Cá Cảnh Betta / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Psc.edu.vn

Bể Cá Cảnh Betta Khổng Lồ

Bể cá cảnh betta khổng lồ – Đó là cá betta khổng lồ. Chúng kích thích sự tò mò của tôi bởi vì một trong những nhược điểm của cá betta xét trên phương diện cá cảnh đó là kích thước không to lắm.

Ngay khi tôi nghĩ rằng mình đã thấy hết mọi thứ, thì một dòng cá betta thuần dưỡng nữa lại xuất hiện tại Hội thảo của IBC ở Orlando vào năm 2002. Đó là cá betta khổng lồ. Chúng kích thích sự tò mò của tôi bởi vì một trong những nhược điểm của cá betta xét trên phương diện cá cảnh đó là kích thước không to lắm. Có một điều mà ai cũng nhất trí là khi mọi đặc điểm đều như nhau, thì con betta lớn hơn sẽ chiếm ưu thế khi chấm điểm và tôi tin rằng đó cũng là tiêu chuẩn chấm điểm của IBC.

Không có gì ngạc nhiên khi những con cá to hơn chiếm ưu thế trên thị trường cá cảnh ở khắp nơi trên thế giới và điều đó đã diễn ra từ rất lâu. Thú nuôi cá cảnh bắt đầu với việc nuôi những con cá chép sặc sỡ (cá vàng và chép Koi), cả hai đều có thể tăng trưởng đến kích thước rất lớn, và chúng là những loài phổ biến nhất ở khắp mọi nơi. Những loài cá phổ biến khác, đặc biệt ở phương Đông, là cá rồng (cá rồng châu Á), cá đĩa và những loài cichlid khác bao gồm cả cá La Hán, tức cá lai giữa các loài cichlid châu Mỹ. Cả cá đĩa lẫn La Hán đều đang được lai tạo với đủ mọi biến thể màu sắc khác nhau.

Chiều cao ở cầu thủ bóng bầu dục cũng rất rõ. Một cầu thủ cao khoảng 6,7 foot (2,04 m), nặng 325 pound (148 kg) mà chạy được đã là ước mơ của các huấn luyện viên vào những năm 50, nhưng ngày nay đa số huấn luyện viên đều có đến nửa tá hay hơn những cầu thủ như vậy. Ở những đội bóng chuyên nghiệp hay hầu hết những đội bóng của trường cao đẳng và thậm chí trung học đều có hàng hậu vệ gồm những cầu thủ nặng đến 300 pound (136 kg).

Nhưng ở đây chúng ta không bàn về những người cao to.

Vấn đề ở đây đó là có yếu tố hay sự kết hợp của nhiều yếu tố nào đó trong lối sống của chúng ta đã thúc đẩy sự tăng trưởng vượt bậc và không có gì lạ khi điều tương tự xảy ra với những loài thuần dưỡng khác, bao gồm cá nuôi. Ở cá betta, có mối liên hệ rõ rệt đối với những yếu tố như chất lượng nước và chế độ dinh dưỡng. Những người lai tạo cá kích thước lớn thường xuyên phải thay nước và xử lí bằng nhiều cách, chẳng hạn như lọc thẩm thấu ngược (reverse osmosis), cho thêm chất đệm để ổn định độ pH, cho thêm muối hay chất hoá học để khống chế ammonia, hay bất kỳ chất nào khác. Họ có thể nỗ lực hơn nữa bằng cách cho cá ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, đặc biệt là thức ăn tươi sống, bao gồm việc nuôi trùn trắng (whiteworm) và atermia hay là thường xuyên tới các cửa hàng cá để mua atermia, trùn kiếng (glassworm), trùn đen (blackworm). Những nỗ lực như thế này đảm bảo cho cá luôn ở trong tình trạng khỏe mạnh và đáp ứng tất cả các những gì chúng cần để phát triển tốt nhất.

Vậy cá betta khổng lồ là gì?

Tôi nhớ rằng những con betta này tham dự thể loại màu sắc và hình dạng; mặc dầu chúng có nhiều loại màu nhưng chỉ một số màu được đem trưng bày. Có những loại nền sẫm, cambodian, xanh dương, xanh lục, vài con non-red (vàng), đen, đỏ… Một số con vây bướm (phần giữa của vây một màu và viền bên ngoài màu khác). Tôi còn nhớ rất rõ một con vây bướm xanh dương và đen, tổng cộng có khoảng mười hai hay mười lăm con với màu sắc thường thấy ở cá betta thuần dưỡng hiện đại.

