Xu Hướng 3/2024 # Thức Ăn Thủy Sản Greenfeed Đồng Hành Cùng Mùa Vụ Cá Lóc Thành Công Tại Trà Vinh # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Thức Ăn Thủy Sản Greenfeed Đồng Hành Cùng Mùa Vụ Cá Lóc Thành Công Tại Trà Vinh được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thức ăn Thủy sản GreenFeed đồng hành cùng mùa vụ cá lóc thành công tại Trà Vinh

Theo Thông tấn xã Việt Nam, khoảng 6 tháng nay, người nuôi cá lóc tỉnh Trà Vinh rất phấn khởi do giá cá lóc thương phẩm luôn ổn định ở mức cao, dao động từ 38.000 – 42.000 đồng/kg.

Hiện, cá lóc thương phẩm loại 1 (0,8 – 1kg/con) được thương lái mua tại ao với giá 40.000 – 42.000 đồng/kg, tăng từ 13.000 – 15.000 đồng/kg so với cùng kì năm trước. Với giá bán này, sau khi trừ chi phí, người nuôi đạt lợi nhuận khá ổn định và khẳng định mô hình nuôi cá lóc từ trước đến nay vẫn luôn là một sinh kế quan trọng đối với phát triển kinh tế của tỉnh.

Cô Nguyễn Thị Bạch Tuyết, Chủ nhiệm HTX Càng Long, huyện Càng Long hiện có 5 ao nuôi cá lóc với diện tích 6.000 m2 , sản lượng 100 tấn cá/vụ, thời gian thu hoạch từ 6 – 6,5 tháng, tùy vào nhu cầu thị trường. Cô vừa xuất bán 2 đợt cá lóc thương phẩm với giá 41.000 – 42.000 đồng, bình quân trọng lượng từ 600 – 700 gr/con, lợi nhuận cô thu về sau khi trừ hết các khoản chi phí dao động ở mức 16.726 đồng – 16.470 đồng/kg.

Trại cô Tuyết đạt chỉ số tiêu tốn thức ăn (FCR) 1,25 khá hiệu quả so với các trại khác trong vùng

Thương lái đánh giá cao chất lượng cá khi thu hoạch

Một hộ khác là chú Sáu Tiến, ngụ xã Phương Thạnh, vốn là nhân viên công tác xã hội tại địa phương. Hứng thú với mô hình nuôi cá lóc của nhiều bà con trong vùng, chú cũng quyết định đầu tư ao chuyên nuôi cá lóc có diện tích hơn 500 m2. Sau khoảng 6 tháng thả nuôi và cho ăn bằng thức ăn thủy sản nhãn hiệu PanaFeed do GreenFeed sản xuất cho đến ngày xuất bán, với diện tích ao nuôi của nhà, chú Sáu Tiến thu hoạch được 9 tấn cá, thương lái đã đến trại thu mua với giá 42.000 đồng/kg”.

Chú Sáu Tiến nhận xét đàn cá trở nên khỏe, mập và phát triển đồng đều sau thời gian dùng thức ăn PanaFeed của GreenFeed

Tổng kết hiệu quả sau lần đầu nuôi cá lóc, sau khi trừ tất cả các chi phí đầu tư thức ăn, thú y (khoảng 26.500 đồng/kg cá), … chú thu về lợi nhuận hơn 150 triệu đồng/vụ.

 

Giảm Giá Thành Thức Ăn Nuôi Thủy Sản

Có thể nói thức ăn thủy sản Việt Nam đang nằm trong sự “thống trị” của các doanh nghiệp nước ngoài, khi nắm giữ tới 80% thị phần. Thức ăn cho tôm là sự “độc bá” gần như 100% của Uni-President, Grobest (Đài Loan), CP (Thái Lan), Tomboy (Pháp)… Với thức ăn cho cá tra, Cargill (Mỹ), Green Feed, Proconco (liên doanh với Pháp), Anova… cũng chiếm tới trên 60-70%.

