Bể Cá Cảnh Betta Khổng Lồ

Bể cá cảnh betta khổng lồ – Đó là cá betta khổng lồ. Chúng kích thích sự tò mò của tôi bởi vì một trong những nhược điểm của cá betta xét trên phương diện cá cảnh đó là kích thước không to lắm.

Ngay khi tôi nghĩ rằng mình đã thấy hết mọi thứ, thì một dòng cá betta thuần dưỡng nữa lại xuất hiện tại Hội thảo của IBC ở Orlando vào năm 2002. Đó là cá betta khổng lồ. Chúng kích thích sự tò mò của tôi bởi vì một trong những nhược điểm của cá betta xét trên phương diện cá cảnh đó là kích thước không to lắm. Có một điều mà ai cũng nhất trí là khi mọi đặc điểm đều như nhau, thì con betta lớn hơn sẽ chiếm ưu thế khi chấm điểm và tôi tin rằng đó cũng là tiêu chuẩn chấm điểm của IBC.

Không có gì ngạc nhiên khi những con cá to hơn chiếm ưu thế trên thị trường cá cảnh ở khắp nơi trên thế giới và điều đó đã diễn ra từ rất lâu. Thú nuôi cá cảnh bắt đầu với việc nuôi những con cá chép sặc sỡ (cá vàng và chép Koi), cả hai đều có thể tăng trưởng đến kích thước rất lớn, và chúng là những loài phổ biến nhất ở khắp mọi nơi. Những loài cá phổ biến khác, đặc biệt ở phương Đông, là cá rồng (cá rồng châu Á), cá đĩa và những loài cichlid khác bao gồm cả cá La Hán, tức cá lai giữa các loài cichlid châu Mỹ. Cả cá đĩa lẫn La Hán đều đang được lai tạo với đủ mọi biến thể màu sắc khác nhau.

Chiều cao ở cầu thủ bóng bầu dục cũng rất rõ. Một cầu thủ cao khoảng 6,7 foot (2,04 m), nặng 325 pound (148 kg) mà chạy được đã là ước mơ của các huấn luyện viên vào những năm 50, nhưng ngày nay đa số huấn luyện viên đều có đến nửa tá hay hơn những cầu thủ như vậy. Ở những đội bóng chuyên nghiệp hay hầu hết những đội bóng của trường cao đẳng và thậm chí trung học đều có hàng hậu vệ gồm những cầu thủ nặng đến 300 pound (136 kg).

Nhưng ở đây chúng ta không bàn về những người cao to.

Vấn đề ở đây đó là có yếu tố hay sự kết hợp của nhiều yếu tố nào đó trong lối sống của chúng ta đã thúc đẩy sự tăng trưởng vượt bậc và không có gì lạ khi điều tương tự xảy ra với những loài thuần dưỡng khác, bao gồm cá nuôi. Ở cá betta, có mối liên hệ rõ rệt đối với những yếu tố như chất lượng nước và chế độ dinh dưỡng. Những người lai tạo cá kích thước lớn thường xuyên phải thay nước và xử lí bằng nhiều cách, chẳng hạn như lọc thẩm thấu ngược (reverse osmosis), cho thêm chất đệm để ổn định độ pH, cho thêm muối hay chất hoá học để khống chế ammonia, hay bất kỳ chất nào khác. Họ có thể nỗ lực hơn nữa bằng cách cho cá ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, đặc biệt là thức ăn tươi sống, bao gồm việc nuôi trùn trắng (whiteworm) và atermia hay là thường xuyên tới các cửa hàng cá để mua atermia, trùn kiếng (glassworm), trùn đen (blackworm). Những nỗ lực như thế này đảm bảo cho cá luôn ở trong tình trạng khỏe mạnh và đáp ứng tất cả các những gì chúng cần để phát triển tốt nhất.

Vậy cá betta khổng lồ là gì?

Tôi nhớ rằng những con betta này tham dự thể loại màu sắc và hình dạng; mặc dầu chúng có nhiều loại màu nhưng chỉ một số màu được đem trưng bày. Có những loại nền sẫm, cambodian, xanh dương, xanh lục, vài con non-red (vàng), đen, đỏ… Một số con vây bướm (phần giữa của vây một màu và viền bên ngoài màu khác). Tôi còn nhớ rất rõ một con vây bướm xanh dương và đen, tổng cộng có khoảng mười hai hay mười lăm con với màu sắc thường thấy ở cá betta thuần dưỡng hiện đại.

Đặc điểm nổi bật nhất của cá betta khổng lồ là kích thước của chúng. Con cá của tôi được đặt nick là “Bubba” (đại ca), cái tên dường như rất phù hợp với nó. Ảnh chụp không thể minh họa được kích thước của nó trừ khi chúng được đặt kèm vài vật chuẩn để so sánh mà tôi lại không tìm ra vật nào phù hợp. Ở đây, tôi sẽ cung cấp một bảng so sánh cho thấy sự khác biệt tương đối giữa cá hoang dã, cá thuần dưỡng bình thường và cá betta khổng lồ của tôi mà dường như cũng to tương đương những con khác tại triển lãm của IBC.