Đặc điểm nổi bật nhất của cá betta khổng lồ là kích thước của chúng. Con cá của tôi được đặt nick là “Bubba” (đại ca), cái tên dường như rất phù hợp với nó. Ảnh chụp không thể minh họa được kích thước của nó trừ khi chúng được đặt kèm vài vật chuẩn để so sánh mà tôi lại không tìm ra vật nào phù hợp. Ở đây, tôi sẽ cung cấp một bảng so sánh cho thấy sự khác biệt tương đối giữa cá hoang dã, cá thuần dưỡng bình thường và cá betta khổng lồ của tôi mà dường như cũng to tương đương những con khác tại triển lãm của IBC.

Bởi vì đuôi có độ dài thay đổi (tỷ lệ với thân) nên tôi đo chiều dài thân từ chóp miệng đến gốc đuôi (các nhà ngư loại học gọi là chiều dài chuẩn) trên ba con betta có kích thước trung bình lấy từ ba nhóm khác nhau để so sánh. Tôi sử dụng những con cá hoang dã điển hình mà tôi bắt được ở Malaysia và Việt Nam (tôi nghi ngờ những con bắt được từ nhiều vùng khác nhau ở Thái Lan bởi vì chúng thường có màu như cá thuần dưỡng và có khả năng là cá thuần dưỡng bị sổng, được thả hay cá lai). Tôi chọn một con có kích thước trung bình trong phòng nuôi cá của mình làm đại diện cho cá betta thuần dưỡng và sử dụng Bubba làm đại diện cho cá betta khổng lồ vì, theo tôi được biết, nó có kích thước chuẩn. Kết quả đo đạc của tôi như sau:

– Cá hoang dã: 3,2 cm (gần 1,35 inch)- Cá thuần dưỡng: 3,7 cm (gần 1,5 inch)- Cá khổng lồ: 6,6 cm (gần 2,6 inch)

Trong khi sự khác biệt về chiều dài của cá betta hoang dã và betta thuần dưỡng “bình thường” là không lớn lắm, thì sự khác biệt giữa chúng với cá khổng lồ là đáng kể. Betta thuần dưỡng dài gấp 1,156 lần so với cá hoang dã, trong khi betta khổng lồ dài gấp 2,06 lần, tức là hơn 2 lần cá hoang dã.

Một thông số khác có thể được dùng để so sánh là trọng lượng. Tôi đã cân chúng bằng một loại cân dùng trong phòng thí nghiệm và thu được kết quả như sau:

– Cá hoang dã :1,2 gam- Cá thuần dưỡng: 1,95 gam- Cá khổng lồ: 8,85 gam

Sự khác biệt về trọng lượng cũng là điều đáng nói. Betta thuần dưỡng nặng gấp 1,625 lần betta hoang dã còn betta khổng lồ nặng hơn rất nhiều, gấp 7,735 lần. Dĩ nhiên, có sự khác biệt về tỷ trọng thịt ở mỗi con tuỳ vào việc ruột của chúng có thức ăn hay không, kích thước bóng bơi, lượng mỡ trong cơ bắp và vân vân. Cũng vậy, khi cân cả con cá, vây cũng được tính và tổng trọng lượng vây của mỗi con cá thì không nhất thiết phải cùng tỷ lệ với trọng lượng toàn thân.

Tôi cũng thử đo thể tích của mỗi con cá bằng cách thả chúng vào ống xy lanh có vạch chia độ và cố gắng đọc thể tích nước bị chiếm chỗ nhưng vì thể tích nước tăng lên rất ít nên không thể đọc được. Tôi lưu ý rằng mỗi phương pháp được áp dụng ở đây đều có sai số, nhưng như bạn thấy đấy, nó minh chứng rõ ràng rằng cá betta khổng lồ lớn hơn đáng kể so với những con bình thường.

Di truyền của cá betta khổng lồ?

Một bầy lai với cá mái đuôi kép cambodian dính rất ít màu ánh kim. Bầy này rất đông nhưng không may chúng bị nhiễm nấm velvet khi gần một tuần tuổi và chết hết. Chúng còn quá nhỏ để phân loại vì vậy tôi đã bỏ lỡ cơ hội tìm hiểu về di truyền của những dòng cá cơ bản hay bất cứ dòng cá mới nào, đặc biệt là trường hợp cá khổng lồ lai với cá bình thường.

