Xu Hướng 2/2024 # Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Cá Tra Và Cá Basa # Top 2 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Cá Tra Và Cá Basa được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Quy Trình Kỹ thuật Sản Xuất Giống Cá Tra và Cá Basa

Kỹ thuật sản xuất giống Cá Tra và Cá Basa

1. Nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ

1.1. Ao nuôi vỗ cá bố mẹ

Ao nuôi cá nên chọn đào ở những nơi đất thịt và ít bị nhiễm phèn, nên gần nhà để tiện chăm sóc và bảo vệ. Ao nuôi vỗ cá tra có diện tích ít nhất 500 m2, ao nuôi vỗ cá ba sa bố mẹ nên có diện tích lớn hơn, phải từ 1000 m2 trở lên, độ sâu mực nước từ 1,5 – 3 m. Nhiệt độ nước ao thích hợp từ 26 – 30°C, pH thích hợp từ 7 – 8, hàm lượng oxy hòa tan từ 2mg/l trở lên.

Nhìn chung ao càng rộng, thóang càng tạo không gian họat động thỏai mái cho cá. Ao rộng thì giữ được sự ổn định của các yếu tố môi trường nhất là những khi thời tiết thay đổi. Ao rộng và thóang sẽ dễ dàng tạo được sự đối lưu giữa các tầng nước và các khu vực trong ao, điều hòa lượng khí oxy hòa tan trong nước giúp cho cá sinh trưởng và phát triển thuận lợi, thành thục dễ dàng và chất lượng sản phẩm sinh dục tốt. Một số địa phương, nhiều hộ có ao nuôi vỗ cá tra bố mẹ với diện tích nhỏ hơn 500 m2, vì vậy các yếu tố thủy lý hoá trong ao biến đổi nhiều, dẫn đến tỷ lệ thành thục cũng như sức sinh sản của cá bố mẹ đều kém, chất lượng trứng và tinh dịch không tốt, tỷ lệ sống của cá bột thấp. Ðộ sâu của ao cũng phải hợp lý để tạo thêm không gian họat động cho cá. Ao sâu thường giữ được nhiệt độ ổn định hơn ao cạn . Nhưng ao qúa sâu cũng không tốt, vì ao sâu có ảnh hưởng tới chất lượng công trình, đồng thời lớp nước dưới đáy ao ít được trao đổi, chất lắng đọng nhiều, nhiệt độ thấp, lượng oxy hòa tan thấp nên không thuận lợi cho cá.

Ao phải được xây dựng gần nguồn cấp nước, gần sông hoặc kênh mương để dễ dàng và chủ động lấy nước cho ao. Nguồn nước cấp cho ao phải chủ động, sạch, không bị ô nhiễm bởi nước thải sinh hoạt hay nước thải công nghiệp, hoá chất. Nước bị nhiễm chua phèn hoặc kiềm quá đều không tốt. Nước có chứa các kim lọai nặng thì dễ gây độc cho cá.

Ðáy ao không nên có nhiều bùn, vì dễ làm ô nhiễm và gây bệnh cho cá. Nếu đáy ao cát, độ thẩm thấu lớn và dễ bị sạt lở, khó giữ được nước ao. Bờ ao phải chắc chắn, không để lỗ mọi rò rỉ, chiều cao bờ phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm để đề phòng ngập vào mùa nước lũ. Mái bờ cần dốc thoai thoải 30-400 để tránh sạt lở. Ao phải có cống cấp và cống thoát để giữ mực nước ổn định cũng như cấp và tháo nước dễ dàng khi cần thiết. Ðáy ao phải bằng phẳng và hơi nghiêng về phía cống thóat với độ dốc khỏang 0,3 – 0,4%. Nên giữ mặt ao thoáng đãng, không để tán cây lớn che khuất mặt ao

Trước khi thả cá bố mẹ để nuôi vỗ, phải tiến hành các công việc chuẩn bị và cải tạo lại ao: tát hoặc tháo cạn nước ao, bắt hết cá tạp, cá dữ, vét bớt bùn đáy ( chỉ nên để lớp bùn dày 20 – 25 cm ). Dọn sạch cỏ, chặt bớt các tán cây che khuất quanh bờ ao, đắp lại những chỗ sạt lở và hang hốc cua, rắn, ếch, chuột.Ðể diệt cá tạp và nhất là cá dữ trong ao, ta thường dùng rễ cây thuốc cá (Derris), cứ 1kg rễ cây thuốc cá dùng cho 100 m3 nước, ngâm nước 8 – 10 giờ rồi đập dập hoặc giã nát rồi vắt lấy nước và tạt đều khắp ao vào lúc trời nắng. Chất Rotenon có trong rễ cây thuốc cá sẽ diệt hết mọi cá tạp và cá dữ còn sót lại trong ao. Sau khi diệt tạp, dùng vôi bột rải đều đáy và mái bờ với lượng vôi từ 7 – 10 kg/100m2. Phơi nắng đáy ao 1 – 2 ngày và cho nước vào ao từ từ qua lưới chắn lọc, khi mực nước cao đạt yêu cầu thì tiến hành thả cá bố mẹ.

1.2. Bè nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá bố mẹ sinh sản cũng được nuôi trong bè: Bè để nuôi cá bố mẹ cũng giống như bè nuôi cá thịt. Thực tế cho thấy khi nuôi cá bố mẹ trong bè thì tỷ lệ thành thục cũng như chất lượng sản phẩm sinh dục đều rất tốt. Bè đặt trên sông nước lưu thông, nhờ dòng nước chảy thường xuyên, cung cấp đầy đủ oxy và môi trường sạch, không bị ô nhiễm bởi các chất thải của cá, các yếu tố thủy lý hoá khác của nước sông ổn định nên rất thuận lợi cho đời sống và phát dục của cá.

a- Cấu tạo bè nuôi cá

Vật liệu đóng bè chủ yếu là các loại gỗ tốt, chịu nước và lâu mục như gỗ sao, vên vên, căm xe, chò. Hiện nay còn có loại bè bằng chất liệu mới như composite, inox, có nơi đang thử nghiệm dùng chất béton polystirène. Vật liệu phải đảm bảo yêu cầu dễ làm vệ sinh, dễ khử trùng và không gây nhiễm cho cá nuôi.

