Xu Hướng 2/2023 # Pháp Luật Dân Sự # Top 11 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Thông Tin Pháp Luật Dân Sự # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Pháp Luật Dân Sự được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Posted on by Civillawinfor

TS. TRẦN THÁI DƯƠNG – Đại học Luật Hà Nội

“Xã hội hiện đại của chúng ta ngày càng đòi hỏi sự an toàn. Đòi hỏi đó làm phát sinh tư tưởng cho rằng mọi rủi ro đều phải được bảo hiểm, rằng mọi thiệt hại phải được bồi thường nhanh chóng và toàn bộ, rằng xã hội không chỉ phải bồi thường những thiệt hại do chính xã hội gây ra mà còn phải bồi thường những thiệt hại mà xã hội đã không ngăn ngừa được” (1).

1. Trách nhiệm và trách nhiệm bồi thường nhà nước

Trách nhiệm của nhà nước trước hết bắt nguồn từ khái niệm trách nhiệm trong đời sống xã hội. Trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; thứ hai là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai thì phải gánh chịu phần hậu quả (2). Còn theo Bách khoa Toàn thư Việt Nam, thì trách nhiệm là: “khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền nói lên một đặc trưng của nhân cách trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra. Nếu nghĩa vụ đặt ra cho con người vấn đề nhận thức và thực hiện những yêu cầu của xã hội, thì vấn đề trách nhiệm là ở chỗ con người hoàn thành và hoàn thành đến mức nào hoặc không hoàn thành những yêu cầu ấy. Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hoạt động với nghĩa vụ, là hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho hoạt động có ý thức của con người. Con người ngày càng nhận thức được quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội. Khi năng lực chi phối tự nhiên, xã hội của con người lớn lên thì trách nhiệm của con người đối với hành vi của mình cũng lớn lên. Về mặt pháp lí, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ: quyền càng rộng thì trách nhiệm càng lớn” (3).

Như vậy, trách nhiệm trước hết là phạm trù đạo đức có mối liên hệ chặt chẽ với việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra. Nhà nước là chủ thể thể xã hội đặc biệt, phục vụ cho cuộc sống của con người và xã hội nói chung, do vậy, nhà nước cũng phải có trách nhiệm và phải chịu hậu quả nếu không làm tròn trách nhiệm theo vai trò, chức năng mà xã hội phân công. Theo nghĩa thứ hai, nhà nước cũng phải chịu sự ràng buộc với những hoạt động, việc làm của mình đối với con người và xã hội trong phạm vi được phép, nếu không thì cũng phải chịu hậu quả. Cả hai cách hiểu trên vẫn chưa nêu rõ và phân định được tính chất hậu quả của hai loại trách nhiệm khác nhau của nhà nước. Là chủ thể xã hội đặc biệt, nhà nước chỉ phải chịu trách nhiệm chính trị hay còn phải chịu cả trách nhiệm pháp lý do vi phạm nghĩa vụ của mình với tư cách là bị đơn dân sự?

Trách nhiệm chính trị là trách nhiệm được xác định bởi các quan hệ và thể chế chính trị, nếu vi phạm thì cán bộ, nhân viên nhà nước, người có thẩm quyền sẽ phải từ chức, bị giáng chức, cách chức, các thiết chế nhà nước hay toàn bộ bộ máy nhà nước bị thay thế, bị lật đổ… thông qua cơ chế chính trị. Trách nhiệm chính trị bắt buộc nhà nước cũng như các quan chức nhà nước phải công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại gây ra cho dân. Việc chính thức, công khai thừa nhận có lỗi lầm khi ban ra các quyết sách, chủ trương và việc bồi thường thiệt hại cho người dân thể hiện hậu quả của trách nhiệm chính trị mà nhà nước phải gánh chịu. Trong trách nhiệm chính trị không có việc bồi thường bằng vật chất, tài sản như trách nhiệm dân sự mà “bồi thường” bằng hệ chính sách và chính khách mới (sửa đổi chính sách, thay thế nhân vật chính trị)(4), bởi lẽ, trong trách nhiệm chính trị không thể xác định được thiệt hại về tài sản cho từng cá nhân, tổ chức cụ thể; chính sách của nhà nước tác động lên toàn bộ xã hội, thiệt hại có thể ở diện rộng và mức độ rất lớn không lượng hoá được… Mặt khác, các chính khách thực hiện nhiệm vụ do người dân uỷ quyền (thông qua bầu cử)… Nhưng dù sao, trách nhiệm chính trị của nhà nước theo nghĩa trên cũng chỉ tồn tại trong nhà nước dân chủ mà không tồn tại trong các nhà nước phi dân chủ. Tuy nhiên, trong nhà nước pháp quyền hiện nay, bên cạnh trách nhiệm chính trị, nhà nước còn phải chịu trách nhiệm pháp lý bình đẳng với các chủ thể khác (tổ chức, cá nhân), nghĩa là nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu gây thiệt hại cho các bên như trong quan hệ dân sự. Đây chính là một trong những điểm thể hiện tính phức tạp của vấn đề trách nhiệm nhà nước.