Tôi gặp may hơn với bầy cá khác. Con cá mái thứ hai có màu đa sắc xanh/đỏ từ dòng cá đuôi dài. Con này là con cháu qua nhiều thế hệ giữa một con trống xanh thép vây rất to mà tôi mua từ một cuộc đấu giá với một con mái đuôi kép xanh thép từ bầy cá của tôi, mà nó là con của cá trống đen đạt chuẩn của thành viên của IBC Dan Young với cá mái màu vàng đuôi kép đạt chuẩn mà tôi mua được từ cuộc đấu giá khác. Tôi không có thông tin cơ bản nào về những con cá mua từ cuộc đấu giá nhưng kiểu hình của chúng bao gồm vây dài, đuôi kép, đỏ toàn thân và non-red, xanh thép, cambodian và phân bố ánh kim toàn thân hay một phần.

Bubba (giờ đã quá cố) có vây ngắn xanh lục đa sắc với màu vàng (non-red) thay thế màu đỏ. Hai bầy cá đã cung cấp cho tôi hàng loạt đặc điểm để khảo sát. Bên cạnh việc lai cá khổng lồ với cá thuần dưỡng bình thường loại lớn hoặc nhỏ con, còn có thể lai cá vây dài với cá vây ngắn (bình thường), xanh dương với xanh lục (bình thường) có ánh kim, ánh kim toàn thân với ánh kim một phần (bình thường), non-red (vàng) với đỏ (bình thường). Mặc dù cả cá cha lẫn mẹ đều nền sẫm, bầy cá vẫn có những con nền sáng (cambodian) chứng tỏ cả cá cha lẫn cá mẹ đều mang gen lặn.

Kết quả mà tôi thu được từ bầy cá này hoàn toàn có thể đoán trước. Chúng đạt (ở khoảng 6 tháng tuổi) kích thước trung bình tương đương với kích thước tối đa của betta thuần dưỡng mặc dầu có vài con hơi lớn hơn. Lúc này, không con nào đạt kích thước gần bằng cha của chúng. Tôi nghe nói rằng cá betta khổng lồ có xu hướng tăng trưởng một khi đủ tuổi nhưng đấy là điều mà tôi phải kiểm chứng. Những con trống đều có vây dài (gen trội thừa hưởng từ cá mẹ) mặc dù đuôi không lớn như tổ tiên bên mẹ. Gen này không bộc lộ ở cá mái. Không có con đuôi kép nào.

Những gì tôi thu được từ bầy cá này là một dải màu vô cùng thú vị. Hầu hết đều có thể đoán trước từ màu sắc và kiểu gen của cá cha mẹ nhưng cũng có vài con mà tôi không thể đoán được. Mặc dù tôi không phân loại chúng nhưng tôi có thể kiểm tra “bằng mắt” xem có những màu gì. Tôi nghĩ cách dễ nhất để làm điều này là xem xét từng màu một như vậy số lượng cũng như mức độ đa dạng của chúng được kiểm soát tốt hơn.

1. Tỷ lệ trống mái dự đoán là 50% (mỗi loại). Chúng ta không thể phát hiện cá trống dị giao tử (heterogametic) [1] trong những nghiên cứu kiểu nhân (karyotype study) [2] và nhiều bầy cá có thể khác xa với tỉ lệ giới tính 1:1 vì vậy không cần thiết phải đạt được tỷ lệ này. Tỷ lệ giới tính sau cùng có thể phụ thuộc vào một số ảnh hưởng từ bên ngoài. Sự chuyển giới từ cá mái thành cá trống cũng diễn ra rất thường xuyên.

2. Tất cả cá đực từ bầy này đều có vây lớn nhưng mang gen vây ngắn từ cá cha. Nếu cá mái (cá mẹ) mang gen vây ngắn thì một nửa bầy cá sẽ có vây ngắn nhưng không con nào như vậy.

3. Màu ánh kim của cá trống là xanh lục và cá mái là xanh dương có nghĩa là một nửa bầy cá có màu xanh lục và một nửa có màu xanh dương (màu xanh dương là dị hợp tử). Đó là những gì đã xảy ra.

4. Phân bố ánh kim ở cá bố mẹ là trung bình. Mức độ phân bố ở bầy cá tương đối liên tục nhưng có thể chia làm 3 loại: dày đặc, trung bình và thưa. Điều kiện chăm sóc đối với cả ba loại trong bầy là như nhau và thực tế diễn ra đúng như vậy.