Bè được đóng theo dạng khối hộp chữ nhật, gồm khung bè, mặt bè, hông bè, đầu bè, đáy bè, phần nổi và neo bè. Phần nổi (phao nâng bè) có thể làm bằng thùng phuy, thùng gỗ, hộp sắt, thùng nhựa, ống PVC. Kích thước bè phổ biến ở các tỉnh ÐBSCL là 6 x 3 x 3m hoặc 8 x 5 x 3m, độ sâu nước từ 2,5-3 m, thể tích trung bình một bè khoảng trên dưới 100m3 . Trên bè có thêm các công trình phục vụ sinh hoạt, sản xuất, nơi chế biến thức ăn, nhà kho, nơi nghỉ ngơi. Bè được cố định bằng neo ở 4 góc, dây neo được buộc vào trụ neo ở đáy hay bằng mỏ neo.

b- Vị trí đặt bè

Bè được đặt nổi và neo cố định tại một vị trí thuận lợi trên sông, gần bờ, dọc theo dòng nước chảy, nơi có dòng chảy thẳng và liên tục, cách bờ ít nhất 10m, lưu tốc 0,2-0,5m/giây, mức nước sông tương đối điều hoà. Mặt bè phải nổi cao hơn mực nước sông 0,3-0,5m, đáy bè cách đáy sông ít nhất 0,5 m vào lúc nước ròng. Nơi đặt bè không ảnh hưởng đến giao thông trên sông, chỉ được đặt ở những khúc sông có chiều rộng mặt sông lúc mực nước thấp nhất từ 70 m trở lên. Nước sông nơi đặt bè không bị ảnh hưởng trực tiếp nước phèn, mặn và không thay đổi đột ngột. Nguồn nước lưu thông sạch, không ô nhiễm, xa các cống nước thải. Tránh nơi luồng nước ngầm, bồi tụ, xói lở, nơi có nhiều rong cỏ, nơi dòng nước có quá nhiều phù sa. Ngoài ra cũng cần chú ý đến vị trí thuận tiện giao lưu, gần các trục lộ giao thông giúp cho vận chuyển thức ăn, đi lại dễ dành thuận lợi.

Khi chọn vị trí đặt bè cũng phải xem xét và cân nhắc hợp lý các điều kiện trên để quyết định chính xác vì việc di chuyển bè rất khó khăn, tốn kém cũng như sẽ ảnh hưởng đến kết quả nuôi vỗ.

Trước khi thả cá nuôi vỗ phải dọn vệ sinh bè, phun tẩy trùng bè bằng formol với nồng độ 30 ppm (ppm=mg/lít). Phải xem xét, kiểm tra và tu sửa bổ sung hoàn chỉnh tất cả các chi tiết của bè, thay các phần ván hư mục, lưới chắn .

1.3. Lựa chọn cá bố mẹ nuôi vỗ

Có thể chọn cá để nưôi làm cá hậu bị từ những đàn cá thịt nuôi trong ao hoặc trong bè. Ðàn hậu bị được nuôi đến năm thứ hai thì lựa những cá thể tốt nhất để làm đàn cá bố mẹ chính thức. Chọn những con khỏe mạnh, ngoại hình cân đối, hoàn chỉnh không bị dị hình, di tật, trọng lượng của cá tra và ba sa từ 3 – 4 kg, có độ tuổi từ 3 năm trở lên và nên lựa chọn đều nhau về quy cỡ. Những cá khỏe và thể trọng lớn sẽ thành thục tốt, hệ số thành thục và sức sinh sản cao (có nhiều trứng). Không nên chọn cá quá nhỏ để đưa vào nuôi vỗ, vì cá nhỏ sẽ có chất lượng sản phẩm sinh dục sẽ kém. Nên chọn những cá có nguồn gốc xa nhau, của nhiều đàn cá thịt ở các ao khác nhau nhằm tránh sự cận huyết, vì xảy ra cận huyết sẽ làm giảm sức sống của các thế hệ con cháu về sau, chúng sẽ chậm lớn, nhiều cá thể bị dị hình, sức đề kháng với bệnh tật kém.

Mật độ nuôi vỗ cá bố mẹ như saụ: với cá tra nuôi vỗ trong ao nên thả 1 kg cá bố mẹ trong 5 m3 nước, cá ba sa thì 1 kg bố mẹ trong 10m3 nước. Nếu nuôi vỗ trong bè thì thả cá tra 5 -7 kg/m3, cá ba sa 3-4 kg/ m3. Có thể nuôi chung cá đực, cái trong một ao hoặc bè, tỷ lệ nuôi đực/cái là 1/1.

Ðể theo dõi được chặt chẽ và chính xác từng cá thể, nên dùng biện pháp đánh số cho cá. Với cá tra và ba sa do có phần mặt trên xương sọ của đầu khá rộng nên có thể dùng que nhọn đầu để đánh dấu thứ tự cá bố mẹ lên đó. Dùng số La mã đánh số cho cá cái, số Ả rập cho cá đực. Mỗi lần kéo cá để kiểm tra sẽ ghi lại được tình trạng và mức độ phát dục theo đúng thứ tự từng con cá bố mẹ đã được đánh số. Sau đó cứ khoảng 2-3 tháng nên gạch lại số cũ để tránh tình trạng lẫn lộn do số bị mờ. Có thể dùng thẻ đeo số cho cá hoặc đánh dấu bằng thẻ từ nếu có điều kiện (vì dấu từ rất đắt, thường chỉ dùng cho việc đánh dấu trong nghiên cứu chọn giống). Khi cá đã thành thục và phân biệt rõ đực cái thì ta cắt luôn vây mỡ của cá đực, biện pháp này giúp cho nhận biết cá đực rất nhanh và chính xác. Vây mỡ của cá mọc lại rất chậm và có thể hai năm mới phải cắt lại một lần. Lúc này số đánh dấu trên đầu cá đực giúp cho biết tình trạng phát dục, như cá đã có tinh dịch hay chưa, có nhiều hay ít.

1.4. Mùa vụ, thời gian nuôi vỗ và sinh sản

Mỗi năm sau khi kết thúc mùa sinh sản nhân tạo, đàn cá bố mẹ được đưa vào nuôi hồi sức, sau đó phải được kiểm kê, đánh giá và chọn lọc để chuẩn bị nuôi vỗ cho mùa sinh sản tiếp theo. Tùy theo nhiệm vụ, yêu cầu thị trường, cũng như năng lực và cơ sở vật chất của từng cơ sở, từng trại giống để tính toán số lượng cá bố mẹ nuôi vỗ cho phù hợp.

Ðối với cá tra, ở các tỉnh Nam bộ mùa vụ nuôi vỗ bắt đầu từ tháng 10 – 11 năm trước, các tỉnh miền Trung ( từ Ðà nẵng trở vào ) thời gian bắt đầu nuôi có thể chậm hơn khoảng một tháng. Các tỉnh miền Bắc do ảnh hưởng thời tiết lạnh mùa đông nên nuôi vỗ phải muộn hơn, đàn cá phải được nuôi lưu giữ qua đông và nuôi vỗ tích cực từ tháng 3 trở đi. Ở khu vực Nam bộ thời gian cá thành thục và bước vào sinh sản từ tháng 3, mùa cá đẻ có thể kéo dài tới tháng 9. Khu vực các tỉnh miền Trung thời gian cá thành thục và cho đẻ muộn hơn, từ tháng 4 và kéo dài đến tháng 9 hàng năm.

Cá ba sa đang được nuôi để sinh sản chủ yếu tập trung ở các tỉnh Ðồng bằng sông Cửu long, mùa vụ bắt đầu nuôi vỗ từ tháng 10 năm trước. Cá thành thục và cho đẻ tập trung từ tháng 4-5, mùa đẻ có thể kéo dài tới tháng 9.

Trong mùa vụ sinh sản nhân tạo cả hai loài cá tra và ba sa, nhiệt độ nước thích hợp cho cá đẻ và ấp trứng từ 28 – 30°C.