Bởi vì đuôi có độ dài thay đổi (tỷ lệ với thân) nên tôi đo chiều dài thân từ chóp miệng đến gốc đuôi (các nhà ngư loại học gọi là chiều dài chuẩn) trên ba con betta có kích thước trung bình lấy từ ba nhóm khác nhau để so sánh. Tôi sử dụng những con cá hoang dã điển hình mà tôi bắt được ở Malaysia và Việt Nam (tôi nghi ngờ những con bắt được từ nhiều vùng khác nhau ở Thái Lan bởi vì chúng thường có màu như cá thuần dưỡng và có khả năng là cá thuần dưỡng bị sổng, được thả hay cá lai). Tôi chọn một con có kích thước trung bình trong phòng nuôi cá của mình làm đại diện cho cá betta thuần dưỡng và sử dụng Bubba làm đại diện cho cá betta khổng lồ vì, theo tôi được biết, nó có kích thước chuẩn. Kết quả đo đạc của tôi như sau:

– Cá hoang dã: 3,2 cm (gần 1,35 inch)- Cá thuần dưỡng: 3,7 cm (gần 1,5 inch)- Cá khổng lồ: 6,6 cm (gần 2,6 inch)

Trong khi sự khác biệt về chiều dài của cá betta hoang dã và betta thuần dưỡng “bình thường” là không lớn lắm, thì sự khác biệt giữa chúng với cá khổng lồ là đáng kể. Betta thuần dưỡng dài gấp 1,156 lần so với cá hoang dã, trong khi betta khổng lồ dài gấp 2,06 lần, tức là hơn 2 lần cá hoang dã.

Một thông số khác có thể được dùng để so sánh là trọng lượng. Tôi đã cân chúng bằng một loại cân dùng trong phòng thí nghiệm và thu được kết quả như sau:

– Cá hoang dã :1,2 gam- Cá thuần dưỡng: 1,95 gam- Cá khổng lồ: 8,85 gam

Sự khác biệt về trọng lượng cũng là điều đáng nói. Betta thuần dưỡng nặng gấp 1,625 lần betta hoang dã còn betta khổng lồ nặng hơn rất nhiều, gấp 7,735 lần. Dĩ nhiên, có sự khác biệt về tỷ trọng thịt ở mỗi con tuỳ vào việc ruột của chúng có thức ăn hay không, kích thước bóng bơi, lượng mỡ trong cơ bắp và vân vân. Cũng vậy, khi cân cả con cá, vây cũng được tính và tổng trọng lượng vây của mỗi con cá thì không nhất thiết phải cùng tỷ lệ với trọng lượng toàn thân.

Tôi cũng thử đo thể tích của mỗi con cá bằng cách thả chúng vào ống xy lanh có vạch chia độ và cố gắng đọc thể tích nước bị chiếm chỗ nhưng vì thể tích nước tăng lên rất ít nên không thể đọc được. Tôi lưu ý rằng mỗi phương pháp được áp dụng ở đây đều có sai số, nhưng như bạn thấy đấy, nó minh chứng rõ ràng rằng cá betta khổng lồ lớn hơn đáng kể so với những con bình thường.

Di truyền của cá betta khổng lồ?

Một bầy lai với cá mái đuôi kép cambodian dính rất ít màu ánh kim. Bầy này rất đông nhưng không may chúng bị nhiễm nấm velvet khi gần một tuần tuổi và chết hết. Chúng còn quá nhỏ để phân loại vì vậy tôi đã bỏ lỡ cơ hội tìm hiểu về di truyền của những dòng cá cơ bản hay bất cứ dòng cá mới nào, đặc biệt là trường hợp cá khổng lồ lai với cá bình thường.

Tôi gặp may hơn với bầy cá khác. Con cá mái thứ hai có màu đa sắc xanh/đỏ từ dòng cá đuôi dài. Con này là con cháu qua nhiều thế hệ giữa một con trống xanh thép vây rất to mà tôi mua từ một cuộc đấu giá với một con mái đuôi kép xanh thép từ bầy cá của tôi, mà nó là con của cá trống đen đạt chuẩn của thành viên của IBC Dan Young với cá mái màu vàng đuôi kép đạt chuẩn mà tôi mua được từ cuộc đấu giá khác. Tôi không có thông tin cơ bản nào về những con cá mua từ cuộc đấu giá nhưng kiểu hình của chúng bao gồm vây dài, đuôi kép, đỏ toàn thân và non-red, xanh thép, cambodian và phân bố ánh kim toàn thân hay một phần.

Bubba (giờ đã quá cố) có vây ngắn xanh lục đa sắc với màu vàng (non-red) thay thế màu đỏ. Hai bầy cá đã cung cấp cho tôi hàng loạt đặc điểm để khảo sát. Bên cạnh việc lai cá khổng lồ với cá thuần dưỡng bình thường loại lớn hoặc nhỏ con, còn có thể lai cá vây dài với cá vây ngắn (bình thường), xanh dương với xanh lục (bình thường) có ánh kim, ánh kim toàn thân với ánh kim một phần (bình thường), non-red (vàng) với đỏ (bình thường). Mặc dù cả cá cha lẫn mẹ đều nền sẫm, bầy cá vẫn có những con nền sáng (cambodian) chứng tỏ cả cá cha lẫn cá mẹ đều mang gen lặn.

