Sinh Sản Nhân Tạo Giống Cá Bông Lau

Chọn cá bố mẹ

Cá bố mẹ được chọn ngoài tự nhiên từ các xuồng câu, chọn những cá thể khỏe mạnh, ít xây xát, giữ các cá trong bể có sục khí liên tục 3 – 4 ngày cho cá khỏe hoàn toàn rồi vận chuyển đi nuôi thuần dưỡng. Cá được nuôi chung với một số loài cá háu ăn như chép, mè vinh với mật độ 5 – 10 kg/m3. Dùng thức ăn viên với hàm lượng đạm 28 – 30%, khẩu phần ăn hàng ngày 2 – 3%.

Sau đó nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ trong bè đặt trên sông, kích thước (8x4x3)m= 96 m3, bè được đặt nổi và neo trên sông cố định, nơi có dòng chảy thẳng và liên tục. Nơi đặt bè không ảnh hưởng đến giao thông, nước sông nơi đặt bè không bị phèn, mặn, xa cống nước thải và thuận lợi trong giao thông, vận chuyển thức ăn.

Cá bố mẹ chọn nuôi được đánh số thứ tự cho cá bố mẹ bằng que nhọn đầu đánh số lên đầu của cá (dùng số thường đánh cho cá cái, số la mã đánh cho cá đực). Mùa vụ nuôi vỗ cá bố mẹ từ tháng 12 năm trước đến giữa tháng 11 năm sau. Cá thành thục và bước vào sinh sản từ tháng 8. Mùa cá đẻ kéo dài đến đầu tháng 11.

Thụ tinh nhân tạo

Ở cá bông lau nhìn bên ngoài rất khó phân biệt đực cái. Khi đến mùa sinh sản mới có sự biểu hiện ra bên ngoài, cụ thể cá đực có lỗ sinh dục dạng hơi tròn lồi ra, còn cá cái lỗ sinh dục hơi lõm vào hơn so với cá đực.

Chọn cá đực là những cá thể khỏe mạnh, vuốt ở mặt bụng gần lỗ sinh dục có tinh màu trắng sữa chảy ra. Chọn cá cái là những cá thể có bụng to, dùng que thu trứng quan sát tế bào trứng khi thấy hạt trứng to, tương đối đồng đều, dễ tách rời nhau, đo kích thước tế bào trứng phải đạt trung bình từ 1,3 mm trở lên, không có trứng non. Những năm qua, do cá đực thành thục chưa tốt nên tỷ lệ đực cái nên chọn là 2:1 hoặc 3:1.

Cho cá đẻ trong bể xi măng có thể tích (3x5x1)m=15 m3, mực nước sâu 0,8 -1m chứa 6 – 10 con cá bố mẹ có khối lượng trung bình 3,5 kg/con. Cá bông lau không đẻ tự nhiên trong bè do đó phải tiêm kích dục tố để kích thích cho cá rụng trứng. Sử dụng kích dục tố HCG kích thích cá sinh sản nhân tạo như cá tra, basa. Sử dụng phép tiêm nhiều lần cho cá cái để kích thích tế bào trứng hấp thu được chất kích thích làm tăng kích thước đường kính trứng đến mức tối đa vì đây là loài cá của sông Mêkông có đường di cư dài nên chúng cần được tiêm nhiều lần dẫn với thời gian dài để cho tế bào trứng được chín đồng đều hơn.

Trong 3 – 5 liều dẫn đầu tiên sử dụng kích dục tố HCG ở mức bằng nhau 500 UI/kg, khoảng cách giữa các lần tiêm là 24 giờ. Khi trứng đã đạt mức tối đa thì tiêm liều sơ bộ với liều lượng 1.000 – 1.500 UI/kg, khoảng cách từ liều dẫn đến liều sơ bộ cũng 24 giờ. Cuối cùng là liều quyết định với mức sử dụng 5.000 UI, khoảng cách từ liều sơ bộ đến liều quyết định 8 – 10 giờ. Liều tiêm cho cá đực 2.000 – 3.000 UI/kg cùng thời gian tiêm liều quyết định của cá cái. Thời gian hiệu ứng kích thích tố từ lúc tiêm liều quyết định đến khi rụng trứng 9 – 12 giờ.

Kiểm tra cá, dùng khăn sạch lau khô toàn thân, nhất là vùng bụng cá, dùng tay vuốt từ phía sau đầu cá chạy dọc theo 2 lườn bụng đến điểm cuối là lỗ sinh dục thì thấy trứng chảy thành dòng từ lỗ sinh dục cá cái. Ở cá đực, tinh cũng thoát ra từ lỗ sinh dục có màu trắng sữa. Trước khi thấy dấu hiệu rụng trứng thì tiến hành thu tinh cá đực trước; tinh được giữ trong nước muối sinh lý 0,9%. Dùng xilanh hút 2 ml nước muối sinh lý, sau đó hút 0,5 ml tinh bảo quản ở nhiệt độ thấp để kéo dài thời gian sống của tinh trùng.