1.5. Thức ăn cho cá bố mẹ

– Nhu cầu thức ăn của cá bố mẹ .

Ðể cá phát triển và có sản phẩm sinh dục tốt, cần phải cung cấp thức ăn cho cá đủ về số lượng và chất lượng, cân đối về thành phần dinh dưỡng. Nhu cầu về hàm lượng dinh dưỡng cho cá tra và ba sa bố mẹ tương đối cao, phải có đủ và cân đối hàm lượng các loại như đạm, đường, mỡ, vitamin, chất khoáng. Ðặc biệt hàm lượng đạm (Protein) phải đảm bảo từ 30% (cá tra) và 40% (cá ba sa) trở lên thì cá mới thành thục tốt. Hàm lượng Lipit tối thiểu 10% trở lên. Có hai loại thức ăn chủ yếu thường dùng hiện nay là thức ăn hỗn hợp tự chế biến và thức ăn viên công nghiệp.

a- Thức ăn hỗn hợp tự chế biến

Nguyên liệu để chế biến thức ăn cho cá bao gồm phụ phẩm nông nghiệp (cám, tấm, bột, lúa lép nghiền mịn, bột đậu tương, bột ngô, bột sắn), cá tạp, cá vụn, đầu tôm cá, khô cá biển, bột cá lạt, con ruốc (moi), bột xương, rau xanh (rau muống, rau khoai lang, rau cải) quả (bí ngô), cùi dừa v.v. Ngoài ra nên bổ sung thêm các loại vitamin (A,C,D,E), đặc biệt là vitamin C, premix khoáng các thành phần chứa nguyên tố vi lượng vào thức ăn cho cá, giúp cá tăng sức đề kháng phòng chống lại được bệnh tật và nhanh phát dục.

Ðể thức ăn có đủ hàm lượng dinh dưỡng cần thiết và cân đối cho cá, ta phải chọn một số thành phần trên để trộn và chế biến thành thức ăn. Một số công thức phối trộn nguyên liệu chế biến thức ăn có thể tham khảo ở bảng sau :

Bảng 2- Một số công thức chế biến thức ăn cho cá tra

Công thức 1

– Cá tạp, cá vụn (tươi) 90% .

– Cám gạo : 9% .

– mi khoáng 1% .

– Vitamin C 10mg/100kg thức ăn .

Công thức 2

– Cá vụn (khô) 65% .

– Cám gạo 15% .

– Bột ngô (bắp) 19% .

– mi khoáng 1% .

– Vitamin C 10mg/100kg thức ăn .

Công thức 3

– Bột cá lạt 50-60% .

– Cám gạo 20-30% .

– Bột ngô (bắp) 19% .

– mi khoáng 1% .

– Vitamin C 10mg/100kg thức ăn .

Công thức 4

– Bột cá lạt 50-60% .

– Bột đậu tương 20% .

– Cám gạo 19-29% .

– mi khoáng 1% .

– Vitamin C 10mg/100kg thức ăn .

Nguyên liệu phải đảm bảo sạch, không bị mốc hoặc biến chất hay quá hạn sử dụng, cá tạp, cá vụn hoặc đầu tôm cá, phụ phẩm lò mổ không bị ươn thối. Tuyệt đối không sử dụng các hoá chất hoặc chất kháng sinh bị cấm sử dụng để trộn vào thức ăn chế biến cho cá. Theo quyết định số 01-2001/BTS ngày 20/01/2001 của Bộ Thuỷ Sản.

Theo công thức thức ăn, các loại nguyên liệu được nghiền nát , phối trộn đều và nấu chín. Lò nấu thức ăn đặt trên sàn bè để thuận tiện cung cấp thức ăn cho cá. Thức ăn sau khi nấu chín, để nguội có thể ép viên hoặc vo thành nắm nhỏ rồi rải cho cá ăn. Cũng có thể dùng máy ép đùn đưa thức ăn trực tiếp xuống bè nuôi.

b- Thức ăn viên công nghiệp

Thức ăn cho cá tra bố mẹ phải có hàm lượng đạm 30% và thức ăn cho cá ba sa có hàm lượng đạm 40% trở lên. Có thức ăn viên dạng chìm và dạng nổi với các cỡ thức ăn khác nhau cho cá ở từng giai đoạn phát triển, dạng thức ăn viên nổi thì cá dễ dàng sử dụng hơn. Thức ăn viên sử dụng cho cá phải đảm bảo hoàn toàn không chứa các hoá chất hoặc thuốc kháng sinh bị cấm sử dụng và dư lượng các chất được phép sử dụng phải trong mức giới hạn cho phép.

c- Cho cá ăn

Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, buổi sáng ( 7-8 giờ ) và buổi chiều (16-17 giờ). Khẩu phần cho cá ăn hàng ngày với thức ăn hỗn hợp tự chế biến từ 5 – 8% thể trọng cá, thức ăn viên công nghiệp 2-3% thể trọng ( tức là cứ 100 kg cá thì cho ăn 5 – 8 kg thức ăn tự chế biến hoặc 2-3 kg thức ăn viên công nghiệp ). Trong ao nên cho thức ăn vào sàng (hoặc nia) và treo cách đáy ao 25- 30cm. Nên cho cá ăn ở nhiều điểm (nhiều sàng ăn) để cá được ăn đều. Không đổ thức ăn một lượt xuống ao hoặc bè mà rải từ từ xuống ao hoặc bè cho tất cả cá đều được ăn. Không cho cá ăn những thức ăn bị ôi thiu, những thức ăn bị mốc hoặc qúa hạn sử dụng.

Hàng ngày phải quan sát hoạt động và khả năng ăn thức ăn cuả cá để kịp thời điều chỉnh tăng giảm lượng thức ăn cho phù hợp. Sau khi cá ăn khoảng 2 giờ nên kiểm tra sàng ăn để xem mức ăn của cá. Vào thời gian đầu mới nuôi vỗ, cá ăn mạnh nên khẩu phần ăn cao hơn những giai đoạn khác (thức ăn hỗn hợp có thể tới 8%, thức ăn công nghiệp tới 3%). Giai đoạn tuyến sinh dục cá bước vào thành thục và chuẩn bị đẻ trứng thì cá ăn kém đi, khẩu phần ăn giảm xuống. Những ngày thời tiết nóng, nhiệt độ nước ao cao trên 32°C có thể làm cho cá ăn ít hơn hoặc thậm chí bỏ ăn. Cá nuôi trong bè ở những vùng ảnh hưởng thủy triều nên cho ăn vào lúc triều cường (thủy triều lên) hoặc vào lúc nước chảy mạnh để cá không bị mất sức và thoải mái sau khi ăn no.

1.6. Quản lý ao và bè nuôi vỗ cá bố mẹ

Ao nuôi vỗ cá bố mẹ phải thay nước thường xuyên để giữ cho môi trường ao nuôi sạch và cá khoẻ mạnh. Có thể thay nước bằng thủy triều hoặc dùng máy bơm.Thời gian đầu nuôi vỗ phải thay nước ít nhất mỗi tuần một lần, mỗi lần 20% thể tích nước trong ao.Từ tháng thứ ba trở đi cần thay nước mỗi ngày 10-20% thể tích để kích thích cá thành thục tốt. Khi thấy chất lượng nước ao bị xấu phải thay nhiều nước hơn lượng nước thay định kỳ để môi trường ao trở lại bình thường.