Sự “phong tỏa” không ngừng

Tôm là thế mạnh bậc nhất trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nhưng thị trường thức ăn cho tôm hoàn toàn lọt vào tay các DN nước ngoài. Diện tích nuôi tôm ngày càng mở rộng, nhu cầu thức ăn cho tôm ngày càng lớn nhưng DN trong nước không thể chen chân. Tình hình cũng tương tự đối với cá tra, một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Theo đánh giá của Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, hiện sản xuất thức ăn cho cá tra góp mặt tên tuổi của vài DN Việt Nam như Việt Thắng, Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Cỏ Mây… Các DN này tồn tại được nhờ từ lâu đã có chu trình sản xuất khép kín từ thức ăn, con giống cho đến tiêu thụ sản phẩm chứ không phải nhờ sự phân phối ra thị trường.

Trong khi đó, các DN nước ngoài liên tục có kế hoạch phát triển, xây dựng thêm nhà máy và mở rộng quy mô sang các lĩnh vực tiệm cận. Đại diện Công ty Uni-President Việt Nam cho biết, hiện thức ăn dành cho tôm của Công ty chiếm 30-35% thị phần, thức ăn dành cho cá da trơn chiếm gần 10% thị trường Việt Nam. Và riêng 3 “ông lớn” là Uni-President Việt Nam, Grobest và C.P Việt Nam đã chiếm tới 70-80% thị phần thức ăn cho tôm.

Với 3 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản, hàng năm Uni-President Việt Nam cung cấp sản lượng 300.000 tấn/năm. Công ty Green Feed cũng đã tăng vốn đầu tư lên 80 triệu USD (lúc đầu là 25 triệu USD), với kế hoạch ngoài 4 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản hiện nay, họ sẽ đầu tư mạnh vào sản xuất con giống thủy sản chất lượng cao để cung cấp cho thị trường Việt Nam trong năm nay. Riêng Công ty C.P Việt Nam, Tổng Giám đốc Sooksunt Jiumjaiswanglerg đã tuyên bố rằng, ngoài việc mỗi năm cho ra đời 1 – 2 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi, sắp tới họ sẽ còn lấn sân sang lĩnh vực chế biến thủy sản, với việc xây dựng mới nhà máy chế biến tôm ở Huế và nhà máy chế biến cá tra xuất khẩu tại Bến Tre.

Áp lực lớn lên người nuôi

Cơ chế thị trường, DN có thị phần càng lớn, càng dễ thống lĩnh về giá. Và từ đầu năm đến nay, giá thức ăn thủy sản tăng tới 6 – 7 lần, mỗi lần 200 – 300 đồng/kg. Giá thức ăn chăn nuôi lẫn thủy sản từ trước đến nay chỉ có một chiều tăng chứ chưa hề giảm. Theo ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam, trong nuôi cá tra, thức ăn chiếm tới 80% giá thành. Nhưng quản lý nhà nước thời gian qua đã bỏ qua những doanh nghiệp sản xuất thức ăn dẫn đến giá tăng liên tục, từ đầu năm đến giờ đã tăng hơn 35%. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến người nuôi cá tra.

Thực tế cho thấy, mặc dù giá cá tra, tôm nguyên liệu tăng lên nhưng người nông dân vẫn khó lòng mặn mà với việc nuôi trồng hai loại thủy sản đang được ưa chuộng này. Nhiều diện tích nuôi tôm, cá tra tại ĐBSCL liên tục giảm.

Nguyên nhân là do các chi phí đầu vào, đặc biệt là giá thức ăn, giá cá giống tăng mạnh khiến chi phí đầu tư nhảy vọt. Theo các nông dân nuôi cá tra ở tỉnh Tiền Giang, để đầu tư được 100 tấn cá tra cần tới 2,2 tỷ đồng (trung bình 1 hecta cho sản lượng 300 tấn). Mặt khác do “dư chấn” của những vụ nuôi cá thua lỗ năm 2008-2009 nên nhiều người dân thiếu vốn sản xuất.