5. Cá cha mẹ có màu sẫm nhưng mang gen cambodian nền sáng. Điều này được chứng tỏ bởi sự xuất hiện của những con màu sáng trong bầy. Bởi vì nó đơn giản là gen lặn, theo lý thuyết sẽ có 25% cá con màu sáng và thực tế có vẻ đúng như vậy.

6. Cá mái có màu đỏ trong khi cá trống màu vàng (non-red). Sự xuất hiện của một nửa cá con non-red cho thấy rằng cá mái có gen non-red (sự hiện diện của bất kỳ cá non-red nào đều đòi hỏi phải như vậy). Tất cả cá con có ít nhất một alen non-red từ cha của chúng.

7. Tôi thu được vài cá thể mà tôi gọi là màu “Muối tiêu” nhưng tôi thật sự không thể hiểu được cấu trúc di truyền của chúng. Những con cá này có nhiều chấm nhỏ trên thân xen kẽ với vài đốm lớn hơn. Đây có lẽ là một loại cẩm thạch nhưng không có con cá cẩm thạch nào xuất hiện trong bầy.

8. Mặc dù không có con đuôi kép nào xuất hiện nhưng cá mẹ có thể mang nó như một gen lặn (di truyền từ dòng tộc của mình). Nếu có, nó sẽ truyền gen này cho một nửa bầy con mà chúng, nếu một con trong đó lai với con khác cũng mang gen đuôi kép, có thể tạo ra cá đuôi kép sau này.

9. Hành vi của chúng không được coi là ở mức trung bình nhưng có sự khác biệt hoàn toàn về mức độ hung dữ giữa các dòng betta thuần dưỡng khác nhau, đo đó nó có thể như vậy thật. Bề ngoài của Bubba trông như là một phiên bản to hơn của cá betta đuôi ngắn thuần dưỡng, loại được nuôi để đá. Tuy nhiên, nó không thể hiện sự hung dữ thái quá và cá mái là loại betta cảnh điển hình. Chúng sinh sản ngay lập tức và không gặp phải sự cố gì.

Bộ sưu tập bao gồm những đặc điểm khác nhau này (từ cá bố mẹ) chứa đựng những tiềm năng di truyền để tạo ra một dãy pha tạp kiểu gen và kiểu hình trong bầy cá. Trước đây tôi có đề cập đến một “dải màu thú vị” là nhờ vào khả năng này. Hãy xem xét tất cả các trường hợp khác nhau có thể xảy ra. Dải màu phân bố từ sáng và sẫm với rất ít ánh kim qua những biến thể kết hợp mà chúng ta gọi là đa sắc xanh dương và xanh lục (kèm theo đỏ hay vàng như những màu phụ) cho đến xanh dương và xanh lục đơn sắc nền sáng hay sẫm.

Hãy lấy một ví dụ, tôi có một vài con trắng phấn xanh rất đẹp. Để lai tạo ra chúng, tôi cần phải có kiểu gen xanh lục với thật nhiều ánh kim, nền sáng và non red. (ở đây, tôi không quan tâm tới những biến thể về dạng vây, kích thước cơ thể hay bất kì biến thể nào khác).

Bởi vì cách thức di truyền của mỗi đặc điểm phụ của kiểu hình, nên chúng không xuất hiện với cùng số lượng. Chúng ta có thể làm một thí nghiệm nhỏ sử dụng xác xuất để dự đoán khả năng hình thành của một đặc điểm cho trước. Lấy cá xanh phấn làm ví dụ: hy vọng một phần tư sẽ có nền sáng, một nửa xanh lục, một phần tư dính ánh kim và một nửa là non red. Kết quả thu được là 1/64. Tôi đã cung cấp một biểu đồ minh họa các kết hợp có thể xảy ra.

Măc dù cá betta khổng lồ có kích thước lớn, nhưng những con vây dài dường như không có tỷ lệ vây lớn hơn so với thân như thường thấy ở cá betta kích thước bình thường.Tôi không chắc là điều này thực sự có ý nghĩa như thế nào nhưng nó làm dấy lên một câu hỏi trong đầu tôi. Tôi tự hỏi phải chăng đây là hậu quả của việc xử lý hormon nào đó. Số mẫu thí nghiệm ít vì vậy tôi thừa nhận rằng một vài con cá trống vây dài ở đây không thể đại diện cho cả dòng cá. Tôi từng thấy điều tương tự ở cá betta bình thường. Dẫu vậy, tôi muốn thấy vài con có vây thật to tương tự những con betta cảnh kích thước bình thường đẹp nhất.