Kết quả mà tôi thu được từ bầy cá này hoàn toàn có thể đoán trước. Chúng đạt (ở khoảng 6 tháng tuổi) kích thước trung bình tương đương với kích thước tối đa của betta thuần dưỡng mặc dầu có vài con hơi lớn hơn. Lúc này, không con nào đạt kích thước gần bằng cha của chúng. Tôi nghe nói rằng cá betta khổng lồ có xu hướng tăng trưởng một khi đủ tuổi nhưng đấy là điều mà tôi phải kiểm chứng. Những con trống đều có vây dài (gen trội thừa hưởng từ cá mẹ) mặc dù đuôi không lớn như tổ tiên bên mẹ. Gen này không bộc lộ ở cá mái. Không có con đuôi kép nào.

Những gì tôi thu được từ bầy cá này là một dải màu vô cùng thú vị. Hầu hết đều có thể đoán trước từ màu sắc và kiểu gen của cá cha mẹ nhưng cũng có vài con mà tôi không thể đoán được. Mặc dù tôi không phân loại chúng nhưng tôi có thể kiểm tra “bằng mắt” xem có những màu gì. Tôi nghĩ cách dễ nhất để làm điều này là xem xét từng màu một như vậy số lượng cũng như mức độ đa dạng của chúng được kiểm soát tốt hơn.

1. Tỷ lệ trống mái dự đoán là 50% (mỗi loại). Chúng ta không thể phát hiện cá trống dị giao tử (heterogametic) [1] trong những nghiên cứu kiểu nhân (karyotype study) [2] và nhiều bầy cá có thể khác xa với tỉ lệ giới tính 1:1 vì vậy không cần thiết phải đạt được tỷ lệ này. Tỷ lệ giới tính sau cùng có thể phụ thuộc vào một số ảnh hưởng từ bên ngoài. Sự chuyển giới từ cá mái thành cá trống cũng diễn ra rất thường xuyên.

2. Tất cả cá đực từ bầy này đều có vây lớn nhưng mang gen vây ngắn từ cá cha. Nếu cá mái (cá mẹ) mang gen vây ngắn thì một nửa bầy cá sẽ có vây ngắn nhưng không con nào như vậy.

3. Màu ánh kim của cá trống là xanh lục và cá mái là xanh dương có nghĩa là một nửa bầy cá có màu xanh lục và một nửa có màu xanh dương (màu xanh dương là dị hợp tử). Đó là những gì đã xảy ra.

4. Phân bố ánh kim ở cá bố mẹ là trung bình. Mức độ phân bố ở bầy cá tương đối liên tục nhưng có thể chia làm 3 loại: dày đặc, trung bình và thưa. Điều kiện chăm sóc đối với cả ba loại trong bầy là như nhau và thực tế diễn ra đúng như vậy.

5. Cá cha mẹ có màu sẫm nhưng mang gen cambodian nền sáng. Điều này được chứng tỏ bởi sự xuất hiện của những con màu sáng trong bầy. Bởi vì nó đơn giản là gen lặn, theo lý thuyết sẽ có 25% cá con màu sáng và thực tế có vẻ đúng như vậy.

6. Cá mái có màu đỏ trong khi cá trống màu vàng (non-red). Sự xuất hiện của một nửa cá con non-red cho thấy rằng cá mái có gen non-red (sự hiện diện của bất kỳ cá non-red nào đều đòi hỏi phải như vậy). Tất cả cá con có ít nhất một alen non-red từ cha của chúng.

7. Tôi thu được vài cá thể mà tôi gọi là màu “Muối tiêu” nhưng tôi thật sự không thể hiểu được cấu trúc di truyền của chúng. Những con cá này có nhiều chấm nhỏ trên thân xen kẽ với vài đốm lớn hơn. Đây có lẽ là một loại cẩm thạch nhưng không có con cá cẩm thạch nào xuất hiện trong bầy.

8. Mặc dù không có con đuôi kép nào xuất hiện nhưng cá mẹ có thể mang nó như một gen lặn (di truyền từ dòng tộc của mình). Nếu có, nó sẽ truyền gen này cho một nửa bầy con mà chúng, nếu một con trong đó lai với con khác cũng mang gen đuôi kép, có thể tạo ra cá đuôi kép sau này.

9. Hành vi của chúng không được coi là ở mức trung bình nhưng có sự khác biệt hoàn toàn về mức độ hung dữ giữa các dòng betta thuần dưỡng khác nhau, đo đó nó có thể như vậy thật. Bề ngoài của Bubba trông như là một phiên bản to hơn của cá betta đuôi ngắn thuần dưỡng, loại được nuôi để đá. Tuy nhiên, nó không thể hiện sự hung dữ thái quá và cá mái là loại betta cảnh điển hình. Chúng sinh sản ngay lập tức và không gặp phải sự cố gì.