Trước pháp luật, nhà nước cũng bình đẳng với các cá nhân, tổ chức nên nhà nước có thể phải gánh chịu các hậu quả bất lợi khi vi phạm trách nhiệm, đó là trách nhiệm pháp lý. Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm được hiểu là: “Loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua các cơ quan chuyên môn) và chủ thể vi phạm pháp luật (có thể là cá nhân hoặc pháp nhân), trong đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi và những biện pháp cưỡng chế của nhà nước được quy định ở chế tài pháp luật. Tức là sự cưỡng chế của nhà nước buộc người vi phạm pháp luật phải chấp hành quy phạm pháp luật, trừng trị người vi phạm pháp luật, bắt buộc phải khôi phục lại pháp luật đã bị vi phạm. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có hại cho xã hội vì nó phá vỡ trật tự pháp luật, trực tiếp gây ra tổn thất về vật chất, tinh thần cho con người, xâm phạm đến các cơ quan xã hội mà pháp luật bảo vệ. Vì vậy, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những người vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ pháp chế, bảo vệ những quan hệ xã hội phát triển, làm cho pháp luật được thực hiện triệt để và nghiêm chỉnh. Truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những vi phạm pháp luật có ý nghĩa lớn trong việc phòng ngừa, cải tạo và giáo dục người vi phạm pháp luật.

Trách nhiệm pháp lý được cấu thành bởi các yếu tố: hành vi vi phạm pháp luật; sự thiệt hại gây ra cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và sự thiệt hại gây ra cho xã hội; lỗi của chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật” (5).

Thật ra, trong định nghĩa của Bách khoa Toàn thư Việt Nam cũng như công trình chuyên khảo về trách nhiệm pháp lý của một số tác giả như đã dẫn chưa thấy sự quan tâm đến trách nhiệm bồi thường nhà nước với tư cách là loại trách nhiệm pháp lý.

Tuy nhà nước là phạm trù trừu tượng nhưng việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của nhà nước lại được triển khai bởi hệ thống các cơ quan, tổ chức và các cán bộ, công chức có thẩm quyền. Vì vậy, trách nhiệm pháp lý của nhà nước có thể phát sinh do hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đó. Trong lịch sử có những nhà nước và chế độ nhà nước không chịu bất kỳ loại trách nhiệm nào (vô trách nhiệm). Về chính trị, đó là những nhà nước không bị hạn chế quyền lực hay quyền lực của các nhà nước đó không có giới hạn xác định. ở đây, nhà nước và quan chức nhà nước không phải chịu hình thức trách nhiệm và hậu quả bất lợi nào; thần dân không có quyền gì ngoài sự phục tùng và phụng sự nhà nước. Nếu quan chức nhà nước có gây thiệt hại cho thần dân thì cũng vô can (6). Nhà nước dân chủ là nhà nước phải chịu trách nhiệm, bởi về chính trị, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quan hệ pháp luật trong quan hệ với dân (cá nhân, tổ chức), nhà nước là một bên chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, nên nhà nước phải chịu trách nhiệm. Đó cũng chính là những biểu hiện cụ thể của nhà nước pháp quyền hiện nay. Tuy vậy, lý luận về nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải dễ dàng được chấp nhận trong thực tiễn hoạt động nhà nước ở các nước trên thế giới. ở nhiều nước tư bản phát triển từ lâu vẫn tồn tại thuyết miễn trừ quốc gia – thuyết có nguồn gốc từ nước Anh hồi thế kỉ XV. Theo đó, nhà nước không thể bị truy cứu và phải chịu bất kỳ loại trách nhiệm pháp lí nào cả (7).