Sau đó tiến hành vuốt trứng, bằng phương pháp thụ tinh khô, dùng lông gà quấy đều trứng và sẹ (tinh dịch), trong lúc quấy đều hỗn hợp trứng và sẹ cho thêm nước sạch vào từ từ và tạo điều kiện cho tinh trùng hoạt động, tăng xác suất thụ tinh cho trứng. Cá bông lau là loài cá rất yếu. Vì thế quá trình kiểm tra sự thành thục cũng như chọn lựa cá bố mẹ cho sinh sản thì thao tác phải nhanh, nhẹ nhàng. Chỉ được phép đưa cá vào băng ca kiểm tra và tiêm kích dục tố ngay dưới nước. Đối với cá cái, thời gian hiệu ứng kích thích tố là 12 giờ tính từ khi tiêm liều quyết định.

Ương cá

Cá bột bông lau sau khi nở 24 giờ thì tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, chủ yếu là động vật phù du. Ương cá bông lau chia thành 2 giai đoạn.

Giai đoạn 1, sau khi nở 24 giờ, cá bột được ương trong bể composite, mỗi bể thể tích là 1m3, mật độ từ 300 con/m3. Thay nước trong quá trình ương mỗi ngày một lần, mỗi lần 20 – 30% lượng nước trong bể. Trong 10 ngày đầu cho ăn Moina hoặc Moina kết hợp với Nauplius của Artemia. Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20 cho ăn Moina kết hợp với thức ăn dạng bột mịn 40% đạm. Từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 30 cho ăn thức ăn mảnh 40% đạm. Sau 30 ngày tuổi cá đạt 0,21 – 0,7 g và dài 28 – 45 mm. Tỷ lệ sống của cá sau 30 ngày tuổi đạt 30,8 – 90,8%.

Giai đoạn 2, có thể ương cá bột trong bể composite thể tích 1 m3 với nhiều mật độ khác nhau như: 50, 100 hay 200 con/m3. Dùng một loại thức ăn viên có hàm lượng đạm 40%, sau 60 ngày tuổi cá đạt trọng lượng 3,2 – 3,5 gam/con, tương đương chiều dài 72,2 – 73,3 mm, tỷ lệ sống 10,9 – 98%.

Việc xác định thời gian hiệu ứng nhằm theo dõi chính xác thời điểm rụng trứng để tiến hành sinh sản nhân tạo được kịp thời. Trứng cá bông lau thuộc loại trứng dính nên sau khi cá đẻ, trứng được khử dính bằng dung dịch Tanin, sau đó được rửa lại bằng nước sạch và đem ấp trong bình Weiss sau 24 – 25 giờ thì trứng nở ở nhiệt độ 28 – 300C.

Theo Thành Công, Thủy sản Việt Nam

Nguồn

Tại hội thảo, các đại biểu được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất giống và ương cá bông lau. Qua đó, các đại biểu cũng trao đổi và chia sẻ một số kỹ thuật nuôi cá bông lau như: cải tạo ao, chọn giống, phòng và trị bệnh trên cá và cách quản lý môi trường ao nuôi cá.

Tiến sĩ Nguyễn Quang Trung – Chủ nhiệm dự án cho biết: “Mục tiêu của dự án nhằm xây dựng thành công mô hình nuôi cá bông lau trong ao đất, góp phần tăng thu nhập cho các hộ nuôi thủy sản, phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản ở tỉnh Sóc Trăng; đồng thời, đa dạng hóa các đối tượng nuôi cho người dân, góp phần bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh”.

Tuyết Xuân Nguồn

Ông Nguyễn Văn Kiệt, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đã thành công với mô hình nuôi cá bông lau, mỗi ông Kiệt thu khoảng 1 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Văn Kiệt, 56 tuổi ngụ ấp Vàm Hồ, xã An Thạnh Nam, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng nhiều năm nay thành công với mô hình nuôi cá bông lau-loài cá đặc sản có cái miệng rộng. Năm 2024 này, gia đình ông Kiệt thu khoảng 1 tỷ đồng tiền lãi từ nuôi cá bông lau.

Chúng tôi đã vượt trên 40 km đường giao thông nông thôn tương đối khó khăn trên huyện Cù Lao Dung để tìm hiểu về mô hình nuôi cá bông lau duy nhất, rất thành công của ông Nguyễn Văn Kiệt, 56 tuổi ngụ ấp Vàm Hồ, xã An Thạnh Nam-xã cuối cùng trên cù lao nằm giữa sông Tiền và sông Hậu.

Anh Dương Thanh Tràng, cán bộ nông nghiệp xã An Thạnh Nam cho biết : ” Ông Kiệt là người đầu tiên áp dụng mô hình nuôi cá đặc sản bông lau trên địa bàn huyện. Sau này, có nhiều người cùng làm theo nhưng không thành công nên chán, bỏ nghề, chỉ còn ông Kiệt vẫn duy trì và phát triển tốt, nên năm nào nuôi cũng trúng lớn, vậy mới ngon… “.