Có phải cá betta khổng lồ là có thật? Ý tôi là thực sự có loại gen betta khổng lồ hay không? Có phải chúng hình thành qua quá trình chọn lọc lâu dài và cẩn thận hay chỉ là kết quả của việc sử dụng một loại hormon tăng trưởng nào đó! Chúng ta có thể hy vọng vào sự phát triển đáng kể về kích thước ở cá betta cảnh không? Nếu vậy, chúng có sắp sửa được “cộng đồng” nuôi cá Betta chấp nhận không? Tôi chưa thể trả lời được những câu hỏi này. Tôi hy vọng có thể nói nhiều hơn sau thu được nhiều kết quả lai tạo và sau khi tôi tìm hiểu nhiều hơn về những người đã tạo ra chúng và lai bằng cách nào.

Ghi chú:1 – Heterogamete: hetero=dị, gamete=giao tử, heterogamete=dị giao tử (tức tế bào sinh dục khác nhau). Tuỳ theo sinh vật mà giao tử này có thể gọi là tinh trùng, trứng, giao tử đực, giao tử cái. Ví dụ, ở người, giao tử có thể hiểu là tinh trùng và trứng.

2 – Karyotype: karyo=nhân tế bào, type=kiểu, karyotype=kiểu nhân. Người ta phân biệt tế bào giữa các sinh vật thông qua số lượng và hình dạng nhiễm sắc thể (chromosome). Vậy kiểu nhân=kiểu nhiễm sắc thể chứa trong nhân (gồm hình dạng + kích thước + số lượng).

Kinh Nghiệm Nuôi Betta Trong Bể Cá Cảnh

Thức ăn : Tốt nhất là nên cho ăn trùn chỉ. Đây là loại thức ăn bổ dưỡng, giúp cá phát triển toàn diện, dễ tìm và rẻ. Nếu biết cách, sẽ trữ được đến 4 ngày.

Cách rửa và trữ trùn chỉ : Khi mua trùn về, cho vào thau. Cho nước sạch vào, dùng tay khuấy cho trùn rã ra. Tay khuấy nước tạo thành vòng xoáy mạnh để những thứ dơ bẩn dính trong mớ trùn bong ra. Sau đó bạn để lắng trong 1 phút rồi xả bỏ nước đó. Làm lại như thế thêm một lần nữa rồi cho nước mới vào gần đầy thau. Cho sủi khí 24/24. Những lần thay nước sau, không cần khuấy nước nữa mà chỉ cần vớt trùn ra, đổ bỏ lớp trùn đã chết, cho nước mới vào và lại thả trùn vào trở lại. Mỗi ngày, trước mỗi lần cho ăn ta phải thay nước trùn chỉ để đảm bảo vệ sinh nguồn thức ăn, một trong những yếu tố quan trọng trong việc nuôi Betta cảnh.

Nước nuôi cá Betta : nếu dùng nước máy thì nước phải được phơi ngoài trời ít nhất là 24h trước khi sử dụng

Chế độ thay nước : không nên có quan niệm cứng ngắt về chu kỳ thay nước cá. Chu kỳ này thay đổi theo tình trạng nước máy ban đầu, sức khỏe của cá và một số yếu tố ngoại cảnh như nơi đặt để cá có gần nơi ánh sáng mạnh hay yếu, có nhiều bụi bay vào hay không… Quan trọng là mỗi ngày khi ngắm cá, nên để ý xem có hồ nào nước ngã màu hay bị đục hơn những hồ khác hay không, ta sẽ ưu tiên thay những hồ này trước. Nếu không vấn đề gì thì trung bình mỗi tuần thay nước một lần là được.

Để cá luôn khỏe và sung mãn : Bình thường, các hồ nuôi được che chắn bởi những tấm chặn để cá không thấy mặt nhau, tránh cho chúng không bị tổn thương khi phải tấn công vào thành hồ do bản năng hiếu chiến của chúng. Nhưng nếu ta không cho chúng thấy mặt nhau quá lâu cũng không tốt. Mỗi ngày, trước khi cho ăn, nên dành ra 5 phút cho chúng thấy mặt nhau và phùng mang kè nhau. Điều này giúp cá củng cố bản năng hiếu chiến của chúng và giúp bộ đuôi không bị xếp lại quá lâu, làm tăng nguy cơ dính đuôi. Điều này đặc biệt quan trọng đối với dòng cá Halfmoon, loài cá mang vẻ đẹp ở bộ đuôi xòe căng 1800.