Loại trừ cách hiểu trách nhiệm theo nghĩa là nghĩa vụ, bổn phận phải làm, trách nhiệm của nhà nước mà chúng tôi đề cập là sự gánh chịu hậu quả bất lợi do việc vi phạm nghĩa vụ. Trên cơ sở đó, chúng tôi đi sâu phân tích khái niệm trách nhiệm pháp lý của nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại cho cá nhân, tổ chức do cán bộ công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ – trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước hay trách nhiệm bồi thường nhà nước (BTNN).

Hiện nay, nhiều nhà luật học cho rằng, trách nhiệm BTNN thuộc loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, nhưng cũng không đơn thuần như vậy mà có những đặc thù riêng. Bên cạnh các đặc điểm của loại trách nhiệm dân sự, tính đặc thù của trách nhiệm BTNN thể hiện ở chỗ trước hết đó là trách nhiệm thuộc về nhà nước (không phải là trách nhiệm của cá nhân cán bộ, công chức hay cơ quan nhà nước có thẩm quyền); thứ hai, nhà nước là loại chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp luật, do vậy tính chất của trách nhiệm bồi thường ở đây cũng đặc biệt, khác với trách nhiệm dân sự thông thường. Các đặc điểm riêng của trách nhiệm BTNN như trên đòi hỏi phải thiết kế xây dựng pháp luật tương đối độc lập so với việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật dân sự hay hành chính nhưng cơ chế điều chỉnh này cũng phải bảo đảm tính liên thông hoặc có khả năng hoán đổi linh hoạt giữa các cơ chế khi cần thiết nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. 

Lý luận về trách nhiệm BTNN hiện nay trên thế giới đã khắc phục được các tư tưởng “nhà nước vô trách nhiệm”, “nhà nước không bao giờ sai”, “nhà nước có quyền được miễn trừ”… Nhưng cũng cần phải hiểu đúng trách nhiệm nhà nước trong trường hợp này là “trách nhiệm thay thế”. Nhà nước với vai trò và trách nhiệm của mình phải đứng ra thực hiện nghĩa vụ bồi thường thay cho cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ đã gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. Mục đích của nhà nước là vì con người. Mọi việc làm của cán bộ, công chức đều được pháp luật quy định, nếu gây ra thiệt hại và có lỗi thì đó là sự vượt quá của cán bộ, công chức, còn bản thân nhà nước không có lỗi. Thành ra, ở chừng mực nào đó có thể vẫn phải tư duy rằng “nhà nước không bao giờ làm điều xấu” và đó là mệnh đề đúng. Nhưng điều cơ bản là quyền lực nhà nước và công vụ nói chung thường dễ bị lạm dụng hay cán bộ, công chức nhà nước thường có thói thiếu trách nhiệm, thờ ơ, thậm chí vô cảm… nên nhà nước với tư cách là người sử dụng cán bộ, công chức (người lao động, làm thuê cho nhà nước) phải chịu trách nhiệm bồi thường là hợp với lẽ công bằng. Mặc dù vậy, việc nhà nước phải bỏ tiền ra để bồi thường thiệt hại do hành vi phạm lỗi của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ vẫn là điều chưa hoàn toàn có tính thuyết phục đối với mọi người. Dưới góc độ là những người đóng thuế, các cá nhân, tổ chức có quyền được hưởng dịch vụ từ nhà nước để đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống và công việc làm ăn của mình, cớ sao họ lại phải đóng thuế để bồi thường vì việc làm sai của một số cán bộ, công chức nhà nước khi thi hành công vụ. Do vậy, trong quá trình xây dựng Dự thảo Luật BTNN cũng còn không ít ý kiến chưa đồng tình với việc lấy tiền ngân sách nhà nước để bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra khi thi hành công vụ, Theo đó, chỉ nên truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp này như trách nhiệm dân sự của cá nhân người thi hành công vụ chứ không phải là trách nhiệm của nhà nước (8). Dù từ khía cạnh nào đi nữa, thì trách nhiệm bồi thường của nhà nước đối với các thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra cho cá nhân, tổ chức là cách đặt vấn đề mới, thể hiện tư duy mới về nhà nước và trách nhiệm của nhà nước trong chế độ pháp quyền và dần dần đang trở thành phổ biến trên thế giới mà Việt Nam chúng ta cũng không thể nằm ngoài xu thế chung đó.