Biết được đặc điểm trên, từ năm 2011, trên diện tích 8.000m2 mặt nước ( 8 công), ông Kiệt thả nuôi 12.000 con cá giống bông lau với giá mua 5.000 đồng/con từ các ghe tàu đánh bắt ngoài sông lớn. Sau 2 tháng nuôi, ông xuất bán khoảng 5.000 cá con giống với giá từ 12.000 đến 15.000 đồng/con; số còn lại ông nuôi thêm 10 tháng nữa và xuất bán được 8 tấn với giá 100.000 đồng/ký. Ở vụ nuôi đầu tiên này, sau khi trừ hết chi phí, ông Kiệt đã lãi được 800 triệu đồng từ tiền bán cá bông lau giống và cá bông lau thịt.

Ông Kiệt cho biết một số kinh nghiệm nuôi cá bông lau đặc sản: ” Mùa cá bông lau sinh sản thường từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Thời điểm này nguồn cá giống trên các sông khá nhiều. Vì vậy, muốn nuôi cá bông lau, lúc này người nuôi thu mua nguồn cá giống từ những người làm nghề đăng lưới, đẩy xiệp ven sông lớn, trên các bãi bồi dưới chân rừng ngâp mặn. Nguồn con giống các bông lau ngoài tự nhiên khá nhiều, người nuôi chỉ tốn công ương dưỡng. Thức ăn cho cá bông lau chủ yếu từ nguồn cá vụn nên cũng dễ tìm và chi phí thấp… “.

Từ năm 2014 đến nay, ông Kiệt đã chuyển hoàn toàn sang phương án nuôi và bán cá bông lau thịt. Ông lý giải: ” Hiện nay nguồn cá giống bông lau bị săn bắt ráo riết ngoài tự nhiên với đủ loại dụng cụ đánh bắt. Cá này thường rất yếu và độ rủi ro cao dễ dẫn đến hao hụt cho người nuôi. Cạnh đó, tôi chỉ mua loại cá bông lau đạt chuẩn để nuôi bán cá thịt. Làm vậy để cho ” chắc ăn” lại vừa góp phần không để cá con bị tận diệt rất oan uổng”.

Ông Kiệt chia sẻ thêm: ” Nuôi cá bông lau phải hết sức chú ý đến các loại dịch bệnh dễ phát sinh như đầy ruột, trắng chúng tôi nuôi cá bông lau phải sạch sẽ, thông thoáng…Mỗi ngày cá bông lau ăn 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều. Nếu nuôi nhiều thì dùng thức ăn là cám viên công nghiệp cho cá bông lau. Nếu nuôi đúng chuẩn thì sau 12 tháng, cá bông lau sẽ đạt trọng lượng từ 1-1,2 ký/ con… “.

Năm 2024, ông Kiệt đã xuất bán được 11 tấn cá bông lau với giá 110.000 đồng/ký, trừ hết chi phí, ông đã lãi ròng trên 800 triệu đồng. Năm 2024, ông Kiệt thu hoạch ước đạt 12 tấn cá bông lâu, với giá thương lái thu mua đặt cọc là 135.000 đồng/ký, ông Kiệt thu lãi 1 tỷ đồng.

Thừa thắng xông lên, trong năm 2024, từ nguồn lãi nuôi cá bông lau tích cóp các năm trước, ông Kiệt đã thuê thêm 40.000m2 mặt nước cạnh sông Tiền để thả nuôi 300.000 con tôm càng xanh và trăm ngàn con cá tra. Tôm càng xanh, cá tra càng về cuối năm 2024 giá bán càng tốt, ông Kiệt lãi ròng 1 tỷ đồng từ 2 loài thủy sản này.

Tựa bài do enternews đặt Theo Dân Việt Nguồn

Ông Lâm Văn Bình, ấp Giồng Bàng, xã Long Vĩnh, huyện Duyên Hải (Trà Vinh) vừa thu hoạch hơn 2 tấn cá bông lau thương phẩm được nuôi trong diện tích gần 2 ha ao nuôi tôm sú, đạt lợi nhuận trên 500 triệu đồng. Đây là mô hình nuôi thủy sản mới, có nhiều ưu thế để nhân rộng, tăng thu nhập cho nông dân.

Ông Lâm Văn Bình cho biết, xuất phát từ nghề nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng bán thâm canh gặp nhiều rủi ro, qua tìm hiểu, năm 2024, ông mạnh dạn chuyển sang nuôi cá bông lau. Với diện tích 3 ao, tổng diện tích gần 2ha mặt nước, ông thả nuôi 20.000 con cá giống, sau 1 năm nuôi, cá đạt trọng lượng từ 1,2 – 1,5 kg, giá bán 130.000 đồng/kg, trừ chi phí, lãi ròng trên 500 triệu đồng.

