng nước mưa vì nước mưa có thể làm cá bị sâu kỳ vây. Cá tách bầy vốn đá bị rách kỳ vây nên dễ bị nhiễm trùng. Sau đó, tùy theo con cá nào bị rách kỳ vây ít, ta để vào hàng hũ trên, rách kỳ vây nhiều ta để ở hàng hũ dưới. Trung bình cá mới nuôi riêng để nằm hũ 7 ngày, cá lành vớt lên cho đứng chai trước, mỗi chu kỳ nuôi cá độ phải đứng chai 3 ngày, xuống hũ 3 ngày, 3 lần liên tiếp (tất cả là 18 ngày). Suốt thời gian này, thường xuyên giở bìa chặn cho tất cả dãy cá trên keo phùng mang cự lộn cho hăng khoảng 5-10 phút gọi là đá bóng. Lưu ý nếu giở bìa ngăn keo đá ra mà cá quá hăng cắn vào keo thì phải chặn bìa lại ngay. Khi cá đá độ đã nuôi đủ 3 kỳ chai, hũ mà ra trường chưa “đụng” thì về nhà cho nằm hũ 2 ngày, 1 ngày đứng chai để cá không bị cũ. Cho ăn ngày 1 bữa, mỗi lần 15-20 con lăng quăng. Số lượng này là căn bản cố định dù khi đứng chai hay xuống hũ. Quan tâm nhất là đến ngày ra trường, ban đêm phải dùng đèn coi cá có lội nhởn nhơ hay không. Nếu con nào nằm mặt nước thì lập tức phải để riêng. Ban ngày kiểm tra lại coi hiện tượng bị bệnh, nhất là kiểm tra lại miệng cá. Buổi sáng chuẩn bị ra trường chỉ nên cho ăn ít lăng quăng thôi, tránh tình trạng đá độ bị cắn vào bụng sẽ mau suy.

    3. Cáp cá

    Đây là khâu quan trọng, vì nếu cầm con cá hay mà cáp không kỹ để cá đối phương lớn hơn một chút thì cũng thiệt thòi. Người nuôi cá kỹ thì thân hình con cá mảnh dẻ, luôn cáp độ nhỉnh hơn cá nuôi còn hơi mập, vì hình dáng khi cáp chỉ coi từ trên xuống, nên cá nuôi kỹ hình dáng thẳng nhỏ hơn, nhưng khi thả vô keo cá kỳ vây giương ra lớn hơn. Vì vậy, khi cáp cá nên dựa vào tiêu chuẩn ở cạnh mang là chính xác.

    NUÔI TRỐNG GIỐNG

    Muốn tuyển cá trống giống, người nuôi cá đá hầu như có mặt thường xuyên ở tụ điểm đá cá, dù có cá nhà ra trường họ không trực tiếp cầm cá cáp độ mà trước đó giao cho một số người thân tín cầm vài con cá hay đi đá ở các trường. Họ chỉ đứng ngoài quan sát các độ cá xem con nào hay, thắng độ bằng thế cắn nào. Dù cá nhà có thắng hay thua cũng biết nguyên nhân để tìm mua giống từ các ổ khác. Có khi còn nài mua nhiều cá trống ăn độ xuất sắc ở trường, về nhà ghi xuât xứ, đòn thế cắn, dưỡng thương, chăm sóc đến lành lặn trở lại phong độ cao nhất, ghép với cá mái gốc ở nhà để sản sinh đàn cá con sau này hay hơn, xuất sắc hơn. Phải nghiên cứu kỹ để nâng giá trị đàn cá nhà bằng cách ép pha đòn.

    ÉP PHA ĐÒN

    Để ép pha đòn với cá mái gốc của mình, như phần đầu viết về các thế cắn của cá, nuôi quy mô lớn lúc nào cũng có sẵn 3 loại mái cắn kỳ quyết một chỗ: cắn thượng (mắt, mép), cắn trung (cổ, bụng, vây bơi), cắn hạ (đuôi, cạnh đuôi). Còn cá trống nhà chỉ để lại một phần ít cá thắng độ xuất sắc làm trống giống, đem ép với cá mái gốc để giữ truyền thống, nhưng cá nhà phải ép khác hệ, khác ổ vì sợ đồng huyết, đồng tông dù rằng cá thắng độ đó chỉ là hệ cháu chắt của mái gốc.