Như vậy, về khái niệm có thể định nghĩa: trách nhiệm BTNN là trách nhiệm pháp lý trong đó nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra.

2. Phân biệt bồi thường nhà nước với đền bù nhà nước

Về thuật ngữ, “bồi thường” và “đền bù” trong tiếng Việt có những điểm giống và khác nhau. Bồi thường là “đền bù bằng tiền những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm. Ví dụ: Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng. Bồi thường cho gia đình người bị nạn. Bồi thường danh dự” (9). Đền bù là “trả lại đầy đủ, tương xứng với sự mất mát hoặc sự vất vả” (10). Bồi thường và đền bù có điểm giống nhau là trả lại, bù lại phần bị mất, bị hao hụt so với nguyên trạng ban đầu, nhưng bồi thường gắn với việc nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ do lỗi, còn đền bù thì không có yếu tố lỗi (hoặc không thể xác định được lỗi) vì nhà nước thực hiện chính sách (chủ động) đối với loại đối tượng nhất định.

Trong khoa học pháp lý, vấn đề trách nhiệm BTNN được các luật gia quan tâm không hoàn toàn đơn thuần như vậy. Bên cạnh xu hướng căn cứ vào yếu tố lỗi để xác định nghĩa vụ bồi thường của nhà nước, xu hướng khác đề nghị chỉ cần căn cứ yếu tố thiệt hại trong khi thực hiện công vụ, còn yếu tố lỗi là do suy đoán. ở xu hướng thứ hai, tính chất, ranh giới giữa bồi thường và đền bù đã bị xoá nhoà với ý tưởng nhằm bảo vệ nghiêm ngặt và có hiệu quả hơn các quyền con người. Chỉ cần có thiệt hại thực tế, không cần xét yếu tố lỗi (hoặc lỗi do suy đoán) của cán bộ, công chức, nhà nước vẫn phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào cơ chế này cũng được thực thi dễ dàng và về mặt lý luận cũng không thuyết phục mọi người một cách chắc chắn, bởi lẽ cũng còn phải tính đến khả năng thực tế của ngân sách nhà nước và bảo đảm nguyên tắc duy trì ổn định cho các hoạt động của bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức nhà nước. Mặt khác, đối với hoạt động tố tụng hình sự, có quan điểm hiện nay coi đây là việc nhà nước thực hiện chính sách đền bù tổn thất, không tính yếu tố lỗi của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Quan điểm này cũng giống như ở Nhật Bản, người ta gọi đây là “đền bù hình sự”. Người bị thiệt hại, tổn thất được nhà nước đền bù ở mức cố định theo quy định của pháp luật nhưng nếu theo cơ chế kiện đòi bồi thường thiệt hại mà nạn nhân được hưởng mức cao hơn thì nạn nhân cũng có quyền đó (11).

Trong quá trình soạn thảo Luật BTNN hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ bồi thường và đền bù, nhất là trong lĩnh vực tố tụng hình sự: “Trong mọi trường hợp, khi một cá nhân bị thiệt hại trong tố tụng hình sự sẽ được nhà nước chủ động bồi thường thiệt hại mà họ không cần phải khởi kiện yêu cầu bồi thường. Việc bồi thường của nhà nước được hiểu là sự bù đắp tổn thất cho người bị thiệt hại dù công chức nhà nước đã thực hiện công việc của mình hoàn toàn đúng pháp luật. Bên cạnh đó, về mặt thuật ngữ, việc bù đắp tổn thất của nhà nước cho người bị thiệt hại được thể hiện thông qua thuật ngữ “đền bù thiệt hại” để nổi bật tính chất của trách nhiệm nhà nước trong trường hợp này – trách nhiệm của nhà nước trong trường hợp này không phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ là trách nhiệm bù đắp một phần tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu vì công chức nhà nước đã không làm trái pháp luật khi thực hiện công việc của mình. Tuy vậy, ý kiến khác cho rằng bồi thường hay đền bù nhà nước chủ yếu chỉ tồn tại trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, không có trong hoạt động tư pháp vì bản thân hoạt động tố tụng với nguyên tắc chế ước, kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, giữa các cấp xét xử cũng như cơ chế tranh tụng đã bao hàm sự loại trừ những điều sai trái nên không đặt vấn đề bồi thường thiệt hại ở đây (12). Chúng tôi thấy đây cũng là ý kiến cần được nghiên cứu kỹ trong quá trình soạn thảo Luật BTNN, nhất là xem xét xem có nên quy định vấn đề đền bù thiệt hại trong quá trình tố tụng trong một văn bản quy phạm pháp luật khác hay cũng đưa vào luật này. Nếu muốn đưa chung vào thì tên gọi của đạo luật phải khác đi, chứ không thể dùng chung từ bồi thường như Dự thảo.

