Xu Hướng 1/2023 # Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Nước Lạnh – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 6 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Nước Lạnh – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Nước Lạnh – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tình hình sử dụng

Nghề nuôi cá nước lạnh được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I khởi động năm 2005 tại Sa Pa (Lào Cai). Đến nay, sau 6 năm thử nghiệm, phong trào nuôi đã phát triển mạnh ở hơn 14 tỉnh; điển hình là Lào Cai, Lâm Đồng, Lai Châu, Yên Bái, Tuyên Quang, Sơn La. Năm 2012, sản lượng cá nước lạnh cả nước đã đạt 800 tấn. Cùng với việc nhập khẩu con giống, mỗi năm nước ta vẫn phải nhập thêm thức ăn cho cá nước lạnh từ Pháp, Hà Lan… Năm 2011, Việt Nam đã nhập khoảng 350 tấn, năm 2012 hơn 400 tấn. Giá nhập khẩu thức ăn khoảng  trên 50.000 đồng/kg.

Đặc điểm dinh dưỡng

Cá tầm và cá hồi là hai loài cá nước lạnh được nhập vào nuôi ở nước ta, sống thích hợp ở nhiệt độ 15 – 230C đối với cá hồi và 23 – 300C đối với cá tầm. Trong tự nhiên, hai loài cá này được xếp vào loài ăn động vật, lúc nhỏ ăn ấu trùng, giáp xác nhỏ; khi lớn ăn tôm cua, nhuyễn thể, côn trùng và cả cá con. Trong điều kiện nuôi nhân tạo, thức ăn của chúng là cám công nghiệp dạng viên chìm, có độ đạm và chất béo cao. Nhu cầu đạm 40 – 70%, chất béo 20 – 30%, cá càng lớn thì nhu cầu đạm càng cao, còn nhu cầu chất béo thì ngược lại. Đối với nuôi thương phẩm, cá hồi và cá tầm giống thường nuôi trong các bể xi măng, composite hoặc lót bạt có dòng chảy nhẹ, hàm lượng ôxy 6 mg/l trở lên. Cá tầm và cá hồi không phải loài phàm ăn nên trong quá trình sản xuất thức ăn nên tính đến khả năng lan tỏa thức ăn trong nước để tránh thất thoát dinh dưỡng thức ăn.

Người nuôi cá nước lạnh cần lựa chọn tốt loại thức ăn cho cá và có cách cho ăn hợp lý – Ảnh: Huy Hùng

Phương pháp cho ăn

Giai đoạn giống, do đặc tính sống ở môi trường nước chảy và mật độ thả dày (800 – 1.000 con/m3 nước) nên cá giống cần phải cho ăn liên tục 4 giờ/lần, thức ăn được chia đều cho các lần cho ăn; Liều lượng hằng ngày chiếm 6 – 10% trọng lượng thân cá. Giai đoạn này thức ăn phải có các cỡ khác nhau, từ dạng mảnh vụn đến 2mm.

Khi cho ăn, nên vặn nhỏ van cấp nước, sau đó mới rải đều thức ăn lên mặt bể, để cá được ăn đều, tránh hiện tượng cá còi. Sau 15 phút cá ăn hết thức ăn thì duy trì lưu tốc dòng nước trở lại, cần kiểm tra xem cá đã ăn hết thức ăn hay chưa, để điều chỉnh lượng thức ăn cho hợp lý. Ở giai đoạn giống cá rất nhạy cảm với nhiệt độ nước, nếu nhiệt độ cao hơn ngưỡng thích hợp, cần giảm 50% lượng thức ăn và dâng nước trong bể cao hơn bình thường 20 – 30cm (nếu có thể); đồng thời, tăng lưu tốc dòng chảy 10 – 15% so với bình thường để kích thích hoạt động cho cá. Giai đoạn này, muốn cá khỏe mạnh và tỷ lệ sống cao, người nuôi cần chọn mua loại thức ăn chuyên dụng nhập từ Hà Lan, tuy giá cao hơn nhưng thức ăn đảm bảo chất lượng, đủ thành phần dinh dưỡng, các axit amin và vitamin thiết yếu giúp cá sinh trưởng và phát triển tốt.