Theo ông Bình, từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, là mùa cá bông lau sinh sản nên nguồn cá giống trên các sông khá nhiều. Vì vậy, muốn nuôi cá bông lau, người nuôi phải “đặt hàng” nguồn con giống từ những người làm nghề đăng lưới, đẩy xiệp ven sông, trên các bãi bồi dưới chân rừng đem về ương dưỡng đạt kích cỡ như cá tra giống mới thả nuôi. Nguồn con giống tự nhiên khá nhiều, người nuôi chỉ tốn công ương dưỡng. Cá bông lau dễ nuôi, ít bệnh nên không tốn nhiều công chăm sóc. Thức ăn cho cá bông lau chủ yếu từ nguồn cá vụn nên cũng dễ tìm và chi phí thấp.

Hiện nay, ngoài việc tiếp tục nuôi cá bông lau, ông Bình còn ương dưỡng hơn 20.000 con cá bông lau để bán cá giống cho các hộ tại địa phương chuyển đổi nghề nuôi tôm. Cá bông lau giống được ông bình bán với giá 20.000 đồng/con.

Ông Trần Quốc Đoàn, Quyền Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Duyên Hải cho biết, hiện nay mô hình nuôi cá bông lau đã được nhân rộng thêm 7 hộ dân trong xã Long Vĩnh, với diện tích 3,2 ha, số lượng cá giống hơn 49.000 con. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện đã có kế hoạch hỗ trợ cho nông dân về mặt kỹ thuật từ việc dưỡng con giống đến quá trình nuôi nhằm đảm bảo tính hiệu hiệu quả.

Cá bông lau có giá trị kinh tế cao trên thị trường hiện hiện nay. Vì vậy, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện có kế hoạch đưa đưa cá bông lau vào danh sách vật nuôi trong chương trình đa dạng hóa con nuôi cho nghề thủy sản của huyện. Đơn vị cũng đang đề Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện tỉnh, Sở Công Thương hỗ trợ thêm về mặt xây dựng qui trình kỹ thuật, tìm đầu ra cho cá bông lau thương phẩm để khuyến khích các hộ dân nhân rộng mô hình thay thế diện tích nuôi tôm quảng canh, bán thâm canh vùng nước ngọt trong mùa mưa và nước lợ trong mùa nắng không đảm bảo hiệu quả.

Theo Dân tộc & Miền núi Nguồn

Nuôi Cá Bông Lau Giống Tự Nhiên

Anh Nguyễn Tâm Đăng (32 tuổi, ở xã Phú Tân, H.Tân Phú Đông, Tiền Giang) là người đầu tiên thành công trong việc nuôi cá bông lau bằng nguồn giống tự nhiên với quy mô lớn.

Anh Đăng sinh ra và lớn lên tại vùng đất ven biển Tiền Giang – nơi có nhiều loài cá da trơn đặc trưng của vùng ĐBSCL. Vậy mà năm 2007, anh phải bỏ ra hơn 800.000 đồng mua con cá bông lau nặng 7 kg đãi bạn bè. Anh Đăng nói rằng chính việc này đã làm anh suy nghĩ tại sao loài cá có giá trị kinh tế cao như vậy mà chưa ai đầu tư nuôi, trong khi nguồn con giống đã có sẵn ngoài tự nhiên. Suy nghĩ đó đã thôi thúc anh bỏ ngang chuyện học ngành cơ khí (Trường ĐH Bách khoa TP.HCM), về quê lao vào nghiên cứu con giống, xây dựng mô hình nuôi cá bông lau.

Qua tìm hiểu nhiều tài liệu, anh được biết các loài cá da trơn như cá bông lau, cá dứa, cá tra bần… có giá cao, nhiều người ưa chuộng nhưng ngày càng hiếm ngoài tự nhiên. Đến nay, các công trình nghiên cứu cũng như mô hình lai tạo con giống, thuần dưỡng các loại cá này chưa nhiều. Anh Đăng kể do hiểu biết còn hạn chế nên trong lần mua cá giống đầu tiên, anh bị lừa mua nhầm giống khác. Thất bại nhưng không nản, cứ tới mùa anh lần theo ghe đánh bắt ngoài cửa sông để tìm mua nguồn cá giống tự nhiên. Tuy nhiên, dù anh đã làm mọi cách nhưng cá đưa lên khỏi sông chưa bao lâu thì bị chết hàng loạt. Số còn lại anh đem về, chăm sóc với chế độ đặc biệt trong ao đất vẫn không sống được. “Trải qua nhiều lần thất bại, tôi đã tích lũy thêm kinh nghiệm nuôi cá giống, nhờ đó tỷ lệ cá chết mới giảm dần”, anh Đăng chia sẻ.