Từ góc độ tổng quát, bồi thường và đền bù được sử dụng để phân biệt hai trường hợp: Thứ nhất là cán bộ, công chức nhà nước gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức trong khi thực hiện công vụ (bồi thường); thứ hai, nhà nước thực hiện các chính sách của mình, chẳng hạn chính sách cải tạo quan hệ sản xuất, phát triển kinh tế, trưng mua, trưng dụng, quản lý, sử dụng đất đai, các nguồn tài nguyên… (đền bù).  Trên thực tế, các thuật ngữ này được sử dụng không thống nhất, thậm chí trong cùng một lĩnh vực. Ví dụ: khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng… người ta vẫn sử dụng thuật ngữ bồi thường là không chính xác (13). Ngay cả Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) cũng sử dụng thuật ngữ bồi thường cho cả hai trường hợp. Hiến pháp năm 1992 quy định: “… Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường” (Điều 23).

“…Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự” (Điều 72).

“Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự” (Điều 74)

Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 sử dụng thuật ngữ bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Nghị định của Chính phủ số 47/CP ngày 3/5/1997 cũng dùng thuật ngữ bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra. Dự thảo Luật BTNN do Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII nêu việc  “bồi thường” trong cả ba lĩnh vực là quản lý hành chính nhà nước, tố tụng (dân sự, hình sự, hành chính) và thi hành án. Điều cần lưu ý là Dự thảo này cũng chưa thể hiện rõ sự nhất quán về thuật ngữ bồi thường. Điều 16 của Dự thảo nêu: “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong việc thực hiện các công vụ sau đây: … 9. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”.

Như vậy, Dự thảo vẫn dùng khái niệm bồi thường thay cho đền bù trong việc thu hồi đất là không bảo đảm tính thống nhất về thuật ngữ. Vì vậy, khi xây dựng Luật BTNN, một vấn đề   được đặt ra là trước hết cần phải có nhận thức và quy định thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật từ Hiến pháp đến các đạo luật, các văn bản dưới luật cũng như việc áp dụng pháp luật về các thuật ngữ bồi thường và đền bù nhà nước.

Chú thích:

(1) Xem: Martine Lombard và Gilles Dumont, Pháp luật hành chính Cộng hoà Pháp; Nxb. Tư pháp; H, 2007; tr. 722.

(2) Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt; Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học; 2002; tr. 1020.

(3) Xem: http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn.

(6) chúng tôi Nguyễn Đăng Dung, Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước, Nxb. Tư pháp, H; 2006; tr. 41.

(7) Xem:  http://www.vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2004, chúng tôi Nguyễn Đăng Dung, Bồi thường thiệt hại với tư cách là một chế định của nhà nước chịu trách nhiệm.  

(8) Xem: Lê Thanh Phong, Ai bỏ tiền bồi thường, Báo Lao động số 195/2008 (7999), ngày 25/8/2008; tr. 1.

(9) Viện Ngôn ngữ học, Sđd, tr. 82.

(10) Viện Ngôn ngữ học, Sđd, tr. 310.

(13) Khoản 6, Điều 4 của Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu håi ®Êt”.

SOURCE: TAPJC HÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/trach-nhiem-boi-thuong-nha-nuoc-va-phan-biet-voi-111en-bu-nha-nuoc

Like this:

Like

Loading…

Related

Điều Kiện Đăng Ký Nhãn Hiệu Theo Quy Định Của Pháp Luật

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân khác nhau. Nhãn hiệu được doanh nghiệp sử dụng trong suốt quá trình hoạt động và phát triển của mình.