Cá tầm là loài cá ăn chìm dưới đáy, khi nuôi trong ao, bể thì cho ăn như nuôi cá hồi, trong thời gian nuôi cần chú ý khi trời mưa nước cấp vào bể nuôi sẽ bị đục nên cần ngưng không cho cá ăn, nếu mưa kéo dài cần giảm thức ăn 20 – 30% so bình thường.

Cá tầm nuôi ngoài lồng trên hồ chứa, do tính chất lồng nuôi rộng, sâu (5 – 7 m) và có dòng chảy  nên khi cho cá ăn cần sử dụng ống nhựa dài bằng độ sâu của lồng, đường kính 30cm. Khi cho ăn, người nuôi nên đứng ở thành lồng, cắm ống nhựa xuống nước cách đáy 1,5 – 2m, sau đó đổ thức ăn qua phễu vào ống nhựa để thức ăn theo ống xuống đáy lồng, giúp cá ăn được hết thức ăn, tránh lãng phí do bị phát tán ra bên ngoài hoặc trôi theo dòng chảy.

Do thức ăn cho các đối tượng thường là những loại thức ăn có hàm lượng protein và lipid cao hơn nhiều so với thức ăn của các loại cá bình thường, cùng điều kiện khí hậu khi mưa nắng thất thường, không khí có độ ẩm cao, nên người nuôi phải chú ý bảo quản thức ăn, tránh hiện tượng thức ăn bị ẩm mốc, cá ăn vào dễ ngộ độc.

Thức Ăn Cho Cá Trê – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Đặc điểm sinh trưởng

Các loài cá trê đều có tính chịu đựng cao với môi trường khắc nghiệt như ao tù, mương rãnh, nơi có hàm lượng oxygen thấp vì cơ thể chúng có cơ quan hô hấp phụ gọi là “hoa khế” giúp cá hô hấp được nhờ khí trời.

Mùa sinh sản của cá trê bắt đầu vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, tập trung chủ yếu vào tháng 5 – 7. Trong điều kiện nuôi cá có thể sinh sản nhiều lần trong năm (4 – 6 lần). Nhiệt độ đảm bảo để cá sinh sản từ 25 – 320C. Sau khi cá sinh sản xong, có thể nuôi vỗ tái phát dục, khoảng 30 ngày cá có thể sinh sản trở lại.

Ảnh: CTV

Đặc tính ăn và cách cho ăn

Thức ăn: Cá trê ăn tạp, thức ăn chủ yếu là động vật. Trong tự nhiên, cá trê ăn côn trùng, giun, ốc, tôm, cua, cá… Ngoài ra, trong điều kiện ao nuôi còn có thể cho cá ăn các phụ phế phẩm nông nghiệp như cám, tấm, rau… và các phụ phẩm từ trại chăn nuôi, chất thải từ lò mổ, cá tạp tươi… Người nuôi nên tận dụng thức ăn sẵn có tại địa phương để giảm giá đầu vào. Bên cạnh đó, có thể nuôi cá trê bằng thức ăn công nghiệp theo từng giai đoạn sinh trưởng để đảm bảo đủ lượng đạm cần thiết cho cá phát triển. Lượng thức ăn hằng ngày dao động từ 3 – 12% trọng lượng cơ thể cá, hàm lượng đạm cần thiết ở tháng thứ 1 là 28 – 30%, tháng thứ 2 là 24 –  26% và tháng thứ 3 là 18 – 20%.

Trong quá trình nuôi, định kỳ bổ sung Vitamin C và chất khoáng để tăng cường sức đề kháng cũng như giúp cá tăng trưởng tốt hơn.