Thuần dưỡng thành công

Đến vụ nuôi năm 2010 – 2011, anh Đăng đã thuần dưỡng khoảng 100.000 con giống cá bông lau, cá dứa, cá tra bần. Sau khi chọn ra nguồn giống khỏe, anh thuê luôn 10 ha đất ở xã Phú Tân thả nuôi thử nghiệm khoảng 23.000 con giống. Thạc sĩ Huỳnh Hữu Ngãi, cán bộ nghiên cứu thuộc Trung tâm quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam bộ (Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 2), cho biết: “Để đảm bảo khả năng sống và phát triển, ngay cả đàn cá bông lau bố mẹ và cá hậu bị của trung tâm cũng phải được thuần dưỡng trong bè nuôi ở khu vực nước sạch có dòng chảy”. Vậy mà với kỹ thuật của mình, sau khoảng 12 tháng nuôi bằng thức ăn công nghiệp, đàn cá nuôi thử nghiệm trong ao nước tĩnh của anh Đăng đã đạt trọng lượng 1 – 1,2 kg/con. Kết thúc vụ nuôi này, anh thu hoạch được khoảng 20 tấn cá thương phẩm. Đầu vụ nuôi 2012 – 2013, anh Đăng tiếp tục thả nuôi hơn 31.000 con giống cũng từ nguồn khai thác tự nhiên, hiện cá đạt trọng lượng bình quân 1 kg/con. Anh cũng đang chuẩn bị khoảng 500.000 con giống cá da trơn cho vụ nuôi 2013 – 2014 để đủ cung ứng cho các đơn đặt hàng.

Dù đem con giống ở sông về nuôi trong ao nhưng anh Đăng muốn các loại cá này có chất lượng thịt gần giống với cá lớn lên trong tự nhiên. “Để đạt được điều đó, mô hình nuôi tối thiểu phải là bán thiên nhiên trên diện tích rộng, nguồn nước cần thay đổi thường xuyên và quan trọng nhất là trong quá trình nuôi không được sử dụng thuốc, chất hóa học”, anh Đăng nói.

Nguồn: chúng tôi được kiểm duyệt bởi Farmtech VietNam.

Sinh Sản Nhân Tạo Thành Công Giống Cá Bông Lau

Quy trình sản xuất giống cá bông lau nhân tạo vừa được Thạc sỹ Huỳnh Hữu Ngãi, Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Nam Bộ (Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 2) nghiên cứu thành công và triển khai nhân rộng cho cán bộ kỹ thuật và nông dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm góp phần khôi phục đàn cá tự nhiên, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, chủ động nguồn giống cho người nuôi thương phẩm và tạo ra hiệu quả kinh tế cho người sản xuất giống.

Chọn cá bố mẹ

Cá bố mẹ được chọn ngoài tự nhiên từ các xuồng câu, chọn những cá thể khỏe mạnh, ít xây sát, giữ các cá trong bể có sục khí liên tục từ 3-4 ngày cho cá khỏe hoàn toàn rồi vận chuyển đi nuôi thuần dưỡng. Cá được nuôi chung với một số loài cá háu ăn như cá chép, mè vinh với mật độ từ 5-10 kg/m3. Dùng thức ăn viên với hàm lượng đạm từ 28-30%, khẩu phần ăn hàng ngày từ 2-3%.

Sau đó tiến hành nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ trong bè đặt trên sông nước chảy. Bè nuôi vỗ cá bông lau bố mẹ có kích thướt 8x4x3 mét = 96m3, bè được đặt nổi và neo trên sông cố định, nơi có dòng chảy thẳng và liên tục. Nơi đặt bè không ảnh hưởng đến giao thông trên sông, nước sông nơi đặt bè không bị phèn, mặn, xa các cống nước thải và thuận lợi trong giao thông, vận chuyển thức ăn.

Cá bố mẹ chọn nuôi vỗ phải là những cá thể khỏe mạnh, ngoại hình cân đối, không bị dị hình, khối lượng từ 2,5 kg trở lên. Mật độ nuôi vỗ cá bố mẹ là 5 kg/m3 bè. Đánh số thứ tự cho cá bố mẹ bằng que nhọn đầu đánh số lên đầu của cá (dùng số thường đánh cho cá cái, số la mã đánh cho cá đực). Mùa vụ nuôi vỗ cá bố mẹ bắt đầu từ tháng 12 năm trước kéo dài đến giữa tháng 11 năm sau. Thời gian cá thành thục và bước vào sinh sản từ tháng 8, mùa cá đẻ kéo dài đến đầu tháng 11.

Thức ăn cho cá bố mẹ có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp tự chế biến hoặc thức ăn công nghiệp. Đối với thức ăn tự chế do thức ăn chìm nên mỗi ngày cho ăn 2 lần, còn thức ăn viên dạng nổi thì mỗi ngày chỉ cho ăn 1 lần vào buổi tối vì tập tính của cá bông lau rất nhát. Hàng ngày dựa vào nhu cầu ăn của cá để điều chỉnh tăng giảm lượng thức ăn cho hợp lý, không cho ăn quá nhiều hoặc thiếu.

Thường xuyên kiểm tra bè, sửa chữa những phần bị hư hỏng, gỡ bỏ rác bám quanh bè. Khi nước chảy yếu nên dùng máy bơm quạt nước để tăng thêm oxy hòa tan. Thường xuyên quan sát và phát hiện những biểu hiện không bình thường của cá để kịp thời xử lý.

Gieo tinh nhân tạo

Vuốt trứng cá bông lau cái (ảnh chụp ở làng bè Châu Đốc, tỉnh An Giang)

Ở cá bông lau nhìn bên ngoài rất khó phân biệt đực cái. Khi đến mùa sinh sản mới có sự biểu hiện ra bên ngoài, cụ thể cá đực có lỗ sinh dục dạng hơi tròn lồi ra, còn cá cái lỗ sinh dục hơi lõm vào hơn so với cá đực.