Do đó hiện nay ở Tiền Giang, diện tích nuôi cá tra chủ yếu là của doanh nghiệp chế biến thủy sản thuê ao của dân để chủ động nguồn nguyên liệu. Nhiều nông dân nuôi tôm cũng luôn trong tình trạng thắc thỏm với mỗi khi giá thức ăn tăng. Theo ông Võ Hồng Ngoãn, “Vua tôm” Bạc Liêu, tôm là đối tượng nuôi cho năng suất, lợi nhuận cao nhưng lại chứa đựng nhiều rủi ro, và sự thất bại dễ dẫn đến trắng tay, khiến người nuôi khánh kiệt. Vì thế, các yếu tố đầu vào như thức ăn, con giống mà không ổn định thì người nông dân không dám mạo hiểm với đối tượng nuôi này.

Theo đại diện một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn thủy sản thì hiện nay có tình trạng một số doanh nghiệp thức ăn của Trung Quốc chiết khấu cho đại lý từ 5.500-6.000 đồng/kg, làm cho nhiều DN sản xuất thức ăn băn khoăn và mong muốn Nhà nước can thiệp vì đây cũng là lý do khiến giá thức ăn tăng trong thời gian qua.

Chung tay bình ổn giá đầu vào

Trước tình trạng giá thức ăn thủy sản liên tục tăng cao và luôn chịu chi phối từ các DN sản xuất thức ăn nước ngoài, thì vấn đề đặt ra là bình ổn giá thức ăn trên thị trường. Đây là niềm mong mỏi lớn của rất nhiều người nông dân. Tuy nhiên, để làm được điều này lại không dễ.

Theo ông Lương Lê Phương, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, về luật, Nhà nước không can thiệp sâu vào doanh nghiệp kinh doanh, mà chỉ khuyến cáo. Bộ NN&PTNT khuyến cáo xem lại giá thức ăn chăn nuôi có hợp lý hay không, các công ty viện lý do giá nguyên liệu, lạm phát tăng… nhưng không hợp lý. Họ đã đưa ra giá mặt bằng chung và người nuôi phải chấp nhận. Vì vậy, khi khuyến cáo, các doanh nghiệp không nghe thì cần vận động tẩy chay đối với những sản phẩm tăng giá không hợp lý, chất lượng không đảm bảo.

Tuy nhiên, trên thực tế, thói quen tẩy chay hàng hóa của người tiêu dùng Việt Nam, đặc biệt là người nông dân, vốn ít xảy ra, thậm chí là không. Vì thế, giải pháp bình ổn giá bằng phương pháp tẩy chay thực ra còn khá xa. Người nông dân vẫn cần một biện pháp mạnh mẽ hơn từ phía quản lý nhà nước để đảm bảo lợi ích chính đáng của mình

Thành Phần Trong Thức Ăn Thủy Sản Có Gì?

Do vậy, chúng ta cần phải hiểu về các thành phần có trong thức ăn thủy sản, đặc tính của từng loại nguyên liệu sử dụng trong việc chế biến thức ăn thủy sản là việc rất cần thiết. Trong thức ăn thủy sản có các thành phần chính bao gồm: Nhóm cung cấp năng lượng, nhóm cung cấp protein và nhóm chất phụ gia

NHÓM CUNG CẤP PROTEIN

Đối với động vật là gia súc và gia cầm, thì nhu cầu protein của chúng khá thấp, nhưng đối với thủy sản, nhu cầu Protein của chúng cao hơn rất nhiều, khoảng 25 – 55%. Do vậy, trong vấn đề chế biến thức ăn thủy sản, nguồn nguyên liệu cung cấp Protein là vấn đề được nhà nông quan tâm đầu tiên. Nguyên liệu để cung cấp Protein có hàm lượng phải lớn hơn 30%. được chia làm 2 nhóm: Protein Động Vật và Protein Thực Vật.