Khi nuôi cá trong bè, thường xuyên kiểm tra các chi tiết bè như dây neo, phao, lưới chắn để kịp thời tu chỉnh, nhanh chóng gỡ bỏ rác bám vào bè. Dùng máy bơm quạt nước bổ sung khi nước chảy yếu nhằm tăng thêm lượng oxy hoà tan trong nước, hoặc vào mùa lũ có nhiều phù sa phải kịp thời thổi bùn lắng đọng ra khỏi đáy bè. Khu vực sàn bè, nơi nấu và chứa thức ăn sau khi nấu chín phải dọn vệ sinh sạch sẽ hàng ngày.

Theo dõi chặt chẽ các yếu tố thủy lý, thủy hoá trong ao và bè nuôi, phải có dụng cụ đo các yếu tố (đo oxy hòa tan, nhiệt độ, pH, độ trong của nước.) và sổ nhật ký theo dõi được ghi chép đầy đủ các diễn biến của ao, bè và của cá hàng ngày. Nên kết hợp việc đo các yếu tố thủy lý hoá và quan sát ao vào các thời diểm đo để kịp thời phát hiện những biểu hiện không bình thường của trong ao, bè và nhanh chóng tìm cách sử lý.

Các yếu tố môi trường ao nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sự phát dục của cá. Chẳng hạn trong điều kiện pH nhỏ hơn 5 thì cá sẽ chết, pH nhỏ hơn 6 cá sẽ khó phát dục thành thục. Khi nhiệt độ nước tăng cao trên 32°C, cá dễ bỏ ăn, tuyến sinh dục dễ bị thoái hoá.

Cá tra là loài có cơ quan hô hấp phụ và lấy được khí trời để hô hấp, nên ít khi xảy ra tình trạng nổi đầu hoặc chết do ao thiếu o-xy, mà chủ yếu do các độc tố sinh ra trong quá trình phân hủy vật chất hữu cơ. Ðối với nuôi vỗ cá ba sa nuôi vỗ trong ao, do cá chịu đựng kém với tình trạng hàm lượng o-xy hoà tan trong nước bị giảm thấp, nhất là vào các ngày nóng, nhiệt độ lên cao, vào buổi sáng sớm thường có hiện tượng cá nổi đầu. Nếu cá nổi đầu nhiều lần thì làm cho kết quả phát dục không tốt, buồng trứng của cá sẽ khó đạt tới thành thục và kết quả sinh sản sẽ kém. Nếu nổi đầu nặng có thể làm cho cá chết ngạt. Trong trường hợp cá nổi đầu phải kịp thời cấp nước mới hoặc bơm nước phun mưa cho ao nhằm tăng thêm lượng o-xy hoà tan, giúp cho cá khoẻ lại.

1.7. Kiểm tra sự phát dục của cá bố mẹ

Kiểm tra lần đầu sau khi nuôi vỗ được 2 tháng nhằm đánh giá độ béo và sức khoẻ của cá. Tháng thứ ba bắt đầu kiểm tra trứng và tinh dịch của cá để đánh giá mức độ phát dục và điều chỉnh chế độ nuôi vỗ hợp lý. Khi kéo bắt cá bố mẹ, nên dùng lưới loại sợi mềm, tốt nhất là loại bằng sợi dệt, không có gút để tránh làm xây sát cá. Dùng băng ca vải mềm may theo kích thước thích hợp với độ lớn của cá để giữ cá khi kiểm tra. Dùng que thăm trứng để lấy trứng cá cái và vuốt bụng cá đực xem tinh dịch. Từ tháng thư tư khi buồng trứng của đa số cá cái chuyển sang giai đoạn IV và nhiều cá đực đã có tinh dịch, cần kiểm tra mỗi tháng 2 lần. Mỗi lần kiểm tra phải ghi chép đầy đủ các số liệu của từng cá thể đực cái đã được đánh dấu (về chiều dài, trọng lượng cơ thể, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, kích thước vòng bụng và độ mềm.). Dùng tay sờ nắn bụng cá và cảm nhận độ mềm của bụng để đánh giá sự phát dục. Dùng que thăm trứng lấy trứng từng cá cái ra xem mức độ thành thục và vuốt kiểm tra tinh dịch cá đực. Cá được đánh dấu theo dõi cẩn thận số cá đã thành thục để dự định ngày cho đẻ. Phải ngưng cho cá ăn trước khi kiểm tra.

2. Kỹ thuật cho cá đẻ nhân tạo

2.1. Công trình phục vụ cho cá đẻ nhân tạo

Bể đẻ được thiết kế theo mẫu của Trung quốc có cải tiến ( từ những thập niên 60 thế kỷ trước ), bể xây bằng xi măng, hình trụ tròn đường kính từ 3-5m, chiều cao 2 – 3m. Nước cấp vào bể phun theo đường tiếp tuyến để tạo dòng nước chảy vòng tròn liên tục. Sử dụng bể này để để chứa cá bó mẹ sau khi tiêm kích dục tố.

Khi cá rụng trứng phải bắt cá bố mẹ ra và vuốt trứng, vuốt tinh dịch để tiến hành thụ tinh nhân tạo.

Ngoài bể đẻ hình tròn, có thể dùng bể xi măng hình vuông, chữ nhật để chứa cá bố mẹ. Nhiều nơi đã làm bể tròn bằng composite, bằng nhựa hoặc kim loại như nhôm, inox với kích thước nhỏ ( 1 – 5m3 ) và phù hợp với cỡ cá bố mẹ cho đẻ.