Lưu ý khi chọn nuôi Betta cảnh : đối với PKHM, độ căng 1800 của đuôi khá lâu bền. Nhưng đối với HM đuôi dài thì độ căng đuôi phụ thuộc nhiều vào độ tuổi của cá và môi trường sống của chúng. Do đó nước nuôi cá HM phải sạch, đảm bảo không có vi khuẩn có hại cho cá. Và khi ta chọn mua HM để nuôi, ta nên chọn cá còn tơ (khoảng 3 hay 4 tháng tuổi), bởi vì độ bung đuôi đẹp nhất của cá thường kéo dài từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 là tối đa, nghĩa là ta chỉ có thể sở hữu một chú HM đẹp trong vòng trung bình nửa năm. Đây cũng là điều khiến cho nhiều bạn tìm đến với cá Plakat HM, một loài có độ căng đuôi lâu bền hơn HM đuôi dài. Riêng mình nghĩ, cả HM và PKHM đều có nét hút hồn riêng của chúng, một bên là nét đẹp thướt tha, uyển chuyển đầy quyến rủ, một bên là linh hoạt mạnh mẽ đầy sức sống.

Sự Đa Dạng Đuôi Của Loài Cá Betta Cảnh

+ Cá betta Short tail (St – Đuôi ngắn):

Ngay từ xa xưa các chú cá Betta đều có dạng đuôi ngắn

+ Cá betta Veil tail (Đuôi màn):

Cá đuôi màn xuất hiện sau một thời gian dài bởi các nhà lai tạo cá Betta và nó đã chiếm lĩnh một phần lớn thị trường Betta trong thời gian khá dài.

+ Cá betta Roundtail (Đuôi quạt):

Dạng đuôi này là tiền đề cho loại đuôi Delta sau này. Đây là một bước tiến quan trọng của các nhà lai tạo+ Delta Tail (Đuôi Tam giác):

Đây là một dạng đuôi đẹp và lạ khi nó vừa xuất hiện bởi nhiều lý do : cạnh đuôi thẳng và đuôi có hình gần như tam giác, góc đuôi này nếu mở to và rộng bản ra trên 150 độ có thể được gọi là super delta và hơn nữa khi đạt 180 độ trở lên được gọi là Halfmoon hay Over Halfmoon.

+ Cá betta Đuôi Super Delta:

Đây là dạng đuôi tương tự như Delta nhưng với bản đuôi to hơn và đạt góc mở rộng hơn Delta, có thể lên 170 độ hoặc hơn.Super Delta còn được gọi là “Halfmoon Geno” bởi vì nó mang cùng gen với Halfmoon.

+ Cá betta Halfmoon (Đuôi nửa vầng trăng):

Cách đây chỉ khoảng 4-5 năm, Halfmoon là một dòng cá rất hiếm và quý, ngày nay với sự miết mài lai tạo của các nhà lai tạo Halfmoon đã có gần như đầy đủ các màu và giống cá, và là dòng cá tiêu chuẩn nhất trong tất cả các giống Betta đuôi dài hiện nay. Như tên gọi của nó đuôi Halfmoon có hình nửa vòng tròn đạt đến 180 độ hoặc hơn.

+ Cá betta Doubletail (DT – Đuôi kép):

Cá đuôi kép là một dang cá đột biến, bình thường cá có 1 vây đuôi thì ở cá đuôi kép có 2 vây đuôi tại gốc đuôi, hơn nữa vây lưng của cá đuôi kép có hình dạng đối xứng với vây hậu môn mà không có dòng cá nào có được hình dạng như vậy.

+ Cá betta Combtail (Đuôi lược):

Đuôi lược là dạng đuôi có các tia nhú ra ngoài màng đuôi, đây là loại cá có thể được tạo ra dễ dàng bằng cách lai 1 chú cá đuôi tưa và cá bình thường

+ Cá betta Crowntail (CT-Crowntail):

Đây là dòng cá của vùng Viễn Đông. Được lưạ chọn từ quá trình lai tạo giữa các giống Betta cho ra một dòng Betta Combtail mang tính trạng trội nổi bật đó là con Crowntail đầu tiên. Với các tua dài nhìn nổi bật. Giống Crowntail được phát hiện là con Crowntail có một chót, cho đến ngày nay Crowntail có nhiều chót hơn (2, 3, 4 và cả 8 chót).