    Có nhiều mùa cá gặp khi “cơn sốt” trống, do đó, người nuôi cá phải mất bao công sức tìm trống hay của các chủ nuôi khác, thậm chí có điều kiện phải mua trống giống từ nước ngoài với giá gấp 5-10 lần cá trong nước để tạo thành các ổ cá vang danh.

    ÉP CÁ ĐÁ

    Nếu đơn thuần ép cá đá không định hướng thì ép rất dễ, ai cũng có thể ép được: vài cái lu, vài cái khạp lại không khó khăn như ép cá thịt, cá cảnh đòi hỏi ép nhân tạo, nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Nhưng muốn ép một bầy cá đạt đẳng cấp cao, nhiều cá con thì trong nhà phải có bầy mái gốc và kỹ thuật nuôi trống mái cho sung, kích dục tối đa.  Ta phải kè trống mái đúng 2 kỳ lên keo, xuống hũ. Sau đó cho cá trống vào hồ đã dọn sẵn. Ổ cá rất đơn giản, chỉ để một nhánh tre nhỏ hoặc nan tre xé miếng lá chuối cỡ 15 phân gác lên cây ngang cách mặt nước 2-3 phân, hoặc một vài tép bèo, lục bình để cá trống đóng bọt. Thả cá trống vào ổ trước, sau đó bỏ cá mái trong keo để vào giữa hồ cho cá trống vờn cá mái và chui vào ổ đóng bọt. Lưu ý nước trong hồ chỉ cao 3 tấc để cá cha hớp trứng phun vô bọt dễ dàng khi 2 con ép nhau và trứng từ cá mái rớt ra. Nên thả cá mái vào với cá trống buổi chiều từ lúc 4-5 giờ để 2 con rượt đuổi nhau khoảng vài giờ thì trời tối. Điều này tránh trường hợp cá trống quá sung cắn cá mái bị thương. Sáng hôm sau thì cá trống ép cá mái đẻ trứng. Độ khoảng 1-2 giờ sau thấy cá trống rượt cá mái chạy thì nhẹ nhàng lấy vợt vớt cá mái ra nuôi tiếp một tháng sau ép bầy em. Thường thì chỉ ép cá mái 2 lần là đủ, đừng ép lứa thứ ba trở đi. Cá mái ép 2 lứa xong thì phế thải, lứa thứ 2 là có thể ép đổi trống này với mái khác trong cùng đợt ép sau, nhưng nhớ ghi sổ tay để sau này đánh giá trống mái nào đẻ con hay hơn, hoặc khỏi lộn hệ, tránh trùng huyết sau này.

    Lưu ý: Ép cá đồng loạt càng nhiều ổ cá càng tốt. Như vậy ta có nhiều loại cá đồng tuổi để phân loại.

    Hằng năm, từ tháng Mười đến tháng Chạp là mùa lập đông không nên ép cá, vì nước quá lạnh, cá con chết hết. Như vậy ta vẫn nuôi cá trưởng thành để thi đấu dịp Tết kéo dài quanh năm.

     

     

    Ảnh scan bản gốc:

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cá Betta (Lia Thia, Xiêm) Ăn Gì Và Các Loại Thức Ăn Cho Cá Betta
  • Cá Betta Ăn Gì? Những Loại Thức Ăn Cho Cá Betta (Xiêm, Chọi, Lia Thia) Khoẻ Mạnh, Lên Màu Đẹp
  • Cá Betta Thái (Lia Thia – Cá Phướng – Xiêm) Giá Rẻ Tại Tp. Hồ Chí Minh, Quận Tân Phú
  • Kỹ Thuật Nuôi Cá Betta Mau Lớn Đẻ Nhiều
  • Từ Vựng Hải Sản Tiếng Nhật
  • Thức Ăn Cho Cá Lia Thia

    --- Bài mới hơn ---

  • Bán Cá Lia Thia Cần Thơ
  • Đá Dế, Đá Cá Lia Thia.
  • Kinh Nghiệm Chọn Cá Lia Thia Đẹp
  • Cá Lia Thia Cũng Làm Ổ Để Đẻ Trứng
  • Xúc Cá Lia Thia Thu Tiền Triệu
  • – Bo bo có kích thước tương đương với cá lia thia bột. Mặc dù bo bo mới nở có kích thước chỉ bằng một nửa nhưng chúng lớn rất nhanh. Quan sát trong phòng thí nghiệm của các nhà khoa học phát hiện thấy số lượng bo bo có kích thước nhỏ dưới 0.5 mm là không đáng kể. Mặt khác khi xuất hiện với mật độ cao, chuyển động giật cục của bo bo ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của cá dẫn đến số lượng của chúng bị sụt giảm.