Chọn cá đực là những cá thể khỏe mạnh, vuốt ở mặt bụng gần lỗ sinh dục có tinh màu trắng sửa chảy ra. Chọn cá cái là những cá thể có bụng to, dùng que thu trứng quan sát tế bào trứng khi thấy hạt trứng to, tương đối đồng đều, dễ tách rời nhau, đo kích thướt tế bào trứng phải đạt trung bình từ 1,3 mm trở lên, không có trứng non. Những năm qua do cá đực thành thục chưa tốt nên tỷ lệ đực cái nên chọn là 2:1 hoặc 3:1.

Cho cá đẻ trong bể xi măng có thể tích 3x5x1 mét =15 m3, mực nước sâu 0,8-1mét chứa từ 6-10 con cá bố mẹ có khối lượng trung bình 3,5 kg/con. Tuy nhiên, nếu có điều kiện thì thiết kế lót bạt dạng tròn, tạo nước chảy thành dòng liên tục thì cá sẽ khỏe hơn. Hay có thể cho cá đẻ trong bè khoảng 3x5x2 mét = 30 mét, ngăn làm đôi để chứa đực cái riêng, mỗi ngăn chỉ chứa tối đa 5 con cá.

Cá bông lau không đẻ tự nhiên trong bè do đó phải tiêm kích dục tố để kích thích cho cá rụng trứng. Sử dụng kích dục tố HCG kích thích cá sinh sản nhân tạo như cá tra, basa. Sử dụng phép tiêm nhiều lần cho cá cái để kích thích tế bào trứng hấp thu được chất kích thích làm tăng kích thướt đường kính trứng đến mức tối đa vì đây là loài cá của sông Mêkông có đường di cư dài nên chúng cần được tiêm nhiều lần dẫn với thời gian dài để cho tế bào trứng được chín đồng đều hơn.

Trong 3 – 5 liều dẫn đầu tiên sử dụng kích dục tố HCG ở mức bằng nhau 500UI/kg, khoảng cách giữa các lần tiêm là 24 giờ. Khi trứng đã đạt mức tối đa thì tiêm liều sơ bộ với liều lượng từ 1.000 – 1.500 UI/kg, khoảng cách từ liều dẫn đến liều sơ bộ cũng 24 giờ. Cuối cùng là liều quyết định với mức sử dụng 5.000 UI, khoảng cách từ liều sơ bộ đến liều quyết định từ 8 – 10 giờ. Liều tiêm cho cá đực từ 2.000 – 3.000 UI/kg cùng thời gian tiêm liều quyết định của cá cái. Thời gian hiệu ứng kích thích tố từ lúc tiêm liều quyết định đến khi rụng trứng từ 9-12 giờ.

Kiểm tra cá, dùng khăn sạch lau khô toàn thân nhất là vùng bụng cá, dùng tay vuốt từ phía sau đầu cá chạy dọc theo 2 lườn bụng đến điểm cuối là lỗ sinh dục thì thấy trứng chảy thành dòng từ lỗ sinh dục cá cái. Ở cá đực, tinh cũng nhú ra từ lỗ sinh dục có màu trắng sữa. Trước khi thấy có dấu hiệu rụng trứng thì tiến hành thu tinh cá đực trước, tinh được giữ trong nước muối sinh lý với nồng độ là 0,9%. Dùng xyranh hút 2 ml nước muối sinh lý sau đó hút 0,5 ml tinh bảo quản ở nhiệt độ thấp để kéo dài thời gian sống của tinh trùng.

Sau đó sẽ tiến hành vuốt trứng, bằng phương pháp thụ tinh khô, dùng lông gà quậy đều trứng và sẹ (tinh dịch), trong lúc quậy đều hỗn hợp trứng và sẹ cho thêm nước sạch vào từ từ và tạo điều kiện cho tinh trùng hoạt động, tăng xác suất thụ tinh cho trứng. Điều cần lưu ý là cá bông lau là loài cá rất yếu do đó quá trình kiểm tra sự thành thục cũng như chọn lựa cá bố mẹ cho sinh sản thì thao tác phải nhanh, nhẹ nhàng. Chỉ được phép đưa cá cho vào băng ca kiểm tra và tiêm kích dục tố ngay dưới nước. Đối với cá cái thời gian hiệu ứng kích thích tố là 12 giờ tính từ khi tiêm liều quyết định.

Việc xác định thời gian hiệu ứng nhằm theo dõi chính xác thời điểm rụng trứng để tiến hành sinh sản nhân tạo vuốt khô được kịp thời. Trứng cá bông lau thuộc loại trứng dính nên sau khi cá đẻ trứng được khử dính bằng dung dịch Tanin, sau đó được rửa lại bằng nước sạch và đem ấp trong bình Weiss sau 24-25 giờ thì trứng nở ở nhiệt độ 28-300C. Trứng cá bông lau ấp ở nhiệt độ thường 27,2-300C thường thời gan nở kéo dài từ 26-30 giờ, đạt tỷ lệ thu tinh 26-73,3%, tỷ lệ nở 57-90,1%.