Bộ sưu tập bao gồm những đặc điểm khác nhau này (từ cá bố mẹ) chứa đựng những tiềm năng di truyền để tạo ra một dãy pha tạp kiểu gen và kiểu hình trong bầy cá. Trước đây tôi có đề cập đến một “dải màu thú vị” là nhờ vào khả năng này. Hãy xem xét tất cả các trường hợp khác nhau có thể xảy ra. Dải màu phân bố từ sáng và sẫm với rất ít ánh kim qua những biến thể kết hợp mà chúng ta gọi là đa sắc xanh dương và xanh lục (kèm theo đỏ hay vàng như những màu phụ) cho đến xanh dương và xanh lục đơn sắc nền sáng hay sẫm.

Hãy lấy một ví dụ, tôi có một vài con trắng phấn xanh rất đẹp. Để lai tạo ra chúng, tôi cần phải có kiểu gen xanh lục với thật nhiều ánh kim, nền sáng và non red. (ở đây, tôi không quan tâm tới những biến thể về dạng vây, kích thước cơ thể hay bất kì biến thể nào khác).

Bởi vì cách thức di truyền của mỗi đặc điểm phụ của kiểu hình, nên chúng không xuất hiện với cùng số lượng. Chúng ta có thể làm một thí nghiệm nhỏ sử dụng xác xuất để dự đoán khả năng hình thành của một đặc điểm cho trước. Lấy cá xanh phấn làm ví dụ: hy vọng một phần tư sẽ có nền sáng, một nửa xanh lục, một phần tư dính ánh kim và một nửa là non red. Kết quả thu được là 1/64. Tôi đã cung cấp một biểu đồ minh họa các kết hợp có thể xảy ra.

Măc dù cá betta khổng lồ có kích thước lớn, nhưng những con vây dài dường như không có tỷ lệ vây lớn hơn so với thân như thường thấy ở cá betta kích thước bình thường.Tôi không chắc là điều này thực sự có ý nghĩa như thế nào nhưng nó làm dấy lên một câu hỏi trong đầu tôi. Tôi tự hỏi phải chăng đây là hậu quả của việc xử lý hormon nào đó. Số mẫu thí nghiệm ít vì vậy tôi thừa nhận rằng một vài con cá trống vây dài ở đây không thể đại diện cho cả dòng cá. Tôi từng thấy điều tương tự ở cá betta bình thường. Dẫu vậy, tôi muốn thấy vài con có vây thật to tương tự những con betta cảnh kích thước bình thường đẹp nhất.

Có phải cá betta khổng lồ là có thật? Ý tôi là thực sự có loại gen betta khổng lồ hay không? Có phải chúng hình thành qua quá trình chọn lọc lâu dài và cẩn thận hay chỉ là kết quả của việc sử dụng một loại hormon tăng trưởng nào đó! Chúng ta có thể hy vọng vào sự phát triển đáng kể về kích thước ở cá betta cảnh không? Nếu vậy, chúng có sắp sửa được “cộng đồng” nuôi cá Betta chấp nhận không? Tôi chưa thể trả lời được những câu hỏi này. Tôi hy vọng có thể nói nhiều hơn sau thu được nhiều kết quả lai tạo và sau khi tôi tìm hiểu nhiều hơn về những người đã tạo ra chúng và lai bằng cách nào.

Ghi chú:1 – Heterogamete: hetero=dị, gamete=giao tử, heterogamete=dị giao tử (tức tế bào sinh dục khác nhau). Tuỳ theo sinh vật mà giao tử này có thể gọi là tinh trùng, trứng, giao tử đực, giao tử cái. Ví dụ, ở người, giao tử có thể hiểu là tinh trùng và trứng.

2 – Karyotype: karyo=nhân tế bào, type=kiểu, karyotype=kiểu nhân. Người ta phân biệt tế bào giữa các sinh vật thông qua số lượng và hình dạng nhiễm sắc thể (chromosome). Vậy kiểu nhân=kiểu nhiễm sắc thể chứa trong nhân (gồm hình dạng + kích thước + số lượng).

Bể Cá Cảnh Betta Cẩm Thạch (Marble)

Bể cá cảnh betta cẩm thạch (marble)- Cá cẩm thạch mang gen gen cẩm thạch được lai tạo trong các lọ đựng bơ đậu phộng bởi một tù nhân tên là Orville Gulley.

Câu chuyện như sau, Orville cố gắng tạo ra cá betta bướm đen và vô tình phát hiện ra gen cẩm thạch. Ông gửi vài con cho Walt Maurus, một thành viên IBC (và một số nhà lai tạo khác) người phát hiện ra vẻ đẹp của chúng và bắt đầu lai tạo dòng cá này. Chúng giống như những con ngựa Pinto trong thế giới cá betta với những vệt sẫm trên nền thân màu nhạt hay ngược lại. Con cá cẩm thạch đầu tiên có hai màu đen/trắng nhưng sau đó người ta phát triển thành vô số dạng màu khác nhau và dùng chúng để tạo ra những dòng cá betta mới.