– Bể ấp trứng cá: Những dạng bể xây bằng xi măng, có bể vòng hình tròn trong hệ thống bể đẻ kiểu Trung quốc, phù hợp cho ấp các loại trứng trôi nổi (mè, trôi, trắm.). Bể được sử dụng ấp trứng cá tra, cá ba sa sau khi đã khử tính dính của trứng hoặc trứng không khử dính cho bám vào các loại giá thể (vật bám) như rễ bèo lục bình (bèo tây), xơ dừa, xơ lynon, lưới nilon. Bể xi măng hình vuông hoặc chữ nhật cũng chủ yếu dùng cho ấp trứng không khử dính, có nước chảy nhẹ và hỗ trợ thêm sục khí trong quá trình ấp. Ngoài bể xây xi măng, còn có một số loại dụng cụ khác dùng để ấp trứng cá tra và ba sa như bình vây (Weis) thủy tinh hoặc nhựa trong suốt có thể tích 5-20 lít, hoặc bể composite, bể nhựa tròn thể tích 600-1000 lít. Nước ấp trứng được cấp liên tục và có thêm sục khí. 2.2. Mùa vụ sinh sản Trong tự nhiên cá thành thục và sinh sản vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 âm lịch. Ðàn cá đẻ tự nhiên đẻ không đồng loạt nên thời gian xuất hiện cá bột trên sông cũng kéo dài 3-4 đợt trong vòng 2 tháng. Chưa phát hiện được cá tra tái thành thục trong tự nhiên. Ðối với cá tra nuôi vỗ cho sinh sản nhân tạo ở các tỉnh miền Nam (từ Ðà nẵng trở vào) mùa vụ thành thục của cá bố mẹ và bắt đầu cho đẻ từ tháng 2-3 trở đi, mùa vụ sinh sản có thể kéo dài tới tháng 10. Sau lần sinh sản thứ nhất, cá có thể tái thành thục trở lại và đẻ tiếp lần thứ hai. Cá tra bố mẹ tái thành thục 1-2 lần trong năm, thời gian để cá tái thành thục từ 1-2 tháng. Mùa vụ thành thục và bắt đầu cho đẻ của cá ba sa trong tự nhiên cũng kéo dài 3-4 tháng, do đó sự xuất hiện cá giống cá ba sa trên sông cũng kéo dài. Có 2 đợt xuất hiện cá giống trên sông, vụ đầu tiên từ tháng 6-8 và vụ thứ hai tháng 10-12 hàng năm. Từ dẫn liệu này có thể cho rằng cá ba sa tái thành thục trong tự nhiên. Mùa thành thục và cho đẻ của cá bố mẹ nuôi vỗ sinh sản nhân tạo trong ao từ cuối tháng 2 và kéo dài đến tháng 7. Cá ba sa cũng tái thành thục trong ao sau lần đẻ thứ nhất, thời gian tái thành thục từ 2-3 tháng. Nhiệt độ nước thích hợp nhất cho cá tra và ba sa trong mùa vụ đẻ từ 28-300C. Nếu nhiệt dộ thấp hơn 240C thì trứng cá khó nở, do phôi cá không phát triển được. Nếu nhiệt độ cao quá 320C thì trứng bị ung 2.3. Chọn cá bố mẹ cho đẻ Khi kiểm tra cá bố mẹ để tuyển cho đẻ, chọn những cá khỏe mạnh, bơi nhanh nhẹn, chú ý chọn những con cá đã được đánh dấu thành thục tốt ở lần kiểm tra trước. Quan sát bên ngoài cá cái thấy bụng to, sờ thấy mềm, lỗ sinh dục sưng hồng. Dùng que thăm trứng lấy ra một ít trứng để trực tiếp đánh giá mức thành thục. Với cá tra, các hạt trứng đều, rời, căng tròn, màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt. Quan sát trên kính lúp thấy mạch máu còn ít hoặc đã bị đứt đoạn. Trên 70% số trứng đã phân cực và có đường kính hạt trứng từ 0,9mm trở lên. Cá cái ba sa cũng có các hạt trứng đều, rời, ít mạch máu, nhân đã phân cực. Số trứng có đường kính hạt trứng từ 1,4mm trở lên chiếm 70%. Cá đực có lỗ niệu sinh dục hơi lồi, khi vuốt nhẹ hai bên lườn bụng đến gần hậu môn thì thấy tinh dịch (sẹ) trắng như sữa chảy ra. Nên chọn những cá đực có sẹ đặc. 2.4. Sử dụng chất kích thích sinh sản – kích dục tố và phương pháp tiêm cho cá Cá tra và ba sa nuôi vỗ trong ao và trong bè tuy đạt tới thành thục nhưng do không đủ điều kiện về các yếu tố sinh thái nên không thể rụng trứng và cũng không tự đẻ được. Vì vậy phải tiêm các chất kích thích sinh sản cho cả cá đực và cá cái nhằm thúc đẩy quá trình rụng trứng của cá, sau đó dùng phương pháp vuốt trứng cá cái và trộn với tinh dịch cá đực để tiến hành thụ tinh nhân tạo. Biện pháp dùng chất kích thích sinh sản hoặc kích dục tố để kích thích cá đẻ được áp dụng cho hầu hết các loài cá nuôi hiện nay. Các chất kích thích sinh sản-kích dục tố sử dụng cho cá tra và ba sa gồm các loại chính như sau: – HCG, viết tắt của chất Human Chorionic Gonadotropin, đây là một hormon sinh dục có nguồn gốc từ động vật, HCG có trong nước tiểu của phụ nữ có thai ở tháng thứ 3, được chiết xuất và sử dụng rất tốt cho cá, động vật và cả cho người. Thuốc được đóng gói trong các lọ thủy tinh với lượng chứa 5.000 UI hoặc 10.000 UI (UI viết tắt của chữ đơn vị quốc tế – Unit International). Khi dùng chỉ cần pha với nước cất hoặc nước muối sinh lý. HCG có tác dụng chuyển hoá buồng trứng và gây rụng trứng.

– LH-RHa, viết tắt của Lutenizing Hormon-Releasing Hormon analog, là hormon tổng hợp và được sử dụng rộng rãi cho cá và động vật nói chung. Thuốc sản xuất ở nhiều nước, của Trung quốc sản xuất được đóng gói trong lọ thủy tinh với lượng chứa 200, 500, 1000 mg (micro gam). LH-RHa có tác dụng chuyển hoá buồng trứng đồng thời gián tiếp gây rụng trứng. Khi sử dụng nhất thiết phải dùng kèm thêm hoạt chất gọi là Domperidon (viên DOM).

– Não thùy thể ( tuyến yên ) của các loài cá ( Mè trắng, chép , trôi … ) Các loại kích dục tố này có thể sử dụng đơn hoặc kết hợp nhiều loại để tăng hiệu ứng. Nếu dùng kết hợp , chỉ nên dùng ở liều quyết định. Tuy nhiên nếu dùng kết hợp thì phải chọn 1 loại làm chính. Phương pháp tiêm Sau khi chọn xong những cá cho đẻ thì tiến hành tiêm thuốc kích thích sinh sản. Ðối với cá tra và ba sa dùng phương pháp tiêm nhiều lần, với cá cái thì 2-4 lần sơ bộ và 1 lần quyết định. Với cá đực thì tiêm 1 lần cùng lúc với liều quyết định của cá cái. Thời gian giữa các lần sơ bộ là 12 giờ (cá tra) hoặc 24 giờ (cá ba sa). Giữa liều sơ bộ cuối cùng và liều quyết định cách nhau 8 – 12 giờ.

Các chất sử dụng trong liều sơ bộ là kích dục tố não thùy thể và HCG, không dùng LH-RHa cho liều sơ bộ, vì có thể gây ra sự rụng trứng trong khi đa số trứng trong buồng trứng chưa chuyển hết sang giai đọan chín, dẫn đến tỷ lệ thụ tinh kém và kết quả sinh sản sẽ thấp.

Tùy theo chất lượng trứng và chủng loại kích dục tố ta áp dụng các liều tiêm thích hợp.

Cho cá tra :

– HCG : với cá cái, liều tiêm sơ bộ 300 – 500 UI/kg; liều quyết định 2500 – 3000 UI /kg . Với cá đực 300UI/kg.

– Não thùy thể : với cá cái, liều sơ bộ 0,5mg/kg; liều quyết định 5 – 7mg/kg. Với cá đực 0,5mg/kg.

– LH-RHa : chỉ dùng cho liều quyết định, với cá cái 100 – 150g/kg. Không dùng cho cá đực và liều sơ bộ của cá cái.