Ương nuôi thành cá giống

Cá bột bông lau sau khi nở 24 giờ thì sẽ hết noãn hoàng và bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài chủ yếu là động vật phù du. Ương cá bông lau chia thành 2 giai đoạn.

Giai đoạn 1, sau khi nở 24 giờ, cá bột được ương trong bể composite, mỗi bể thể tích là 1m3, mật độ từ 300 con/m3. Thay nước trong quá trình ương mỗi ngày một lần, mỗi lần từ 20-30% lượng nước trong bể. Trong 10 ngày đầu cho ăn Moina hoặc Moina kết hợp với Naulius Artemia. Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20 cho ăn Moina kết hợp với thức ăn dạng bột mịn 40% đạm. Từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 30 cho ăn thức ăn mảnh 40% đạm. Sau 30 ngày tuổi cá nặng 0,21-0,7 g và dài 28-45mm. Tỷ lệ sống của cá giống sau 30 ngày tuổi đạt từ 30,8-90,8%.

Giai đoạn 2, giai đoạn này có thể ương cá bột trong bể composite thể tích 1 m3 với nhiều mật độ khác nhau như: 50, 100 hay 200 con/m3. Dùng một loại thức ăn viên có hàm lượng đạm 40%, sau 60 ngày tuổi cá đạt trọng lượng từ 3,2-3,5 gam/con, tương đương với chiều dài là 72,2 – 73,3 mm, tỷ lệ sống từ 10,9-98%.

Thành Công

Sản Xuất Giống Cá Bông Lau Bằng Kích Dục Tố

Sản xuất giống cá bông lau bằng kích dục tố

Cá bông lau là loài cá da trơn, thịt thơm ngon và là đặc sản của vùng ĐBSCL. Tuy nhiên, do khai thác vô tội vạ nên gần đây, loài cá này gần như cạn kiệt ngoài tự nhiên. Do đó, việc sản xuất nhân giống cá bông lau là rất cần thiết.

Chọn cá bố mẹ

Cá bông lau bố mẹ thường được nuôi vỗ thành thục trong bè đặt trên sông nước chảy và phải là những cá thể khỏe mạnh, cân đối, không dị hình, trọng lượng từ 2,5kg/con trở lên; mật độ nuôi 5kg/m3 bè. Mùa vụ nuôi vỗ cá bố mẹ bắt đầu từ tháng 12 năm trước đến giữa tháng 11 năm sau. Thời gian cá thành thục và bước vào sinh sản từ tháng 8, mùa cá đẻ kéo dài đến đầu tháng 11.

Vuốt trứng cá bông lau mẹ.

Có thể cho cá ăn thức ăn tự chế hoặc thức ăn công nghiệp. Đối với thức ăn tự chế, do thức ăn chìm nên mỗi ngày cho ăn 2 lần, còn thức ăn viên dạng nổi thì mỗi ngày chỉ cho ăn 1 lần vào buổi tối.

Cá bông lau nhìn bên ngoài rất khó phân biệt đực – cái. Đến mùa sinh sản mới có biểu hiện ra bên ngoài, cụ thể: Cá đực có lỗ sinh dục dạng hơi tròn lồi ra, còn cá cái lỗ sinh dục hơi lõm vào so với cá đực. Trên cơ sở đó, người nuôi chọn cá đực là những cá thể khỏe mạnh, vuốt ở mặt bụng gần lỗ sinh dục sẽ có tinh màu trắng sữa chảy ra. Chọn cá cái là những cá thể có bụng to, dùng que thu trứng quan sát tế bào trứng, khi thấy hạt trứng to, tương đối đồng đều, dễ tách rời nhau thì cho cá đẻ trong bể xi măng hoặc bè.

Cho đẻ bằng kích dục tố

Cá bông lau không đẻ tự nhiên trong bè, do đó phải tiêm kích dục tố HCG kích thích cá sinh sản nhân tạo như cá tra. Tiêm 3- 5 liều dẫn đầu tiên với liều lượng 500 UI/kg cho cá cái để tế bào trứng hấp thu tốt chất kích thích, trứng chín đồng đều. Khi trứng đã đạt mức tối đa thì tiêm liều sơ bộ, liều lượng từ 1.000 – 1.500 UI/kg, khoảng cách từ liều dẫn đến liều sơ bộ là 24 giờ. Sau 8-10 giờ thì tiêm liều quyết định, liều lượng 5.000 UI. Liều tiêm cho cá đực từ 2.000 – 3.000 UI/kg cùng thời gian tiêm liều quyết định của cá cái. Thời gian hiệu ứng kích thích tố từ lúc tiêm liều quyết định đến khi rụng trứng từ 9-12 giờ.