Lai tạo cá cẩm thạch với nhau thường tạo ra cá đơn sắc nền sẫm, đơn sắc nền nhạt, cá bướm và cá cẩm thạch. Cá bướm đơn sắc xuất xứ từ dòng cẩm thạch sẽ có cùng đặc điểm di truyền với cá đơn sắc cũng ở dòng cẩm thạch; khi cá bướm lai với cá đơn sắc xuất xứ từ dòng đơn sắc, cá con sẽ mang gen bướm trội một phần.

Lai giữa cá đơn sắc nền sẫm hay đơn sắc nền nhạt xuất xứ từ dòng cẩm thạch sẽ tạo ra cá cẩm thạch, cá đơn sắc và cá bướm. Nếu gen cẩm thạch được giới thiệu vào dòng cá đơn sắc thì sẽ cực kỳ khó để quay trở lại dòng cá đơn sắc. Cá con sẽ luôn dính ít nhiều màu cẩm thạch hay màu lạ. Lai xa dòng cẩm thạch với dòng khác sẽ tạo ra hiệu ứng “cẩm thạch” trên màu sắc của các dòng đó.

Nếu gen nhảy tồn tại và nó chèn vào vị trí gen chịu trách nhiệm tạo ra sắc tố đen, nó sẽ làm ngưng việc sản xuất sắc tố đen từ đó các tế bào (và nhân bản của chúng) không thể tạo ra sắc tố đen. Điều này tạo ra những đốm chẳng hạn đốm trắng hay đốm mờ. Điều ngược lại cũng có thể xảy ra! Nếu tế bào không có khả năng tạo ra sắc tố đen bởi vì sự hiện diện của gen nhảy, và khi gen này dời đi thì tế bào (và các nhân bản của nó) lại có khả năng tạo ra sắc tố đen và màu đen lại xuất hiện. Đôi khi những đốm đen trên nền thân nhạt màu của cá cẩm thạch bỗng xuất hiện điểm trắng ở chính giữa (trông giống như con mắt). Điều này có thể giải thích một cách dễ dàng nếu bạn nghĩ rằng những tế bào nhân bản ban đầu không thể tạo ra sắc tố đen bởi vì sự hiện diện của gen nhảy (tạo ra nền thân nhạt màu) sau đó gen nhảy dời đi làm cho màu đen xuất hiện (tạo ra những chấm đen), rồi ở một số tế bào, gen nhảy quay lại và hạn chế sắc tố đen làm xuất hiện điểm trắng bên trong những đốm đen.

Lý thuyết về “gen nhảy” có thể được sử dụng để giải thích tại sao một số cá cẩm thạch lại không hề có hoa văn “cẩm thạch”. Nếu “gen nhảy” không chèn (trường hợp nền sẫm) hay dời đi (trường hợp nền nhạt) ở bất kỳ tế bào nào trong suốt quá trình sinh trưởng của cá thì hoa văn “cẩm thạch” sẽ không xuất hiện. Bây giờ, điều này cũng có thể xảy ra với những màu khác… chẳng hạn các màu xanh lục, xanh dương, xanh thép và đỏ. Gen nhảy sẽ chèn vào chuỗi gen và bật hay tắt khả năng tạo sắc tố ở những tế bào nhân bản.

Có rất nhiều bằng chứng cho thấy gen nhảy hay “yếu tố di chuyển” có thể là nguyên nhân tạo ra đặc điểm “cẩm thạch” ở cá betta. Sự xuất hiện của đặc điểm cẩm thạch có thể được lý giải bằng lý thuyết này. Nhưng để chứng minh nó có thể sẽ rất khó khăn. Có một điều chắc chắn luôn đúng: cho dù bạn có thích cơ chế di truyền của cá cẩm thạch hay không thì cũng phải thừa nhận rằng chúng rất đẹp. Và tất cả chúng ta đều yêu thích điều đó!

Bài này sẽ không thể hoàn thành nếu không có những kiến thức và nghiên cứu của những người hâm mộ cá cẩm thạch như Steve Saunders, Gene Lucas và Walt Maurus.

Nguồn diendancacanh

Bệnh Thường Gặp Của Cá Cảnh Betta

Cá cảnh Betta là loài cá có sức sống tốt. Nếu được sống trong môi trường tốt chúng sẽ không bị bệnh. Một số vấn đề thường gặp khi nuôi cá chọi trong bể cá cảnh như sau:

Chấn thương

Ngay cả khi trong bể các loài cá sống hài hòa thì chấn thương vẫn có thể xảy ra. Những con cá chọi có thể gây gổ tấn công bởi con đực tấn công con cái hoặc ngược lại hoặc giữa hai con cá đực hiếu chiến trong bể cá cảnh.

Vây và đuôi cá chọi betta là dễ bị tấn công bởi các loài cá cảnh khác trong bể cáTuy nhiên đây không phải là vấn đề nghiêm trọng vì vây và đuôi của chúng sẽ mọc trở lại nhanh chóng. Khi gặp trường hợp cá bơi không dung cách và tấn công nhau ta đặt chúng trong bể cách ly bởi các thông số nước tương tự và thêm một giọt thuốc khử trùng nước để tránh nhiễm trùng. Sau đó nuôi cá cho đến khi vây mọc lại khi đó ta sẽ để cá vào bể ban đầu.