PROTEIN ĐỘNG VẬT

Protein động vật có hàm lượng khoảng từ 50% trở lên và được động vật thủy sản sử dụng hiệu quả hơn là Protein thực vật. Các nguồn Protein động vật thường sử dụng trong thức ăn thủy sản là: Bột đầu tôm, bột cá, bột huyết, bột mực, bột nhuyễn thể…; trong đó, nguồn protein phù hợp nhất cho động vật thủy sản là bột cá.

Tùy theo nhu cầu Protein của các loài cá khác nhau mà mức sử dụng bột cá khác nhau, thông thường giao động từ 25 – 35% (ví dụ đối với tôm sú thì tỷ lệ bột cá khoảng 35% còn đối ới tôm trường thành khoảng 28 – 30%).

Với số lượng thức ăn thủy sản cho tôm hằng năm trong nước khoảng 150.000 – 200.000 tấn thì lượng bột cá tiêu tốn khoảng 40.000 – 45.000 tấn. Hiện tại, do giá bột cá ngày càng tăng cao, người nuôi có khuynh hướng thay thế protein của bột cá bằng các protein của động vật như bột xương, bột phế phẩm từ gia cầm.

PROTEIN THỰC VẬT

Đậu nành, đậu phộng, hạt bông vải… là nguồn cung cấp Protein thực vật chủ yếu và quan trọng. Protein thực vật được sử dụng trong thức ăn thủy sản nhằm để thay thế protein từ bột cá để giảm giá thành của thức ăn thủy sản. Tuy nhiên, khi sử dụng Protein thực vật sẽ gặp một số vấn đề trong nuôi thủy sản như: tiêu hóa không tốt, axit amin không cân đối, thiếu lysin và methionin, bị kháng chất dinh dưỡng và dễ nhiễm độc.

NHÓM CUNG CẤP NĂNG LƯỢNG

Trong nhóm này, vai trò chủ yếu là cung cấp carbohyrat (chủ yếu là tinh bột và thực vật) và nhóm dầu mỡ (dầu động vật và thực vật)

TINH BỘT

Là thành phần chủ yếu trong các loại khoai củ, ngũ cốc và phụ phẩm nông nghiệp như cám gạo, cám mì…

Tinh bột có hàm lượng Protein thấp (không trên 20%), acid admin không được cân đối và Lipid thấp (2 – 5%). Tuy nhiên, cám gạo lại có được hàm lượng chất xơ cao khoảng 11 – 20% và lipid cao đến khoảng 10 – 15%.

DẦU ĐỘNG, THỰC VẬT

Đây là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng cho động vật thủy sản. Tuy nhiên dầu động vật và thực vật được sử dụng như là nguồn acid béo không no cho động vật thủy sản. Đối với nhóm động vật thủy sản ăn động vật, khả năng hấp thụ tinh bột kém thì lipid được sử dụng như là một nguồn năng lượng chính.

Thường trong việc chế biến thức ăn thủy sản có sẵn lipid nên trong thức ăn chỉ cần bổ sung thêm từ 2 – 3% dầu. Tùy theo đối tượng nuôi mà lựa chọn dầu thực vật hoặc động vật hoặc cả 2.

NHÓM PHỤ GIA KHÁC

Ngoài nhóm cung cấp Protein và nhóm cung cấp Năng Lượng thì có một số phụ gia thủy sản được bổ sung vào thức ăn nhằm tăng giá trị dinh dưỡng, làm ngon miệng và hạn chế sự biến chất… những chất này được gọi chung là chất phụ gia

CHẤT KẾT DÍNH

Để gia tăng mức độ kết dính thức ăn, ngoài tinh bột người ta còn sử dụng chất kết dính. Chất kết dính có vai trò như đóng góp dinh dưỡng vào thức ăn, giảm thiểu sự thất thoát các chất dinh dưỡng, tăng độ bền thức ăn trong môi trường nước giảm ô nhiễm và giảm bụi trong quá trình chế biến.

Tuy nhiên, một số chất kết dính có thể ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của thủy sản, một vài loài cá không chể hấp thụ được thức ăn quá cứng. Tinh bột được gelatine hóa cũng là một loại chất kết dính tự nhiên tốt cho động vật thủy sản.