– Nếu phối hợp giữa HCG và não thùy, liều tiêm sơ bộ 300 – 500UI hoặc 0,5 mg não thùy/kg; liều quyết định 1000 UI + 2mg não thùy/kg . Với cá đực liều lượng bằng 1/3 – 1/2 của cá cái.

Cho cá ba sa :

chủ yếu sử dụng HCG hoặc phối hợp HCG với não thùy.

– HCG, với cá cái, liều tiêm sơ bộ 500 UI/kg; liều quyết định 3000 UI /kg . Với cá đực liều dùng bằng 1/3 – 1/2 của cá cái.

– Phối hợp giữa HCG và não thùy, liều tiêm sơ bộ 500UI/kg hoặc 0,5 mg não thùy/kg; liều quyết định 1000 UI + 2mg não thùy/kg . Với cá đực liều lượng bằng 1/3 – 1/2 của cá cái.

– Thời gian hiệu ứng thuốc : sau 8 – 12 giờ liều tiêm quyết định thì trứng rụng.

– Vị trí tiêm : tiêm ở gốc vây ngực, ở cơ lưng hoặc ở xoang bụng. Ðối với cá tra là cá không có vẩy nên tiêm ở cơ đơn giản hơn. Có thể tiêm trực tiếp kích dục tố HCG và não thùy thẳng vào xoang buồng trứng. Ở các lần tiêm khác nhau nên tiêm ở vị trí khác nhau để tránh làm cá bị thương. Khi tiêm, đặt mũi kim đúng vào vị trí đã định, nghiêng mũi kim một góc 450 so với thân cá, bơm thuốc nhanh nhưng không vội vàng và rút ra từ từ để tránh thuốc bị trào ra ngoài.

2.5. Vuốt trứng và thụ tinh

Ðối với cá tra và ba sa khi sinh sản nhân tạo phải dùng phương pháp vuốt trứng và thụ tinh khô. Trước khi tiến hành vuốt trứng, đưa cá vào băng ca và nhúng cá vào dung dịch thuốc gây mê Tricane (thường gọi là MS 222, tên hóa học là 3-amino benzoic acid ethyl ester methanesulfonate) nồng độ 40mg/lít trong 3-4 phút để cá bị mê và không còn dãy dụa trong khi vuốt trứng. Thao tác vuốt trứng phải nhẹ nhàng và khẩn trương tránh làm cho cá bị thương, để trứng chảy ra gọn vào trong chậu khô, vuốt từ phần trên xuống dưới cho hết trứng đã rụng. Nếu cá rụng trứng róc, có thể vuốt một lần là hết trứng. Ðôi khi phải vuốt 2,3 lần do trứng cá rụng cục bộ hoặc rụng không đồng lọat. Cá vuốt trứng xong phải lập tức ngâm vào nước sạch sau khỏang 3 – 4 phút thì tỉnh lại.

Ðể tính được lượng trứng cá đã đẻ được, dùng cách tính theo phương pháp trọng lượng như sau : cân toàn bộ trọng lượng trứng vuốt được, cân riêng 10 gam và đếm để tính số trứng của 1 gam, nhân với tổng trọng lượng trứng (tính bằng gam) thì biết tổng lượng trứng đã vuốt được. Nếu đem chia số lượng trứng vuốt được cho trọng lượng cá cái ta được con số gọi là sức sinh sản tương đối thực tế. Sức sinh sản tương đối thực tế của cá tra trong khỏang 90 – 130.000 trứng và cá ba sa là 10-12.000 trứng (cho 1 kg cá cái). Trong thực tế, lượng trứng vuốt được của những cá thể cái rụng trứng róc, cũng chỉ chiếm từ 70 – 80% số trứng có trong buồng trứng.

Sau khi trứng đã vuốt xong, vuốt tinh dịch cá đực tưới trực tiếp lên trứng, dùng lông gà khô trộn đều trứng với tinh dịch khỏang 10-20 giây, sau đó cho nước sạch vào ngập trứng, tiếp tục dùng lông gà khuấy đều khỏang 20-30 giây để trứng họat hóa và thụ tinh. Tiếp theo đó đổ hết nước cũ đi và cho cho thêm nước mới, chú ý cho nước từ từ, vừa cho nước vừa khuấy, sau đó đổ dung dịch khử dính vào để khử tính dính của trứng.

2.6. Khử tính dính của trứng

Trứng cá tra và ba sa thuộc loại trứng có tính dính. Sau khi trứng rụng và tiếp xúc với nước thì trở nên dính, có thể dễ dàng dính vào các vật trong nước cũng như dính với nhau. Tính dính của trứng gây nhiều khó khăn cho việc ấp trứng, nhất là trong sản xuất giống hàng lọat với số lượng lớn. Nếu ấp trứng không khử dính thì cho trứng dính lên giá thể và ấp trong bể ấp hoặc bể vòng. Trứng khử dính được ấp trong bể vòng hoặc bình vây.

Có thể dùng một số hoạt chất như tanin ( có vị chát ), men bromelin ( tìm thấy trong nước ép qủa dứa ), sữa bột v.v để khử tính dính của trứng cá tra và ba sa. Cách thông dụng nhất hiện nay là dùng tanin pha với nước thành nồng độ 0,1%. Sau khi cho chất khử dính vào trứng ta dùng lông gà khuấy đều trong khoảng 30 giây thì ta chắt nước đó ra và dùng nước sạch rửa trứng nhiều lần cho sạch, sau đó cho trứng vào bình vây hoặc bể vòng để ấp.

Ngoài tanin ta còn dùng nước ép quả dứa (Ananas sativa) gọi là chế phẩm bromelin thô, để khử dính. Với 25ml nước ép quả dứa pha thêm nước để thành 1 lít dung dịch khử dính, dung dịch này có chứa bromelin (một lọai enzyme phân giải protein). Ðổ dung dịch vào trứng đã thụ tinh, khuấy đều trong khỏang 1 phút, chắt bỏ dung dịch khử dính rồi cho nước lã vào rửa sạch trứng và đem ấp.

2.7. Trứng không khử dính Nếu trứng không khử dính thì ta cho trứng dính vào giá thể Giá thể có thể là rễ bèo tây (lục bình), xơ dừa, xơ nylon, có thể làm bằng lưới nilon hoặc lưới vèo (sợi cước nhỏ) căng trên một cái khung vuông, mỗi cạnh dài 35-40cm. Trước khi sử dụng phải rửa sạch, tẩy trùng để diệt hết các vi khuẩn và nấm có hại cho trứng. Khi trứng đã thụ tinh xong, đặt giá thể ngập 3-5cm trong nước, dùng lông gà vẩy đều để trứng bám dính ngay lên bề mặt giá thể. Giá thể có dính trứng được đặt trong bể ấp có nước chảy liên tục và hỗ trợ thêm sục khí.

2.8. Ấp trứng

Theo dõi quá trình ấp trứng

Ấp trứng khử dính: ấp trong bình vây thủy tinh, nhựa trong suốt có thể tích 5 – 10 lít hoặc bình vây composite 600 – 1000 lít, mật độ ấp trứng cá tra 20.000 – 30.000 trứng/lít, trứng cá ba sa 500 trứng/lít.