Chú ý tới những vật trang trí trong bể cá, tránh bị xây xát, ta nên loại bỏ các trang trí cho cá bơi dễ dàng.

Khi cá bị chấn thương nghiêm trọng ta bỏ cá vào bể cá cách ly với nước thực sự sạch và trực tiếp làm sạch vết thương bằng một chất khử trùng như pha loãng Mercurochrome., điều trị cách này một lần một ngày, trong 3 hoặc 4 ngày.

Cá bơi lờ đờ

Khi cá bơi lờ đờ thường là bị nhiễm vi khuẩn, nhiễm ký sinh trùng hoặc táo bón, ngoài ra có thể cá bị thoái hóa. Chúng ta chỉ cần làm cho cá tiếp cận dễ dàng với các bề mặt nước, và chú ý tới mực nước trong bể cá phù hợp.

Bệnh đốm trắng

Đây là vấn đề thường xuyên nhất có thể phát triển trong một hồ cá, nó có thể được giải quyết dễ dàng miễn là điều trị của bạn là nhanh. Triệu chứng là các đốm trắng trên thân và vây, đẩy nhanh thở, chán ăn.Bệnh đầu tiên tấn công và cơ thể cá và mang, toàn thân bao phủ bởi đốm trắng, sau một vài ngày chúng lây lan sang các loài khác.

Khi cá bị bệnh nên tách riêng bể khác. Sau đó ta nâng nhiệt độ trong bể cao hơn bể cũ trong khoảng ba hoặc 4 tuần (80 ° – 82 °F) và thêm thêm một số giọt malachite xanh vào cả hai bể nuôi cá. Nhiệt độ cao giúp làm giảm tuổi thọ của bệnh đốm trắng trên mặt đáy bể cá.

Ngộ độc Amoniac

Bệnh này dễ gây chết cá trong bể cá cảnh một cách nhanh chóng nhất. Chúng ta phải nhanh chóng cân bằng cá yếu tố không tốt trong bể. Ví dụ như việc cá ăn quá mức làm bộ lọc quá tải. Cần thay đổi nước khoảng 50% trong 3-4 ngày và thêm than hoạt tính vào bộ lọc trong khoảng 5 ngày.

Khi cá bị ngộ độc sẽ bị mất cảm giác ngon miệng, cá bỏ ăn, thở nhanh và bị hôn mê. Nếu chắc chắn cá bị ngộ độc thì xét nghiệm nồng độ Nitrit và nirat nước trong bể cá.

Bệnh rách vây và thối đuôi

Trong điều kiện nước trong bể không tốt, các vi khuẩn sẽ phát triển nhanh chóng từ một chấn thương nhỏ trên cơ thể cá làm vây thối với những hiện tượng như vây bị thối, tia vây bị mủn ra xuất hiện những vết máu đỏ trên vây đối với cá cảnh.

Khi cá bị bệnh ta cho vào bể cách ly, chữa trị bằng thuốc kháng sinh và làm sạch vết thương sử dụng nước axit nhẹ ( PH 6) giúp chữa lành nhanh. Cũng làm sạch bể cá với những thay đổi nước và xanh methylene, sau đó sử dụng than hoạt tính.

Khi cá cảnh xảy ra những hiện tượng trên có thể giải quyết một số trường hợp với hóa chất, biện pháp khắc phục tại nhà:

1) Methylene Blue: là một chất khử trùng được sử dụng để chữa bệnh dự phòng, hoặc để chữa sán, nấm.

2) Malachite Green: được sử dụng cho bệnh đốm trắng và một số loại vi khuẩn khác.

3) Muối: sử dụng rất tốt khi cá bị nấm. Bỏ cá cho 15-30 phút trong một bể cá cảnh với một nửa muỗng cà phê muối vào 3,5l nước.

4) Formalin: có thể được sử dụng cho các ký sinh trùng bên ngoài. Bỏ cá trong 30 phút trong một bể với 1-4ml formalin trong 10.5l nước.

5) Tỏi: cho các bệnh đường ruột, bạn có thể thêm miếng nhỏ của tỏi để thức ăn cho cá đối với một số ngày. Tỏi là một chất kháng khuẩn tự nhiên. Tất nhiên hãy nhớ thay nước thường xuyên hơn trong thời gian này.

Hãy nhớ thay đổi nước sau khi điều trị kết thúc, và thêm carbon hoạt tính đặc biệt nếu bạn có các máy cho thức ăn trong hồ. Không thêm hoặc loại bỏ than hoạt tính trong điều trị! Trước khi điều trị lấy ra khỏi hồ cá ốc và các loài không xương sống khác.

Luôn luôn đưa cá mới vào bể cách ly ngay cả khi cá cảnh trông khỏe mạnh, để chúng ở đó trong 20 ngày và kiểm tra tình trạng của chúng. Cá từ các cửa hàng có thể phát triển bệnh dẫn đến giết chết cá của bạn.