Kiểm tra cá, dùng khăn sạch lau khô toàn thân, nhất là vùng bụng cá, dùng tay vuốt từ phía sau đầu cá chạy dọc theo 2 lườn bụng đến điểm cuối là lỗ sinh dục thì thấy trứng chảy thành dòng từ lỗ sinh dục cá cái. Ở cá đực, tinh cũng nhú ra từ lỗ sinh dục có màu trắng sữa. Trước khi thấy có dấu hiệu rụng trứng thì tiến hành thu tinh cá đực trước, tinh được giữ trong nước muối sinh lý nồng độ 0,9%.

Sau đó tiến hành vuốt trứng bằng phương pháp thụ tinh khô, dùng lông gà quấy đều trứng và tinh dịch, trong lúc quấy thì cho thêm nước sạch vào từ từ nhằm tạo điều kiện cho tinh trùng hoạt động, tăng xác suất thụ tinh cho trứng. Trứng cá bông lau thuộc loại trứng dính nên sau khi cá đẻ, cần khử dính bằng dung dịch Tanin rồi rửa lại bằng nước sạch, đem ấp trong bình Weiss. Sau 24-25 giờ trứng sẽ nở và bắt đầu ăn thức ăn, chủ yếu là động vật phù du.

Kỹ sư Nguyễn Quang Trí (Chi cục Thủy sản Tiền Giang)

Người Mở Đường Nuôi Cá Bông Lau Giống Tự Nhiên

Người mở đường nuôi cá Bông Lau giống tự nhiên, Nguồn: An Hòa – Báo Thanh Niên.

Anh Nguyễn Tâm Đăng (32 tuổi, ở xã Phú Tân, H.Tân Phú Đông, Tiền Giang) là người đầu tiên thành công trong việc nuôi cá bông lau bằng nguồn giống tự nhiên với quy mô lớn.

1. Duyên nợ với cá bông lau – Anh Đăng sinh ra và lớn lên tại vùng đất ven biển Tiền Giang – nơi có nhiều loài cá da trơn đặc trưng của vùng ĐBSCL. Vậy mà năm 2007, anh phải bỏ ra hơn 800.000 đồng mua con cá bông lau nặng 7 kg đãi bạn bè. Anh Đăng nói rằng chính việc này đã làm anh suy nghĩ tại sao loài cá có giá trị kinh tế cao như vậy mà chưa ai đầu tư nuôi, trong khi nguồn con giống đã có sẵn ngoài tự nhiên. Suy nghĩ đó đã thôi thúc anh bỏ ngang chuyện học ngành cơ khí (Trường ĐH Bách khoa TP.HCM), về quê lao vào nghiên cứu con giống, xây dựng mô hình nuôi cá bông lau.

– Qua tìm hiểu nhiều tài liệu, anh được biết các loài cá da trơn như cá bông lau, cá dứa, cá tra bần… có giá cao, nhiều người ưa chuộng nhưng ngày càng hiếm ngoài tự nhiên. Đến nay, các công trình nghiên cứu cũng như mô hình lai tạo con giống, thuần dưỡng các loại cá này chưa nhiều. Anh Đăng kể do hiểu biết còn hạn chế nên trong lần mua cá giống đầu tiên, anh bị lừa mua nhầm giống khác. Thất bại nhưng không nản, cứ tới mùa anh lần theo ghe đánh bắt ngoài cửa sông để tìm mua nguồn cá giống tự nhiên. Tuy nhiên, dù anh đã làm mọi cách nhưng cá đưa lên khỏi sông chưa bao lâu thì bị chết hàng loạt. Số còn lại anh đem về, chăm sóc với chế độ đặc biệt trong ao đất vẫn không sống được. “Trải qua nhiều lần thất bại, tôi đã tích lũy thêm kinh nghiệm nuôi cá giống, nhờ đó tỷ lệ cá chết mới giảm dần”, anh Đăng chia sẻ.

2. Thu cá giống và thuần dưỡng cáa) Thu giống tự nhiên: + Với kinh nghiệm có được trong thời gian qua, anh Đăng chia sẻ cách nhận diện các loại cá da trơn quý hiếm: “Cá bông lau và cá dứa hầu như không thể phân biệt được ở giai đoạn cá giống. Nhìn chung, 2 loại cá này có sống lưng ánh lên màu xanh nhạt, đuôi vàng, viền đuôi hơi tím; trong khi đó, lưng, vây và đuôi cá tra bần đều màu vàng…”. Từ các đặc điểm trên, anh Đăng phân tích: “Cá tra bần chiếm khoảng 10% nguồn cá giống đánh bắt từ tự nhiên. Loại này dễ thuần dưỡng hơn cá bông lau, cá dứa. Do vậy, trong ao nuôi hoàn toàn có thể lẫn lộn cả 3 loại cá trên”. + Dù đem con giống ở sông về nuôi trong ao nhưng anh Đăng muốn các loại cá này có chất lượng thịt gần giống với cá lớn lên trong tự nhiên. “Để đạt được điều đó, mô hình nuôi tối thiểu phải là bán thiên nhiên trên diện tích rộng, nguồn nước cần thay đổi thường xuyên và quan trọng nhất là trong quá trình nuôi không được sử dụng thuốc, chất hóa học”, anh Đăng nói.