CHẤT CHỐNG OXY HÓA

Chất chống oxy hóa cho thức ăn thủy sản phải đảm bảo không độc và giá thành rẻ. Một số chất chống oxy hóa điển hình được sử ụng là BHT 200ppm, BHA 200ppm, Ethoxyquin 150ppm

CHẤT KHÁNG NẤM

Chất kháng nấm được trộn giữa các loại acid hữu cơ. Trong thức ăn thủy sản có một số chống mốc như acid propionic, sodium diacetate, acid sorbc, acid phosphoric.

CHẤT TẠO MÙI

Chất tạo mùi cũng đóng vai trò rất quan trọng, quyết định hiệu quả trong việc sử dụng thức ăn của thủy sản, đặc biệt là tôm. Trong các nguồn nguyên liệu sử dụng làm thức ăn cho tôm có các chất dẫn dụ như bột nhuyễn, giun nhiều tơ, nhộng tằm, dịch thủy phân cá… Ngoài ra, thức ăn thủy sản cũng có thể sử dụng dầu mực, dầu nhuyễn thể cũng dùng để tạo chất tạo mùi.

Ngoài các chất tạo mùi tự nhiên kể trên, các chất tạo mùi nhân tạo khác như acid amin tự do hay một số phân tử piptide như betane cũng được bổ sung vào thức ăn thủy sản

Tìm hiểu thêm: Quy trình sản xuất thức ăn thuỷ sản

Giá Cá Lóc Ở Trà Vinh Tăng Trở Lại

Khoảng 1 tuần nay, giá cá lóc trên địa bàn tỉnh Trà Vinh tăng trở lại.

Hiện cá lóc loại I được thương lái mua tại ao với giá từ 30.000 – 31.000 đồng/kg, tăng 4.000 đồng/kg so với tuần trước.

Theo một số nông dân nuôi cá lóc, với giá bán này, người nuôi vẫn chưa có lãi do giá thành của cá lóc thương phẩm là 31.000 đồng/kg.

Ông Trần Trung Hiền, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Trà Vinh cho biết, thị trường tiêu thụ có vai trò quan trọng, quyết định việc chi phối phát triển sản xuất hàng hóa nông sản. Song, thị trường này hiện rất khó đoán, tình trạng “được mùa, mất giá” thường xuyên diễn ra.

Nhiều tháng nay, giá cá lóc thương phẩm chỉ bằng hoặc thấp hơn giá thành khiến người nuôi ở Trà Vinh gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân bởi nhiều tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long ngày càng mở rộng diện tích nuôi cá lóc nên cung vượt cầu, dẫn đến giá luôn ở mức thấp.Đa phần các diện tích nuôi cá lóc trong tỉnh là tự phát, không nằm trong quy hoạch.

Trước đó, ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương từng khuyến cáo nông dân không nên mở rộng diện tích nuôi cá lóc vì tiềm ẩn rủi ro về thị trường, do loại thủy sản này hiện chủ yếu tiêu thụ nội địa. Cùng với đó, hạ tầng thủy lợi ở một số địa phương chưa đáp ứng nên về lâu dài sẽ tác động xấu đến môi trường và nguy cơ dịch bệnh. Tuy nhiên, người dân vẫn liên tục mở rộng diện tích.

Đến nay, toàn tỉnh có khoảng 222 ha nuôi cá lóc, tăng 15 ha so với cùng kỳ năm trước; trong đó, huyện Trà Cú có diện tích nuôi cá lóc nhiều nhất tỉnh, với khoảng 720 hộ thả nuôi hơn 141 ha.

Ông Võ Minh Thành, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Châu Thành cho biết, năm 2010, toàn huyện chỉ có 1 – 2 hộ nuôi cá lóc nhưng đến nay có hơn 100 hộ phá bỏ nhiều diện tích trồng lúa, vườn để đào ao nuôi cá lóc trên tổng diện tích 13 ha. Huyện Châu Thành hiện không quy hoạch diện tích nuôi cá lóc; các diện tích nuôi này đều là tự phát của người dân.