    – Ấu trùng artemia có kích thước thước khá nhỏ, khoảng 0.5 mm, nhưng chúng chỉ sống được khoảng vài giờ trong môi trường nước ngọt.

    Vì vậy trên thực tế, hai loại thức ăn nêu trên không thích hợp để nuôi cá lia thia bột. Bài viết này nhằm giới thiệu hai loại thức ăn đặc biệt nhỏ và thường được sử dụng để nuôi cá con mới nở rất hiệu quả: đó là trùng cỏ (infusoria) và trùn giấm (vinegar eel).

    Trùng cỏ (infusoria) là những sinh vật nguyên sinh hiện diện ở hầu hết các vực nước như ao, hồ, sông và biển. Chúng có kích thước rất nhỏ và là thức ăn vô cùng quan trọng cho cá bột mới nở. Trong ngành chăn nuôi thủy hải sản ở các nước công nghiệp phát triển, người ta thường phân lập và nhân giống đại trà một số loại trùng cỏ như trùng bánh xe (rotifer) và trùng đế giày (paramecium). Những sinh vật này thuộc về một nhóm trùng cỏ quan trọng gọi là mao trùng (ciliates).

    Trùng cỏ có kích thước nhỏ nhất (khoảng dưới 200 micro mét) so với các nguồn thức ăn khác như bo bo, artemia và trùn giấm. Thực ra, bo bo và artemia mới nở cũng rất nhỏ nhưng chúng tăng trưởng rất nhanh và trở nên quá to để cá bột có thể ăn được. Như vậy, trùng cỏ là thức ăn thích hợp nhất đối với những loại cá bột có kích thước nhỏ chẳng hạn như cá lia thia, betta.

    Ngoài tự nhiên, trùng cỏ hiện diện và tập trung nhiều ở ven bờ ao hồ, kênh rạch, cống rãnh và ruộng lúa; chúng thâm nhập vào cả các hòn non bộ và chậu cảnh qua nguồn thực vật thủy sinh hay thức ăn mà chúng ta mang vào đó. Thức ăn của chúng là vi khuẩn, vi tảo và các loại mùn bã hữu cơ lơ lửng trong nước. Đấy là những nguồn “con giống” mà chúng ta có thể tận dụng để “ươm nuôi trùng cỏ tại gia”.

    Có nhiều phương pháp ươm nuôi trùng cỏ, trong loạt bài viết về nguồn gốc của Plakat Thái tác giả Precha đã khuyên nên bỏ một ít rau muống ao vào chậu ép cá và để ở chỗ tối một thời gian, khi cá con ra đời thì nguồn thức ăn trùng cỏ đã sẵn sàng. Bạn sẽ tự hỏi là con giống trùng cỏ ở đâu mà có? Trùng cỏ luôn hiện diện trên bề mặt thực vật thủy sinh (ở đây là rau muống), khi thực vật bị phân hủy bởi vi khuẩn (hiện tượng thối rữa), lượng vi khuẩn sẽ bùng phát và là nguồn thức ăn dồi dào cho trùng cỏ. Trùng cỏ sinh sôi thật nhiều và đến lượt chúng trở thành nguồn thức ăn cho cá bột mới nở.

    Trong bài này tôi xin giới thiệu một phương pháp ươm nuôi trùng cỏ cấp tốc (1-2 ngày) và đơn giản, tôi đã thử nghiệm nuôi cá lia thia mang xanh (Betta imbellis) trong hồ kiếng 1 m x 0.4 m x 0.4 m và không hề thả rong (có nghĩa cá bột phải hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn từ bên ngoài cung cấp). Kết quả thu được rất khả quan, sau 2 tuần số lượng bầy cá tăng trưởng và đủ lớn để ăn bo bo xấp xỉ 200 con. Bạn có thể chuẩn bị loại thức ăn này ngay khi cá vừa đẻ trứng chứ không cần phải bắt đầu trước đó cả tuần!

    – Một ly nước lấy ở hòn non bộ, nơi có nhiều rêu xanh. Đây là nguồn trùng cỏ giống.