Ấp trứng không khử dính chủ yếu cho cá tra, ấp trong bể vòng hoặc bể composite có nước chảy liên tục, mật độ 4000 – 5000 trứng/lít. Ấp trong bể nước tĩnh thay đổi chậm, có sục khí, mật độ ấp 1500 – 2000 trứng/lít.

Thường xuyên chú ý điều chỉnh lưu lượng nước chảy vào bể vòng hoặc bình vây để trứng khử dính đảo đều, không bị lắng đọng ở đáy bình và trứng không khử dính sẽ luôn có đủ o-xy cho quá trình phát triển phôi. Nhiệt độ nước thích hợp cho phôi cá phát triển từ 28-300 C. Nhiệt độ càng cao thì phôi phát triển nhanh, nhưng nếu nhiệt độ quá cao thì phôi dễ bị dị hình, cá sau khi nở có sức sống yếu, khi nhiệt độ nước ấp trên 320C thì phôi bị chết. Ngược lại nếu nhiệt độ quá thấp thì phôi phát triển chậm, thời gian ấp nở kéo dài hơn, nhiều phôi bị dị hình. Nếu nhiệt độ thấp hơn 240C thì phôi ngừng phát triển và chết. Thời gian ấp để trứng nở thành cá bột ở nhiệt độ nước 28-300C, của cá tra là 22-24 giờ, của cá ba sa là 30-33 giờ. Thời gian để cá nở hết tòan bộ có khi kéo dài hơn 1-2 giờ tùy theo nhiệt độ và khoảng cách giữa các lần thụ tinh của trứng đưa vào bể ấp. Khi cá bắt đầu nở, cần tăng lưu lượng nước qua bể ấp đẩy nhanh vỏ trứng và các chất thải ra ngòai. Theo dõi khi cá đã nở hết phải vớt giá thể đi.

Quản lý và thu cá bột :

Cá tra sau khi nở 30 – 32 giờ thì hết noãn hoàng, cá bắt đầu tìm kiếm thức ăn bên ngoài. Giai đọan cá bột thì cá tra thể hiện tính dữ (tính ăn thịt) và chúng tìm ăn các thức ăn là động vật sống có kích thước vừa với cỡ miệng của chúng. Trong bể ấp do không có thức ăn phù hợp nên xảy ra tình trạng cá tra bột ăn thịt lẫn nhau. Do đó khi cá nở được 20-25 giờ nên nhanh chóng đưa cá bột xuống ao ương nuôi hoặc xuất bán, không nên để quá thời gian này. Nếu để lâu trên bể, khi cá hết noãn hoàng thì chúng sẽ cắn đuôi ăn thịt lẫn nhau làm hao hụt nhiều cá bột.

Ðối với cá ba sa không có hiện tượng cá bột ăn thịt lẫn nhau. Sau khi hết noãn hoàng chúng cũng thích ăn các loài động vật có kích thước nhỏ. Chúng ta có thể cho cá ăn thức ăn là moina, daphnia hoặc tốt nhất là ấu trùng artemia.

Trong quá trình giữ cá mới nở trong bể ấp, cần điều chỉnh lưu lượng nước qua bể ấp thích hợp để giữ cho môi trường nước ấp được sạch và cá bột không bị đảo lộn nhiều. Ðảm bảo nhiệt độ nước lúc này trong khoảng thích hợp với cá bột, từ 28 – 30°C.

Khi thu cá bột, cho nước chảy nhẹ hơn, dùng vợt vải mềm ( hoặc muoseline ) để vớt cá. Thường dùng phương pháp thể tích để tính lượng cá bột. Dùng cốc đong hoặc ly uống nước đã biết chính xác thể tích, vớt cá bột và để cho róc nước, dùng cốc đong xúc cá bột và đếm số cốc. Sau đó lấy ra 5-10 ml cá bột để đếm và tính được số cá bột có trong 1ml. Nhân số này với tổng số thể tích cốc cá bột đã đong ta sẽ biết tổng số cá bột thu được.

3. Kỹ thuật ương nuôi cá tra giống

3.1. Nhu cầu thức ăn của cá sau khi hết noãn hoàng

– Cá tra :

Sau khi hết noãn hoàng, cá tra bột thích ăn mồi tươi sống, có mùi tanh. Những thức ăn ưa thích của cá tra bột là: cá bột các loài ( như mè vinh, he, rô đồng .), các loài giáp xác thấp ( moina, daphnia, còn gọi là trứng nước ), ấu trùng artemia. Chúng vẫn ăn lẫn nhau nếu ta không kịp thời cung cấp thức ăn cho chúng.

Biện pháp giải quyết tốt nhất là phải tạo được một lượng thức ăn tự nhiên có sẵn và đầy đủ trong ao ương trước khi thả cá bột, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ăn của cá, hạn chế được sự ăn lẫn nhau của chúng.

– Cá ba sa:

Cũng dễ dàng thích hợp với các thức ăn là động vật giáp xác thấp (moina, daphnia, ấu trùng artemia.), dễ thích nghi với các lọai thức ăn khác nhau có nguồn gốc động vật, hoặc thậm chí ăn cả thức ăn viên với cỡ viên phù hợp. Cũng như ương cá tra, việc tạo nguồn thức ăn tự nhiên trong ao cho cá ba sa vào giai đọan đầu mới thả xuống ao là rất quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá hương, cá giống ương nuôi.

3.2. Kỹ thuật ương nuôi

– Chuẩn bị ao :

Ao có diện tích lớn nhỏ tùy theo khả năng từng hộ gia đình và cơ sở sản xuất giống, nhưng càng lớn càng tốt và không nên quá hẹp (dưới 200 m2). Ðộ sâu nước thích hợp 1,2 – 1,5 m. Nguồn nước cấp cho ao phải sạch và chủ động.

Các bước tiến hành khâu chuẩn bị ao :

Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ và địch hại (rắn, cua, ếch, chuột.) dùng chất Rotenon để diệt ( có trong dây thuốc cá ), lượng dùng dây thuốc cá tươi 1 kg cho 100 m3 nước ao.

Sên vét bớt bùn đáy.

Bón vôi : rải đều đáy và mái bờ ao, lượng dùng 7 – 10 kg/100m2.

Phơi đáy ao 1 – 2 ngày, chú ý những vùng ảnh hưởng phèn (pH thấp) thì không nên phơi đáy ao, vì sẽ làm cho phèn dễ theo mao mạch thoát lên tầng mặt

Bón lót cho ao bằng bột đậu tương và bột cá, liều lượng mỗi lọai 0,5kg/100m2 đáy ao.

Lọc nước vào ao từ từ qua lưới lọc mắt dày, mực nước sâu 0,3 – 0,4 m.

Thả giống trứng nước và trùng chỉ ( 0,5 – 1 kg trứng nước và 2kg trùng chỉ cho 100 m2 đáy ao ).

Sau một ngày, tiếp tục đưa nước vào ao ngập đến 0,7 – 0,8 m.

Thả cá bột.