Sử Dụng Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Rô Đồng – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Tập tính ăn của cá rô đồng

Rô đồng là loài cá nước ngọt, tốc độ sinh trưởng tương đối chậm. Cá có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống được trong điều kiện thiếu ôxy tạm thời nhưng mặt nước phải thoáng. Cá có thể di chuyển trên cạn tương đối xa. Cá rô đồng là loài ăn tạp và dễ tính trong lựa chọn thức ăn. Chúng có thể ăn các loại hạt mầm, thực vật non mềm, các loại động vật hợp cỡ như tép, giun… và thích thức ăn hỗn hợp dạng viên. Cá có thể ăn nổi trên mặt nước, trong tầng nước và cả đáy ao. Việc sử dụng thức ăn công nghiệp nuôi cá đem lại hiệu quả cao bởi giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước so với thức ăn chế biến, đáp ứng đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng dành cho cá.

Sử dụng thức ăn công nghiệp

Tuy trong tự nhiên cá rô đồng là loài ăn tạp nhưng lại thiên về động vật nên thức ăn cho cá rô đồng có lượng đạm khá cao. Người nuôi có thể sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi có hàm lượng và kích cỡ viên phù hợp từng giai đoạn phát triển của cá.

Tháng nuôi đầu, dùng thức ăn có độ đạm 35 – 40%, cỡ viên nhỏ hơn 1mm, một ngày cho ăn với lượng 7 – 10% tổng trọng lượng cá. Cho cá ăn 3 – 4 lần/ngày.

Tháng nuôi thứ 2 và 3, dùng thức ăn có độ đạm 30 – 35%, cỡ viên nhỏ hơn 2mm, cho ăn lượng 5 – 7% trọng lượng cá/ngày.

Tháng nuôi thứ 4 và 5, dùng thức ăn có độ đạm 25 – 30%, cỡ viên nhỏ hơn 2,5mm, cho ăn lượng 3 – 5% trọng lượng cá/ngày. Cho cá ăn 2 lần/ngày, nên quan sát lượng thức ăn để điều chỉnh cho phù hợp, tránh thừa thức ăn.

Chú ý: Quản lý thức ăn tốt để giữ nước ao luôn sạch giúp cá phát triển tốt.

Sản Xuất Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Chình: Góp Phần Giảm Giá Thành Sản Phẩm

Thạc sĩ Hoàng Văn Duật (Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III) và các cộng sự vừa thực hiện thành công dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chình”. Kết quả của dự án đã bổ sung thêm công nghệ mới, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương để sản xuất thức ăn cho cá chình, góp phần giảm giá thành, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy nghề nuôi cá chình phát triển theo hướng bền vững.

Những năm gần đây, nghề nuôi cá chình ở nước ta phát triển nhanh chóng với gần 40 tỉnh, thành có người nuôi cá chình. Tuy nhiên, công nghệ còn lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thức ăn cho cá chình vẫn chủ yếu sử dụng cá tạp, vì vậy khó kiểm soát môi trường, dịch bệnh, năng suất và hiệu quả thấp. Thực tế, đã có một số cơ sở nuôi sử dụng thức ăn công nghiệp cho cá chình, nhưng còn phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài, giá thành cao.