    – Một nắm lá xà lách xay nát bằng máy xay sinh tố.

    – Một vài viên men cơm rượu. Hầu như bất cứ khu chợ nào ở Việt Nam cũng có bán men cơm rượu, bạn cứ mua ở các cửa hàng tạp hóa (thử hỏi không có cơm rượu làm sao chúng ta có thể “diệt sâu bọ”!) . Men cơm rượu có chứa nhiều vi khuẩn, tôi hy vọng nó sẽ đẩy nhanh quá trình phân hủy lá xà lách. Nếu có nhà khoa học nào khẳng định rằng vi khuẩn lên men cơm rượu không hề có tác dụng thúc đẩy việc phân hủy lá xà lách thì chúng ta sẽ tiết kiệm được 1 ngàn tiền mua men cơm rượu! Dẫu sao, đây chỉ là suy luận của riêng tôi, tôi không dám khẳng định rằng nó thực sự có tác dụng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cụ Ông 70 Năm Đam Mê Cá Lia Thia
  • Cá Lia Thia Loài Cá Đẹp Mang Nhiều Màu Sắc
  • Cách Nuôi Cá Lia Thia Con
  • Cách Nuôi Cá Lia Thia Và Kỹ Thuật Nuôi Cá Lia Thia
  • Cách Chọn Cá Lia Thia Đá Tốt
  • Bí Quyết Nuôi Cá Lia Thia Đá (Chọi Chiến, Xiêm Đá) Vô Địch – Kỳ 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Con Cá Số Mấy Trong Lô Đề
  • Betta (Lia Thia, Xiêm) Samurai, Các Chiến Binh Samurai Mạnh Mẽ
  • 【7/2021】Sụn Cá Cờ Kiếm Mua Ở Đâu Bán – Giá Bao Nhiêu Tiền 1Kg Hiện Nay【Xem 188,199】
  • 【7/2021】Lườn Cá Cờ Kiếm Tươi Ngon Giá Bao Nhiêu Tiền? Ở Đâu Bán Tp Hcm?【Xem 41,085】
  • 【7/2021】Cá Cờ Kiếm Phi Lê Cắt Lát Tươi Rói Giá Sỉ Bán Tại Tphcm【Xem 68,112】
  • Ở các ấn phẩm trước, nhiều tác giả đã viết về cá lia thia nên bài viết này chỉ đi sâu vào cách nuôi dưỡng và bí quyết để tạo nên những chú cá lia thia xuất sắc nhất trong các cuộc thi đấu tổ chức định kỳ tại nhiều địa phương.

    Muốn tạo thành một giống cá lia thia đá có đẳng cấp, từ khâu nuôi cá con mới nở đến khi ra đấu trường là cả một công trình lâu dài và rất nhiêu khê mà khâu nào cũng vô cùng quan trọng.

    NUÔI DƯỠNG

    Thức ăn của cá lia thia đá: Cá lia thia đá là loại cá được thuần hóa từ rất lâu ở vùng khí hậu nhiệt đới. Riêng ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Nam Bộ, chúng đã đem lại lợi ích về lợi nhuận và cải tạo môi trường rất to lớn vì thức ăn của cá lia thia đá là lăng quăng (bọ gậy) và trứng nước (bo bo), trong đó lăng quăng là nguồn gốc gây nên căn bệnh nguy hiểm là sốt xuất huyết gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản nhân dân.

    Vệ sinh thức ăn: Lăng quăng là thức ăn chính của cá lia thia đá, mà loại sinh vật này sinh sôi nảy nở từ những nơi ao tù, nước đọng dơ bẩn nên trước khi cho ăn cần phải làm vệ sinh qua nhiều gia đoạn:

    • Khi vớt lăng quăng về nhà, đầu tiên dùng một cái rổ để lượm rác và tạp chất cho sạch. Kế đó, dùng rổ thứ hai dày hơn để gạn lại các lăng quăng đầu bự.
    • Dùng một vợt lớn bằng vải thưa lọc tất cả lăng quăng vào cho chảy hết nước. Sau đó, đổ vào thau lớn có pha sẵn nước muối loãng và ngâm lăng quăng khoảng 10-15 phút. Để sẵn ba chậu có sẵn nước muối, lần lượt dùng ba loại vợt bằng vải mùng có độ thưa khác nhau. Lượt đầu tiên dùng vợt có độ thưa lớn dành cho cá trưởng thành. Lượt thứ hai lấy loại vợt có độ thưa trung bình dành cho cá 3-4 tháng tuổi. Lượt thứ ba dùng loại vợt nhỏ để vớt lăng quăng nhuyễn dành cho cá nhỏ.