Để xây dựng được một nhãn hiệu ghi dấu trong tâm trí khách hàng, doanh nghiệp đã phải đầu tư xây dựng và bảo vệ. Vì những giá trị này nên nhãn hiệu cần được đăng ký để ngăn chặn những hành vi xâm phạm. Vậy theo quy định hiện hành có những điều kiện đăng ký nhãn hiệu nào?

Điều kiện về mặt hình thức của nhãn hiệu

Về hình thức, nhãn hiệu phải thỏa mãn hai điều kiện sau:

Nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Tức là nhãn hiệu phải được nhận thức, cảm nhận bằng thị giác của con người, nhãn hiệu phải tồn tại dưới dạng chữ viết, hình ảnh, hình vẽ hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên và được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.

Nhãn hiệu phải có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết, dế ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp thuộc khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Điều kiện đăng ký nhãn hiệu về mặt chủ thể đứng tên với vai trò chủ đơn trên tờ khai đăng ký nhãn hiệu

Chủ đơn phải là cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự; Hoặc là pháp nhân, tổ chức được thành lập hợp pháp hoặc thừa nhận hợp pháp tại Việt Nam.

Chủ thể đơn đã chấp hành đúng quy định về nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và quy định về đóng phí, lệ phí nhà nước. Điều kiện này được hiểu là chủ đơn chấp hành đúng quy trình đăng ký độc quyền nhãn hiệu theo các quy định pháp luật liên quan.

Một nhãn hiệu sẽ không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn nếu thuộc một trong các trường hợp sau

Nhãn hiệu là dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các nước;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài;

Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng, trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận;

Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ.

Qua bài viết này, chúng tôi đã chia sẻ tới bạn những điều kiện đăng ký nhãn hiệu, nhằm giúp bạn thuận lợi hơn trong quá trình xem xét và đăng ký nhãn hiệu.

Luận Văn Đề Tài Luật Chống Bán Phá Giá Và Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Cá Tra, Cá Basa Của Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và quốc tế nền kinh tế, hội nhập và tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế là xu thế không thể đảo ngược đối với mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế của mình. Cùng với việc thực hiện đường lối chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt nam đã và đang tham gia sâu và rộng vào các tổ chức thương mại quốc tế như ASEAN, APEC và WTO. Việt Nam đã đạt được thành tựu khá ngoạn mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ. Những bên cạnh đó cũng đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những quy định mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp.để bảo hộ nền sản xuất trong nước của mình. Áp lực từ các vụ kiện bán phá giá sẽ ngày càng tăng, sẽ ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế nói chung và thị trường xuất khẩu của Việt Nam nói riêng. Ngành sản xuất và chế biến thủy sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước. Trong vài năm gần đây, cá basa và cá tra Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Mỹ dưới dạng philê đông lạnh đã góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu thụ cá của người dân Mỹ đồng thời thúc đẩy được nghề nuôi loại cá này ở Việt Nam, Phát triển buôn bán cá basa, cá tra giữa Việt Nam và Mỹ là nhằm mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia. Nhưng thật đáng tiếc, Hiệp hội các chủ trại nuôi cá nheo Mỹ đã sớm lo lắng cho sự xâm nhập của cá basa và cá tra vào thị trường của họ đến mức đâm đơn kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá các sản phẩm này vào thị trường Mỹ. Như chúng ta đã biết, xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang dần xoá bỏ những rào cản thuế quan giữa các thị trường nhưng lại tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch phát triển đặc biệt là ở các nước giầu mạnh. Thương trường Mỹ mở ra những cơ hội đầy triển vọng nhưng nó lại được điều chỉnh bằng một hệ thống luật pháp và các rào cản thương mại cực kỳ chặt chẽ. Luật thuế Chống bán phá giá hiện nay đang là một công cụ hữu hiệu được sử dụng phổ biến trên thị trường này nhằm bảo hộ nền công nghiệp trong nước trước cơn lũ hàng nhập khẩu từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa Việt Nam vào thị trường Mỹ đã cho thấy những rào cản đầu tiên mà các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp phải khi tiếp cận thị trường Mỹ. Nhưng không vì thế mà các doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra bi quan và e ngại. Chúng ta đã tích cực hầu kiện và đã rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu. Chính vì tầm quan trọng và tính thời sự của vấn đề, nhóm em mạnh dạn chọn đề tài “Luật Chống Bán Phá Giá Và Giải Pháp Cho Doanh Nghiệp Xuất Khẩu Cá tra, cá BaSa Của Việt Nam” nhằm mục đích tìm ra một số giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá Basa của Việt Nam.