Cách cho ăn: Cá trê rất háu ăn và thời gian tiêu hóa rất nhanh, vì thế cần cho cá ăn nhiều lần trong ngày. Tập tính của cá trê là ăn theo đàn, nên người nuôi cần cho ăn vào một số giờ nhất định hằng ngày để cá ăn đồng loạt, nhằm đạt độ đồng đều về trọng lượng. Mỗi ngày cho cá ăn 2 – 4 lần. Nên dùng sàng và lập nhiều điểm cho ăn trong ao để cá phát triển đều hơn.

Đặc Sản, Dễ Nuôi – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Cá hô – đối tượng thủy sản có giá trị cao Ảnh: PTC

Đặc điểm sinh học

Cá hô thuộc họ cá chép Cyprinidae và có tên khoa học là Catlocarpio siamensis. Phần trước thân của cá hơi tròn và cao, phần sau dẹp bên; Cao thân khoảng 1/3 dài chuẩn; Đầu rất to, đỉnh đầu rộng, giữa mắt và mõm của phần lưng đầu lõm xuống; cá không có râu, khe mang rộng, thân phủ vảy tròn to; Đầu và lưng có màu nâu xám hoặc ánh xanh, nhạt dần xuống bụng trắng bạc; Mắt cá to, vảy to, vây lưng cao, gốc vây lưng, vây hậu môn có phủ vảy nhỏ. Bụng màu trắng bạc, các vây hơi phớt hồng, cuối các tia vây màu đen. Cá hô thường sinh sống ở những hố lớn cạnh bờ những dòng sông lớn, nhưng chúng cũng có thể bơi vào những kênh, rạch, sông nhỏ để kiếm thức ăn trong một số thời điểm. Chúng phân bố chủ yếu tại Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt  Nam (phân bố ở Châu Đốc, sông Mê Kông). Người ta đã bắt được cá hô dài tới 3 m, nặng khoảng 300 kg; ở Việt Nam thỉnh thoảng đánh bắt được cá hô loại 100 – 200 kg. Cá hô là loài ăn tạp, thức ăn của chúng có thể là thực vật phiêu sinh, rong, trái của thực vật trên cạn, thực vật thủy sinh và các động vật không xương sống thủy sinh…

Cho lãi lớn

Cá hô tuy là loài quý hiếm, trước đây cá chủ yếu là đánh bắt nhưng thời gian gần đây người dân ở miền Tây đã nuôi rất thành công giống cá này trong ao. Cá có thể trọng lớn, thịt thơm ngon, vị ngọt và dai nên rất được ưu chuộng trên thị trường và được các nhà hàng lớn thu mua. Cá hô đạt 4 – 6 kg/con trên thị trường có giá khoảng 80.000 – 120.000 đồng/kg, tuy nhiên có thể lên đến 1 – 2 triệu đồng/kg đối với cá 30 kg trở lên. Từ năm 2005, nước ta đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá quý này tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, tiếp đến Trung tâm Giống thủy sản An Giang cũng đã sản xuất nhân tạo thành công giống cá này. Nhờ chủ động được nguồn giống nên nghề nuôi cá hô phát triển mạnh ở nhiều địa phương của nước ta như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang…

Cá hô có thể nuôi đơn trong ao, lồng bè, đăng quầng. Với tốc độ tăng trọng 2 – 3 kg/năm, chúng có thể được nuôi đơn trong ao hoặc lồng bè với mật độ 3 – 4 con/m2; ngoài ra, còn có thể  thả ghép với các loài cá nước ngọt khác, với mật độ 10 m2/con, để tận dụng thức ăn. Ở miền Nam, cá hô có thể thả nuôi quanh năm do khí hậu ấm áp, cá phát triển tốt. Theo đánh giá của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, việc đưa cá hô vào nuôi không những mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên quốc gia.