    Lưu ý: Lăng quăng cho cá đá phải được ngâm muối và dùng lông gà thấm lăng quăng tuần tự thả vô keo (lọ) cho cá ăn với số lượng vừa phải.

    Để tuyển chọn các dòng cá đá có độ cắn đặc thù, người nuôi phải phân tích các thế cắn của cá lia thia đá vì đó là căn bản có tính quyết định các trận đấu thuộc hàng cao cấp.

    PHÂN TÍCH CÁC THẾ ĐÁ

    Cắn mép

    Trong hàng trăm, thậm chí hàng ngàn lứa cá lọc ra, nếu được một ổ cá chuyên cắn mép nhất định chúng ta đã nắm được năm mươi phần thắng. Lý do là sau khi thả cá vô keo đá, độ 5-10 phút mà cá của ta cắn trúng mép đối thủ thì càng thi đấu lâu đối thủ đã bị cắn tét mép (coi như bị tước vũ khí) thì có răng cũng như không. Mép miệng đã bị thương thì chẳng thể nào cắn phá, tung đòn ra được. Những con cá xuất sắc thì sau khi khóa mép xong sẽ quay trở xuống cắn đuôi đối thủ thì thắng rất mau.

    Cắn mắt

    Cắn mắt cũng là một chiêu của cá đá. Một số con có những độc chiêu chuyên cắn vào mắt đối thủ. Tuy nhiên, đòn cắn này còn bị hạn chế bởi những đối thủ sử dụng đòn quất.  Đòn quất có nghĩa là chờ đối thủ đeo theo vừa tầm, chưa kịp cắn mắt thì đã quay lại thật nhanh cắn vào mép, vây bơi hoặc bụng đối thủ. Chỉ những con cá nào có nước lội nhanh mới tránh được đòn phản công.

    Cắn bụng

    Thông thường cá cắn bụng có nhiều đòn thế để tung đòn hơn. Nếu cá lội phía sau đối thủ thì sẽ xộc tới tung đòn cắn vào bụng hoặc vây bơi. Còn nếu cá đang lội phía trước mà đối thủ đeo theo sau thì bất thình lình cá quay ngược trở lại quất chính xác vào bụng. Trước đây có một lứa cá quay đầu cắn mép rất chính xác nên được đặt tên là hồi mã thương.

    Cắn hậu (cắn đuôi)

    Cá chuyên dùng chiêu cắn hậu thường hay ra đòn trước vì đuôi cá là mục tiêu lớn. Tuy nhiên trong tình thế hai con cá đang so kè để tung chiêu thì cá cắn hậu thỉnh thoảng tung ra những đòn cắn như mép, vây bơi hoặc bụng. Càng đá lâu, cá cắn hậu nếu ra đòn quyết liệt thì sẽ phá tan nhiều phần của đuôi đến tróc vảy, chảy máu thì đối thủ phải bơi chậm lại, mất thăng bằng không còn đủ sức tránh né. Đến lúc này cá cắn hậu mới tấn công vào mắt và kết thúc trận đấu.

    Phải nói rằng, để có một lứa cá vô địch, người nuôi cá phải mất bao nhiêu công sức chắt lọc để làm nền tảng cho sự thành công: tạo ra một bầy cá mái căn bản mà dân nuôi cá lia thia đá gọi là MÁI GỐC.

    (Hết kỳ 1… Còn kỳ 2)

     

     

    Ảnh scan bản gốc:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Dương Thu Nhỏ Độc Đáo Nha Trang
  • Câu Chuyện Về Cá Betta – Cá Lia Thia – Cá Xiêm (Bài 2)
  • Cá Lia Thia Bằng Gỗ Hương Việt , Giá Siêu Rẻ 4,797,386Đ! Mua Liền Tay!
  • Tượng Cá Chọi (Cá Lia Thia, Cá Xiêm) Gỗ Cẩm Lai Việt – T101
  • Top 10 Quán Cafe 24/24 Sài Gòn Yên Tĩnh Tập Trung Làm Việc Xuyên Đêm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100