Để ngăn chặn dịch bệnh, điều quan trọng là phải xác minh độ làm việc chính xác của các bộ lọc sinh học. Không vượt quá số lượng thức ăn cho cá, loại bỏ cá chết trong bộ lọc càng sớm càng tốt. Bạn còn phải nhớ để kiểm tra xem số lượng cá được cân đối với lượng nước: nếu số lượng cá quá cao là một trong những nguyên nhân đầu tiên của dịch bệnh.

Kinh Nghiệm Nuôi Betta Trong Bể Cá Cảnh

Thức ăn : Tốt nhất là nên cho ăn trùn chỉ. Đây là loại thức ăn bổ dưỡng, giúp cá phát triển toàn diện, dễ tìm và rẻ. Nếu biết cách, sẽ trữ được đến 4 ngày.

Cách rửa và trữ trùn chỉ : Khi mua trùn về, cho vào thau. Cho nước sạch vào, dùng tay khuấy cho trùn rã ra. Tay khuấy nước tạo thành vòng xoáy mạnh để những thứ dơ bẩn dính trong mớ trùn bong ra. Sau đó bạn để lắng trong 1 phút rồi xả bỏ nước đó. Làm lại như thế thêm một lần nữa rồi cho nước mới vào gần đầy thau. Cho sủi khí 24/24. Những lần thay nước sau, không cần khuấy nước nữa mà chỉ cần vớt trùn ra, đổ bỏ lớp trùn đã chết, cho nước mới vào và lại thả trùn vào trở lại. Mỗi ngày, trước mỗi lần cho ăn ta phải thay nước trùn chỉ để đảm bảo vệ sinh nguồn thức ăn, một trong những yếu tố quan trọng trong việc nuôi Betta cảnh.

Nước nuôi cá Betta : nếu dùng nước máy thì nước phải được phơi ngoài trời ít nhất là 24h trước khi sử dụng

Chế độ thay nước : không nên có quan niệm cứng ngắt về chu kỳ thay nước cá. Chu kỳ này thay đổi theo tình trạng nước máy ban đầu, sức khỏe của cá và một số yếu tố ngoại cảnh như nơi đặt để cá có gần nơi ánh sáng mạnh hay yếu, có nhiều bụi bay vào hay không… Quan trọng là mỗi ngày khi ngắm cá, nên để ý xem có hồ nào nước ngã màu hay bị đục hơn những hồ khác hay không, ta sẽ ưu tiên thay những hồ này trước. Nếu không vấn đề gì thì trung bình mỗi tuần thay nước một lần là được.

Để cá luôn khỏe và sung mãn : Bình thường, các hồ nuôi được che chắn bởi những tấm chặn để cá không thấy mặt nhau, tránh cho chúng không bị tổn thương khi phải tấn công vào thành hồ do bản năng hiếu chiến của chúng. Nhưng nếu ta không cho chúng thấy mặt nhau quá lâu cũng không tốt. Mỗi ngày, trước khi cho ăn, nên dành ra 5 phút cho chúng thấy mặt nhau và phùng mang kè nhau. Điều này giúp cá củng cố bản năng hiếu chiến của chúng và giúp bộ đuôi không bị xếp lại quá lâu, làm tăng nguy cơ dính đuôi. Điều này đặc biệt quan trọng đối với dòng cá Halfmoon, loài cá mang vẻ đẹp ở bộ đuôi xòe căng 1800.

Lưu ý khi chọn nuôi Betta cảnh : đối với PKHM, độ căng 1800 của đuôi khá lâu bền. Nhưng đối với HM đuôi dài thì độ căng đuôi phụ thuộc nhiều vào độ tuổi của cá và môi trường sống của chúng. Do đó nước nuôi cá HM phải sạch, đảm bảo không có vi khuẩn có hại cho cá. Và khi ta chọn mua HM để nuôi, ta nên chọn cá còn tơ (khoảng 3 hay 4 tháng tuổi), bởi vì độ bung đuôi đẹp nhất của cá thường kéo dài từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 9 là tối đa, nghĩa là ta chỉ có thể sở hữu một chú HM đẹp trong vòng trung bình nửa năm. Đây cũng là điều khiến cho nhiều bạn tìm đến với cá Plakat HM, một loài có độ căng đuôi lâu bền hơn HM đuôi dài. Riêng mình nghĩ, cả HM và PKHM đều có nét hút hồn riêng của chúng, một bên là nét đẹp thướt tha, uyển chuyển đầy quyến rủ, một bên là linh hoạt mạnh mẽ đầy sức sống.