Nuôi Cá Heo Nước Ngọt Lãi Lớn – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Lãi gấp 10 lần cá lóc

Cá heo nước ngọt là loài cá da trơn, mình hơi xanh bóng, đuôi màu đỏ cam, đầu có 2 ngạnh nhọn, thường xuất hiện vào mùa nước nổi (khoảng tháng 7 đến tháng 10 âm lịch) ở ĐBSCL. Cá lớn đạt trọng lượng tối đa 100 – 150 gram/con. Loại cá này thịt thơm ngon nên đã được nhiều quán ăn ở An Giang, TP Hồ Chí Minh chế biến thành những món ngon độc đáo: cá heo kho tộ, cá heo nướng…

Người đầu tiên ở ĐBSCL nuôi cá heo nước ngọt thành công là Bùi Chí Linh (ấp Vĩnh Phú, xã Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú, An Giang). Năm 2010, ông Linh mua cá giống của người dân đánh bắt từ tự nhiên về thả nuôi; thấy hiệu quả, ông quyết định thả nuôi hết 10 lồng bè của mình.

Ảnh: Lê Hoàng

Theo ông Linh, cá heo dễ nuôi, tỷ lệ hao hụt không đáng kể, nhưng muốn đạt năng suất cao thì người nuôi phải nắm vững kỹ thuật. Lồng bè phải đặt ở những nơi có dòng chảy mạnh, nước sạch và thường xuyên làm vệ sinh, tuyệt đối không để bè bị ô nhiễm dễ làm cá bị bệnh. Về mật độ thả nuôi, bè nuôi từ 3 x 4m, tốt nhất nên thả 150kg giống cho một bè. Nếu nuôi chật cá sẽ chậm lớn, tỷ lệ hao hụt cao. Thức ăn chính của cá heo là cám trộn cá sống (cá biển hoặc cá đồng) xay nhuyễn. Nếu có bỗng rượu trộn thêm 30%, cá sẽ tăng trọng nhanh hơn. Một ngày tốt nhất cho ăn 2 lần, vào buổi sáng sớm và buổi chiều lúc mặt trời lặn.

Ông Linh cho biết, sau 10 tháng nuôi, trọng lượng cá thương phẩm tại lồng của gia đình ông đạt 30 con/kg; giá bán ra hiện nay tại bè 300.000 đồng/kg. Nếu cá được thu hoạch vào tháng mùa nghịch, giá có thể lên 400.000 –  450.000 đồng/kg. Bình quân mỗi bè, sau khi trừ chi phí thức ăn, con giống…, ông Linh thu lãi 70 – 90 triệu đồng.

Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Trinh – Giám đốc Trung tâm Giống thủy sản An Giang, cá heo có triển vọng mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều loại cá nước ngọt khác, gấp 10 lần so với cá lóc hiện nay.

Chủ động con giống

Những năm gần đây, do khai thác quá mức nên nguồn cá heo giống tự nhiên cho các bè nuôi cá ở ĐBSCL giảm sút, trong khi nhu cầu vẫn tăng cao.

Nhằm tạo nguồn giống chủ động cung cấp cho người nuôi cá ĐBSCL, năm 2010, Sở Khoa học – Công nghệ An Giang cùng Trung tâm Giống thủy sản An Giang và Khoa Thủy sản (Trường Đại học Cần Thơ) đã nghiên cứu thành công sinh sản nhân tạo cá heo nước ngọt. Hiện, cá heo sau khi nuôi đạt kích cỡ thương phẩm 15 con/kg. Cá có thể nuôi với thức ăn viên thời gian từ 8 tháng đến 1 năm đạt 20 – 25 con/kg.

Bà Trinh cho biết: Từ việc có con giống chủ động, sắp tới tỉnh An Giang hướng đến nuôi cá heo thương phẩm từ bè sang ao theo mô hình nuôi bằng thức ăn công nghiệp, tránh làm ô nhiễm môi trường, đồng thời tránh khai thác nguồn cá giống tự nhiên và hướng tới xuất khẩu. Trung tâm sẽ cung cấp cá heo giống nhân tạo, đáp ứng nhu cầu của người nuôi; năm 2015 sẽ phát triển rộng ra toàn ĐBSCL.

Cập nhật thông tin chi tiết về Thức Ăn Công Nghiệp Nuôi Cá Nước Lạnh – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!