+ Cá betta Rosetail (đuôi hoa):

Rose tail là một dạng đuôi được tạo thành do quá trình tuyển chọn đuôi của các nhà lai tạo, nó có giá trị cao trong việc cải thiện đuôi cho các con cá chia đuôi yếu (chia 2) tuy nhiên vẫn có rất nhiều nhà lai tạo ngại sử dụng dòng cá đuôi hoa này vì tính ổn định của chúng. Đây vẫn còn là 1 dạng đuôi gây tranh cãi. Tuy nhiên có thể nói đây vẫn là một dạng đuôi với chia đuôi cực tốt và nhiều dẫn đến vây đuôi của cá bị xếp lớp như cánh hoa chồng lên nhau hoặc bị triệt tiêu cả màng đuôi.

Ngoài các dạng đuôi trên vẫn còn một số dạng đuôi khác mà các bạn gặp phải trong lai tạo, tuy nhiên đó cũng chỉ là các dạng đuôi bị lỗi từ các dạng đuôi trên mà ra.

Nguồn ketviet

Cá Betta, Loài Cá Cảnh Đẹp Mang Nhiều Giá Trị

Cá betta còn có một vài tên gọi khác là cá lia thìa, cá đá, hay cá chọi. Loài cá cảnh đẹp này lần đầu tiên được tìm thấy tại các vùng nước nông ở Thái Lan.

Cá betta có hình dáng khá đẹp, với màu sắc rực rỡ, đặc biệt là với chiếc đuôi xòe rộng trông thật ấn tượng. Đặc tính của cá betta là khi trưởng thành chúng thường hay đá nhau, vì thế mà trẻ em và người lớn đều thích nuôi để làm thú tiêu khiển.

Tên khoa học: Betta Splendens Họ: Belontiidae Nguồn gốc: Thai Lan Kích cỡ khi trưởng thành: 7cm Tuổi thọ: 2-3 năm

Tầng nước: thích sống ở tầng nước trên Kích cỡ bể nuôi: tối thiểu là 15 lít nước Chế độ ăn: thích nhất là mồi sống, có thể ăn thức ăn đông lạnh hay viên nhỏ

Đặc điểm sinh sản: là loài đẻ trứng, làm tổ bằng bọt khí

Độ PH: 6.8 – 7.4 Nhiệt độ nước: 24-30°C

Cá betta được tìm thấy ở các nước Thái Lan, Việt Nam, Mã Lai, Campuchia, Indo­nesia và một số vùng ở Trung Quốc. Ngoài môi trường hoang dã, cá betta thích sống trên các cánh đồng lúa, các ao nước nông, thậm chí tại các dòng suối có dòng nước chảy chậm. Những nơi này nước thường có màu đục vì có nhiều bùn nên không phải là môi trường sống lý tưởng cho cá betta, nhưng cũng nhờ vậy mà cá betta có tính chịu đựng được môi trường sống khắc nghiệt rất cao.

Nhiều người nuôi cá betta không những chỉ để chiêm ngưỡng mà còn để đem thi đấu. Xét ở góc độ nuôi làm cảnh thì cá betta không thể so sánh với các loại cá quí tộc như cá dĩa, cá rồng, cá vàng. Nhưng, cá betta là loài cá đá có một không hai, chúng được nhiều người biết đến tại các hội chợ thi đấu cá diễn ra trên thế giới, nhất là ở Singapore. Tại hội chợ cá cảnh AQUARAMA 2005, số lượng cá betta từ các quốc gia mang về đây để tham dự đã bỏ xa các loài cá khác.

Một đặc điểm nữa của loài cá betta là chúng có một cơ quan hô hấp rất đặc biệt gọi là labyrinth mà hầu hết các loài cá khác không có. Nhờ cơ quan này mà cá betta có thể hít không khí trực tiếp từ mặt nước. Cũng nhờ vậy mà cá betta có thể tồn tại trong môi trường sống chật hẹp, có lượng ô xy thấp như trong các hũ keo nhỏ.

Cá betta có tính khí rất hung dữ, ngoài môi trường thiên nhiên chúng thường hay đánh duỗi đồng loại đi nơi khác. Nếu nuôi hai con cá betta trong hai hũ keo để gần nhau, chúng sẽ xòe vây đuôi để hăm dọa nhau. Cá betta trống thường lớn, có màu sắc rực rỡ hơn cá mái, đồng thời tính khí hung hăng hơn cá mái.