Vấn Đề Gặp Của Bể Cá Cảnh Betta

Vấn đề gặp của bể cá cảnh betta, Trong quá trình nuôi cá Betta, sau 1 thời gian dài thế nào các bạn cũng sẽ đến vấn đề ” Mình muốn ép 1 cặp cá cho vui “

– Trong quá trình nuôi cá Betta, sau 1 thời gian dài thế nào các bạn cũng sẽ đến vấn đề ” Mình muốn ép 1 cặp cá cho vui ” .Thế là các bạn chạy đi lùng sục tất tần tật những nơi có thể kiếm được một chú cá mái đẹp và chuẩn để ép

– Thế nhưng thoạt nhìn những nhà lai tạo có tiếng các bạn cứ nghĩ là ép cá rất dễ, vấn đề chỉ nan giải ở giai đoạn làm sao nuôi cá con lớn lên và số lượng là bao nhiêu mà thôi. Điều này cũng có thể đúng nhưng cũng thực sự khó khăn cho bạn nếu bạn nằm trong trường hợp này : Bạn chỉ có duy nhất 1 cặp cá giống loại màu sắc hay hình dạng bạn thích mà bạn cho chúng ép hoài mà vẫn không thành công. Đó thật sự là 1 vấn đề cần phải quan tâm

– Một chú cá mái đẹp giá rất mắc thế nhưng để sở hữu được nó thì đâu phải dễ dàng gì và đâu phải có sẵn cho bạn lựa chọn bất kỳ lúc nào mà có khi bạn phải chờ đợi hay đặt hàng 1 thời gian dài mới có con mái ưng ý ( mặc dù bạn đang sỡ hữu 1 chú cá trống rất đẹp và đang nôn nóng cho lai tạo ).

– Thế nhưng 1 số nhà lai tạo lại chỉ bán ra cá mái có hình thể và tháng tuổi còn non ( 1 điều làm nản những người nóng vội ). Lúc này bạn phải đem về chăm sóc thêm 1 thời gian dài mới có thể cho lại tạo được, quá trình nuôi thúc chúng mang trứng quả là 1 kỳ công, bạn phải chăm sóc chúng kỹ đến dường nào nhằm mong muốn chúng sẽ cho mình những ông chủ yêu cá của chúng 1 bầy con thật đông đúc và khoẻ mạnh. Một chặng đường gian nan trước khi có thể cho lai tạo từ bệnh tật đến những lý do khách quan như cá nhảy ra ngoài hay thời tiết thay đổi đột ngột … mà chúng ta cần tránh cho chúng

– Thế rồi ngày chúng ta mong đợi nhiều nhất đã đến, lúc này cá đã căng trứng và có thể đẻ. Bao hy vọng dồn vào chúng từ việc chuẩn bị hồ ép và cả thức ăn trước cho lũ cá con đều được quan tâm. Lúc này các bạn , tất cả chúng ta ai cũng mong muốn chúng ép thành công. Thế nhưng có 1 điều sẽ dễ làm các bạn hụt hẫng trong quá trình lai tạo. Lúc này có nhiều vấn đề xảy ra trong hồ ép , sau đây là 1 số trừơng hợp các bạn tham khảo qua xem đó là 1 kinh nghiệm vì hầu như tất cả những người ép cá Betta dù sớm hay muộn cũng gặp phải trường hợp này :

+ Cá trống mất khả năng sinh sản ( ko cuộn quanh người cá mái được , cá quá dữ chỉ biết cắn, rượt cá mái, cá đẻ rồi nhưng ko biết giữ trứng,cá trống ăn trứng, trứng ko nở, trừơng hợp khác là cá con nở nhưng cá trống lại không biết cách chăm con)

+ Cá mái căng trứng nhưng không chịu đẻ

+ Cá mái quá dữ , đánh cá trống chạy mất dép 

+ Cá mái ăn trứng trong lúc sinh sản

– Trường hợp cá trống còn khá non và nhỏ con hơn cá mái ½ thì chúng ta vẫn có thể cho ép bình thường (khi cần giữ dòng cá gấp ) nếu như cá trống ko bị cá mái đánh bại

– Chỉ một vấn đề nhỏ trong việc lai tạo cá Betta thôi mà đã có rất nhiều vấn đề phát sinh rồi thì các bạn có thể thấy chúng không hoàn toàn dễ lai tạo như các bạn nghĩ. Một kinh nghiệm của tôi và của nhiều người bạn sau nhiều năm chơi Betta và cá lia thia chọi của mình đúc kết ra rằng thông thường những cá thể chọi bình thường chúng ta cho lai rất dễ, cá trống và mái đều sinh sản rất tốt nhưng khi chuyển qua Betta cảnh thì một vấn đề gặp phải là cho chúng sinh sản thực sự là một vấn đề nan giải. Những chú Betta cảnh càng đẹp thì lại càng khó lai tạo, điều này có thể lý giải 1 cách dân dã như anh em chơi Betta chúng tôi hay nghĩ là : có lẽ do khi lai tạo chúng ta đã quá chú tâm đến hình dáng màu sắc của chúng mà vô tình làm thái hoá đi bản năng tự nhiên, khả năng sinh sản, chăm con của chúng. Vì vậy khi lại tạo 1 dòng nào chúng ta ưa thích thì 1 điều khá quan trọng là : Khả năng sinh sản và chăm con của những con cá cha mẹ đó như thế nào để chúng ta còn suy nghĩ có nên tiếp tục 1 dòng cá KHÓ KHĂN trong sinh sản đó không.

Nguồn betta.ketviet