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Cá Cờ Trong Tiếng Tiếng Pháp

Vào cái ngày khi tôi mới chỉ là một cậu bé bảy tuổi đang ngồi câu cá, tôi kéo được một con cá cờ với những chiếc gai vây lưng nhọn, thật mạnh và nhanh đến nỗi tôi bị mù một bên mắt.

Un jour, je n’avais que sept ans, en pêchant, j’ai sorti un pinfish, comme on l’appelle, avec des épines dorsales acérées — en tirant trop fort. Et je me suis crevé un oeil.

ted2019

RM: Tất cá những lá cờ đẹp nhất có xu hướng tuân theo các nguyên tắc này.

RM : Les meilleurs drapeaux respectent assez ces règles.

ted2019

Ông nói: “Từ việc mua vé số, tôi đã đi đến đánh cá ngựa và cờ bạc tại các sòng bạc.

Il raconte : “ Je suis passé des billets de loterie aux courses de chevaux et aux casinos.

jw2019

En savoir plus sur les catégories dédiées aux alcools ainsi qu’aux paris et jeux d’argent et de hasard

support.google

Dám cá lũ khỉ từ bộ cờ mà ra.

Les singes sont sortis du jeu.

OpenSubtitles2018.v3

Cờ bạc: Cá cược được ăn cả, các trang web sòng bạc, các trang web bán thiết bị đánh bạc và các loại hình khác.

Jeux d’argent et de hasard : loteries, sites Web de casino, sites de vente d’équipements liés aux jeux d’argent et de hasard, etc.

support.google

La catégorie limitée Paris et jeux d’argent et de hasard (plus de 18 ans) inclut les annonces pour des jeux d’argent et de hasard en ligne ou basés sur la position des joueurs, qui ne sont diffusées que dans les régions où ces jeux sont légaux.

support.google

Và tình cờ là ta rất rành cá cược.

Comme il arrive, je suis un homme de paris.

OpenSubtitles2018.v3

Điều này xảy ra bởi kể cả hành động đơn giản nhất của một chú cá cũng có thể tình cờ truyền đạt thông tin quan trọng.

ted2019

Các mộng mị như thế cũng khiến người ta mê mệt đủ loại cờ bạc như đánh cá ngựa và mua vé số.

Ces fantasmes les incitent même à se livrer à toutes sortes de jeux d’argent, comme les paris sur les chevaux ou la loterie.

jw2019

Vous pouvez autoriser la diffusion d’annonces issues des catégories limitées englobant les alcools, les jeux d’argent et de hasard, ainsi que les paris, sauf si ces catégories ont été désactivées pour votre réseau.

support.google

Mỗi phi hành gia mang theo khoảng 10 lá cờ lụa trong hộp dụng cụ cá nhân của họ.

Chaque astronaute avait le droit d’emporter environ dix drapeaux de soie dans leur bagage personnel.

QED

Exemples de contenus liés aux jeux d’argent et de hasard à diffusion contrôlée : loteries nationales ou privées, sites proposant des codes bonus ou des offres promotionnelles pour des sites de jeux d’argent et de hasard

support.google

23 Còn nói gì về chuyện cờ bạc, dù là đánh cá ở trường đua hay ở sòng bạc hoặc luôn luôn đánh sổ số?

23 Qu’en est- il du jeu, qu’il consiste à miser gros aux courses ou dans les casinos, ou à acheter régulièrement des billets de la loterie?

jw2019

Trong khi lặn ngoài khơi quần đảo Cape Verde, nhà thám hiểm hải dương Jacques-Yves Cousteau và một cộng tác viên tình cờ gặp một con cá mập trắng lớn.

Lors d’une plongée au large des îles du Cap Vert, Jacques-Yves Cousteau et un compagnon sont tombés sur un gros requin blanc.

jw2019

Những tay cờ bạc thì cầu vấn các nhà chiêm tinh trước khi bỏ tiền ra cá.