Cá betta có hình dáng và màu sắc đa dạng. Bộ phận nổi bật nhất của cá betta là vây đuôi. Vây đuôi cũng có nhiều loại. Dựa theo dạng vây đuôi người ta phân loại cá betta ra thành 5 loại: Halfmoon; Crowntail; Plakat; Doubletail và Wildtype.

Loại Halfmoon

Halfmoon là loại cá betta đẹp nhất với độ mở của vây đuôi là 180°. Các loại cá betta có độ mở của vây đuôi từ 120 – 179° gọi là Super Delta, từ 90 – 120° gọi là Delta, từ 180° trở lên gọi là Over Halfmoon với màu sắc và độ xòe rộng khác nhau. Phong trào nuối cá đá đã xuất hiện từ rất lâu.

Vào năm 1959 người ta đã cho nhân giống loại cá betta có vây đuôi khá rộng mà ngày nay gọi là Delta. Khoảng 20 năm sau, loại cá Super Delta được ra đời. Đến năm 1987, người ta đã nhân giống ra một loại cá betta có vây đuôi rộng tới 180°, và một nghệ nhân người Mỹ đã đặt tên cho loại cá này là Halfmoon (nửa vầng trăng).

Halfmoon là loại cá rất khó nhân giống, ngay cả khi cá bố mẹ là loại Halfmoon thuần chủng 100% thì chỉ 10% cá con là Halfmoon, số còn lại là Super Delta vì vây đuôi chưa đạt đến 180°. Hiện nay, Halfmoon là loại cá có giá trị nhất trong các loại cá betta.

Loại Crowntail

Crowntail được phát hiện vào năm 1997 ở miền Tây Indonesia. Crowntail cũng thuộc loại Halfmoon nhưng có vây đuôi bị tưa trông giống như vương miệng của vua. Có 3 loại Crowntail: Single Crowntail, Double Crowntail và Double Double Crowntail.

Loại Plakat (Fighter)

Plakat là loại cá đá phổ biến nhất trong dòng họ cá betta. Plakat được phát hiện trên các cánh đồng lúa tại Thái Lan cách đây hàng trăm năm. Có 4 loại Plakat:

1) Plakat đầu rắn thân dài (Channa Striata Bloch): loại cá này có tính khí rất hung dữ, có hàm răng rất sắc bén. Thân hình của Plakat khá dài, màu sắc pha tạp giữa đỏ, xanh lá cây và xanh dương. Đây là loại cá đá được ưa chuộng nhất hiện nay.

2) Plakat đầu ngắn thân mập (Anabas Testudineus): loại này cỏ thân mình khá mập, đầu rất ngắn. Đa số có màu đơn sắc như xanh dương, đỏ, xanh lá cây. Vây và vảy có màu giống nhau, đặc biệt vảy rất dày nên khó bị đối thủ cắn thủng. Tuy nhiên, loại này có lối đá rất chậm nên ít được dân chơi cá đá ưa chuông.

3) Plakat thân dài miệng cong (Chitala Ornata): loại này có hình dáng khá đẹp nhờ có thân mình thon thả, cân đối, vây hậu môn dài. Đây cũng là loại cá được Ưa chuông hiện nay.

4) Plakat lai: loại cá này được lai tạo từ loài cá betta hoang dã với các loại cá vừa kể trên.

Loại Doubletail

Doubletail ra đời sau Halfmoon nhưng có hình dáng hấp dẫn hơn nhiều so vđi loại Halfmoon. Doubletail được xem là một chủng loại Halfmoon, và được gọi là Doubletail Halfmoon. Doubletail Halfmoon có 2 phần vây đuôi riêng biệt nhau nhưng phẩn này lại xếp chổng lên phẩn kia, thân mình ngắn và rắn chắc, vây hậu môn và vây lưng khá dài. Doubletail Halfmoon là loại cá chiếm vị trí cao nhất trong các loại cá betta.

Loại Wildtype

Đây là loại cá có màu sắc đẹp nhất trong các loại cá betta hoang dã. Loại này sống ở đảo Borneo thuộc Malaisia. Kích thước tối đa của Wildtype là 5cm. Đặc tính sinh sản của Wildtype giống như loài cá betta thuần chủng, nghĩa là con trống canh giữ trứng cho tới khi trứng nở thành cá con.