Nhằm giúp nghề nuôi cá chình nước ta phát triển bền vững, cuối năm 2024, Bộ Công Thương đã giao cho Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III chủ trì thực hiện dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chình”. Sau gần 3 năm triển khai thực hiện, nhóm đã nghiên cứu thành công mô hình thiết bị dây chuyền sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chình năng suất 500kg/giờ. Thạc sĩ Hoàng Văn Duật cho biết, việc ương giống cá chình cho ăn thức ăn của dự án, tốc độ tăng trưởng đạt 0,68g/ngày, tỷ lệ sống 95,82%; nuôi thương phẩm đạt 3,32g/ngày, tỷ lệ sống 94,73%. Tổng vốn đầu tư mô hình dây chuyền sản xuất hơn 15 tỷ đồng; trong đó vốn đầu tư xây dụng nhà xưởng, mua sắm dây chuyền sản xuất thức ăn 4,5 tỷ đồng, vốn đầu tư sản xuất hơn 10,5 tỷ đồng. Sản phẩm đạt 1.000 tấn/năm (200 tấn cho cá chình giống và 800 tấn cho cá chình thương phẩm); giá thành khoảng 44,2 triệu đồng/tấn thức ăn cho cá giống, 40 triệu đồng/tấn thức ăn cho cá thương phẩm, thấp hơn thức ăn nhập ngoại từ Trung Quốc 25% (55 và 50 triệu đồng/tấn); giá bán sản phẩm thức ăn cá giống khoảng 48,7 triệu đồng/tấn và cá thương phẩm 44 triệu đồng/tấn. Doanh thu đạt hơn 4 tỷ đồng/năm, lợi nhuận đạt 10% trên chi phí, thời gian hoàn vốn khoảng 40 tháng.

Công nghệ của dự án sẽ giúp các doanh nghiệp áp dụng để sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chình, cung cấp cho người nuôi, giảm sự phụ thuộc vào nguồn thức ăn nhập khẩu. Đồng thời, tận dụng được nguyên liệu sẵn có ở địa phương để sản xuất thức ăn cho cá chình, góp phần giảm giá thành, tăng hiệu quả sản xuất, tạo đà phát triển vững chắc cho nghề nuôi cá chình của nước ta. Đặc biệt, việc sử dụng thức ăn công nghiệp nuôi cá chình sẽ tác động tích cực đến môi trường, hạn chế đánh bắt, khai thác cá nhỏ, ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản. Bởi, để có 10.000 tấn cá chình/năm thì cần khoảng 100.000 tấn cá tạp, nhu cầu về lượng cá tạp khai thác để cung cấp rất lớn.

Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Vạn Xuân (có trang trại chuyên nuôi cá chình tại xã Suối Cát, huyện Cam Lâm) là đơn vị đầu tiên ứng dụng kết quả nghiên cứu của dự án để sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cá chình. Sau khi công ty ứng dụng thành công, hiện nay đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư xây dựng trang trại nuôi cá chình, có nhu cầu tiếp nhận công nghệ của dự án để xây dựng nhà máy sản xuất thức ăn quy mô trang trại như: Công ty Cổ phần Khoáng sản Thanh Hóa (tỉnh Thanh Hóa); Công ty TNHH Dịch vụ Kim Long Việt Nam (tỉnh Quảng Bình), Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại thủy sản Phú Yên (tỉnh Phú Yên), Công ty Cổ phần Việt Tam Nông (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu), Công ty TNHH Thành Công MSM (tỉnh An Giang)… Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III đã lập tờ khai đăng ký sáng chế gửi Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ để đăng ký quyền sở hữu công nghiệp công thức thức ăn cho cá chình và quy trình sản xuất thức ăn. Hiên nay, sáng chế đã được chấp nhận đơn hợp lệ và đang trong thời gian thẩm định nội dung.

Nguyên liệu sử dụng để sản xuất thức ăn cho cá chình chủ yếu: bột trùn quế, bột cá Kiên Giang, bột phụ phẩm cá đông lạnh sấy khô, bột gluten lúa mì; cám gạo trích ly, bột khoai mì biến tính và bột bắp biến tính; dầu cá ngừ và dầu đậu nành; khoáng, vitamin tổng hợp, chất phụ gia, Enzym Feed… Thức ăn có kích thước nhỏ (độ mịn cao), tương đương với kích thước hạt thức ăn cho cá chình nhập khẩu từ Trung Quốc. Hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn đạt theo yêu cầu của dự án, không làm ảnh hưởng tác động xấu đến môi trường.

Nguồn: Báo Khánh Hòa

Cập nhật thông tin chi tiết về Thức Ăn Thủy Sản Greenfeed Đồng Hành Cùng Mùa Vụ Cá Lóc Thành Công Tại Trà Vinh trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!