Les joueurs consultent les astrologues pour engager leurs paris.

jw2019

” (2 Timothée 2:24). Dans les questions relatives au salut au drapeau et au chant d’hymnes nationaux, tout en écoutant leur conscience éduquée par la Bible, les chrétiens s’efforcent donc d’être pacifiques, respectueux et doux.

jw2019

(1 Cô-rinh-tô 6:9, 10) Nhiều người ham mê cờ bạc đã bắt đầu từ lúc còn nhỏ bằng cách cá độ với số tiền nhỏ.—1/11, trang 31.

Nombre d’accros du jeu ont commencé jeunes en misant de petites sommes. — 1/11, page 31.

jw2019

(1 Ti-mô-thê 3:8) Vậy, nếu muốn làm đẹp lòng Đức Giê-hô-va, bạn phải tránh mọi hình thức cờ bạc, kể cả việc chơi xổ số và cá cược.

(1 Timothée 3:8.) Par conséquent, si vous désirez plaire à Jéhovah, vous devez refuser toute forme de jeu d’argent, qu’il s’agisse des différentes loteries, des paris sur des courses de chevaux, etc.

jw2019

Các tính năng cá nhân đã truyền cảm hứng cho nhiều người đam mê cờ vua trên máy tính nghiệp dư để cố gắng tìm thêm tính cách tối ưu.

Le dispositif de personnalité a inspiré beaucoup de fervents amateurs d’échecs sur ordinateur qui tentent de trouver la personnalité optimum.

WikiMatrix

Exemples : Produits promotionnels de type coupons ou codes bonus ; supports de formation de type didacticiels ou livres numériques ; logiciels de type calculatrices de probabilités pour le poker ; autres informations relatives aux jeux d’argent et de hasard, de type conseils, probabilités, pronostics et paris sportifs ; sites affiliés ou agrégateurs, qui effectuent la promotion de contenus relatifs aux jeux d’argent et de hasard

support.google

Bạn có thể có những góc nhìn mới từ những cá thể này, hay, như chồng tôi, tình cờ là người da trắng, có thể sẽ học được rằng người da đen, đàn ông, phụ nữ, trẻ em, đều xài sữa dưỡng thể mỗi ngày.

Vous pourriez recevoir d’intéressants et nouveaux éclairages de la part de ces personnes, ou, comme mon mari, qui se trouve être blanc, vous pourriez apprendre que nous, les noirs, hommes, femmes, enfants, on utilise des crèmes hydratantes chaque jour.

ted2019

Một ngày nọ một chiếc giày của tôi rớt xuống nước và mãi tới vài tuần sau mới tìm lại được, đó là lúc mà con gái của một Nhân-chứng tình cờ thấy chiếc giày khi đi câu cá!

Un jour, une de mes chaussures est tombée dans un cours d’eau. Elle y est restée plusieurs semaines, jusqu’au jour où la fille d’un frère l’a repêchée par hasard !

jw2019

Cá mập voi có “cách nhẹ nhàng để tống ra ngoài những vật lớn nó tình cờ nuốt phải mà thấy khó tiêu hóa”.—Giô-na 2:1, 11.

Le requin-baleine a “ une façon non violente de se débarrasser d’objets volumineux à la digestibilité douteuse qu’il avale par accident ”. — Yona 1:17 ; 2:10.

jw2019

“Trò chơi đánh bạc trên mạng xã hội” được định nghĩa là trò chơi mô phỏng cờ bạc (bao gồm nhưng không giới hạn, bài xì phé, máy đánh bạc, trò chơi cờ bạc, xổ số, cá cược thể thao, cá cược cuộc chạy đua, cũng như trò chơi bài và trò chơi đánh bạc khác) mà không có cơ hội giành phần thưởng có bất kỳ giá trị nào (chẳng hạn như tiền hoặc giải thưởng).

La catégorie “Jeux de casino sur les réseaux sociaux” inclut les simulations de jeux d’argent et de hasard (y compris, mais sans s’y limiter, le poker, les machines à sous, le bingo, les loteries, les paris sportifs, le tiercé, et d’autres jeux de cartes et de casino) ne proposant aucune récompense de valeur (par exemple, de l’argent ou des prix).

support.google

Cập nhật thông tin chi tiết về Pháp Luật Dân Sự trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!