Tiếp tục đưa nước vào ao, từ từ sau 2 ngày đến đủ chiều sâu nước yêu cầu .

– Lựa chọn cá bột để thả : quan sát cá đều cỡ, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc cá tươi sáng. Cá ba sa đã hết nõan hòang, cá tra có thể sắp hết hoặc vừa hết noãn ho.

Mật độ ương nuôi : ương trong ao, mật độ cá tra 250 – 400 con/m2, cá ba sa 50 – 100 con/m2. Ương trong bể xi măng, mật độ cá ba sa 400 – 500 con/m2 .

Thức ăn và chăm sóc cá :

Khâu chuẩn bị ao đầy đủ là ta đã gây nuôi được thức ăn tự nhiên, giải quyết được phần thức ăn quan trọng có đầy đủ dinh dưỡng cho nhu cầu của cá trong giai đọan đầu, khi thả cá xuống ao là đã có sẵn nguồn thức ăn.

Ðối với cá tra, ngòai thức ăn tự nhiên có sẵn trong ao, tiếp tục bổ sung các loại thức ăn khác như bột đậu nành, lòng đỏ trứng, bột cá, sữa bột, vừa để cấp thức ăn trức tiếp cho cá, vừa để tạo môi trường gây nuôi tiếp tục các giống loài thức ăn tự nhiên cho cá ( như trùng chỉ, trứng nước …). Cách thức này kéo dài trong tuần lễ đầu.

Lượng dùng : Cứ 10.000 cá thả trong ao, dùng 20 lòng đỏ trứng vịt, 200 gam đậu nành được xay nhuyễn và nấu chín, cho ăn mỗi ngày từ 4 – 5 lần. Sau 10 ngày, khi cá đã bắt đầu ăn móng (nổi lên đớp khí), tăng thêm 50% lượng trên và bổ sung thêm trứng nước và trùng chỉ. Lúc này đã có thể cho ăn dặm thêm bằng cá tươi xay nhuyễn và bắt đầu cho ăn thức ăn chế biến gồm cám trộn bột cá hoặc cá xay nhuyễn, nấu chín và đưa xuống sàng ăn ( cám + bột cá : tỉ lệ hoặc cám + cá tươi: tỉ lệ 1/3 ). Khẩu phần ăn 5 – 7% mỗi ngày.

Từ tuần thứ 4 cho đến khi thu họach cá giống, cho ăn thức ăn chế biến hoặc thức ăn viên công nghiệp. Thức ăn tự chế biến với thành phần như giai đọan trước đó, khẩu phần ăn 5 – 7%. Thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm 30 – 35%, khẩu phần ăn 2 – 3%.

Quy cỡ cá hương, giống cá tra khi thu họach như sau:

Ương thành cá hương : sau 3 tuần cá đạt cỡ chiều dài thân 2,7 – 3 cm, cao thân 0,7 cm.

Ương cá giống : tiếp tục ương 40-50 ngày, cá đạt cỡ chiều dài thân 8-10cm, chiều cao thân 2 cm.+ Ương cá giống lớn : ương thêm 30 – 40 ngày, cá đạt cỡ chiều dài 16 – 20cm, cao thân 3 cm.

Ðối với cá ba sa, thức ăn trong 2 tuần đầu cũng giống như với cá tra. từ tuần thứ ba cho ăn thức ăn tự chế biến gồm cám và bột cá tỷ lệ 20% cám và 80% bột cá, cộng thêm 1% premix khóang và vitamin C 10mg/100kg thức ăn. Thức ăn được nấu chín và đưa xuống sàng ăn, khẩu phần ăn hàng ngày 5 – 7% thể trọng cá, mỗi ngày cho ăn 3 – 4 lần.

Nếu cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp, nên chọn kích cỡ viên thích hợp vừa cỡ miệng để cá có thể ăn được. Thức ăn viên cũng được đưa xuống sàng ăn với khẩu phần 2-3%, mỗi ngày cho ăn 3-4 lần.

Cá ba sa ương trong bể xi măng phải cung cấp thức ăn trong tuần đầu tiên bằng moina, daphnia hoặc ấu trùng artemia, theo dõi và cung cấp thức ăn theo mức ăn của cá. Nhất là cho ăn ấu trùng artemia phải cho vừa đủ vì ấu trùng artemia chỉ sống được trong nước ngọt từ 1-2 giờ, sau đó bị chết. Từ tuần thứ 2 trở đi cho ăn phối hợp trùng chỉ ( Limnodrilus hoffmoistery ) với thức ăn viên công nghiệp. Kích cỡ viên thức ăn ban đầu là 1mm, sau đó tăng dần theo tuổi cá. Khẩu phần ăn thức ăn viên từ 1 – 2% thể trọng kèm theo lượng trùng chỉ 1 kg ( 2 lon sữa bò ) cho 10.000 cá.

Quy cỡ cá hương, giống cá tra khi thu họach như sau:

– Ương thành cá hương: sau 3 tuần đạt cỡ dài thân 3-3,2cm, cao thân 0,7 cm.

– Ương cá giống : ương thêm 60 – 70 ngày, cá đạt cỡ dài thân 10 – 12cm .

Từ cỡ 10 – 12cm có thể tiếp tục ương trong bè cho đến cỡ giống lớn 18 – 25cm ( 10 – 15 con/kg ) sẽ chuyển vào nuôi thịt trong bè. Thức ăn cung cấp cho cá giai đọan này cũng giống như giai đọan trước.

3.3. Thu họach và vận chuyển cá giống:

Ðể cá giống ít bị hao hụt khi thu hoạch, nên áp dụng biện pháp luyện cá giống, bằng cách kéo dồn cá vào lưới để cá quen dần với điều kiện chật chội, nước đục. Dùng lưới dệt sợi mềm không gút, mắt lưới nhỏ hơn chiều cao thân cá để cá không lọt cũng như bị mắc vào lưới; hoặc dùng lưới sợi cước mắt nhỏ để may thành lưới kéo. Sau khi cá đạt cỡ cá hương, mỗi tuần nên kéo dồn cá một lần, chỉ dồn chật cá lại sau đó thả trở lại ao. Cá được luyên sẽ không bị sốc khi kéo thu hoạch, không bị yếu hoặc chết khi đánh bắt để vận chuyển đi xa. Khi thu hoạch cá giống, phải ngưng cho cá ăn trước ít nhất 6 giờ.

Ðể vận chuyển cá đi, phải chứa cá vào bể có nước chảy từ 10-12 giờ trước khi chuyển, để cá thải hết phân và các chất thải khác. Có thể áp dụng các cách vận chuyển kín hoặc hở để đưa cá đi xa.

Bảng 3- Mật độ vận chuyển cá trong túi nylon bơm o-xy

Cá trong túi nylon bơm o-xy được xếp lên các phương tiện vận chuyển như xe ô tô, máy kéo, ba gác máy, ghe thuyền. đưa đến ao thả nuôi. Vận chuyển vào lúc nắng phải che đậy, không để nắng chiếu trực tiếp các túi cá làm tăng nhiệt độ nước trong túi và dễ làm cá bị chết do nóng. Nếu thời gian vận chuyển kéo dài trên 8 giờ thì nên thay nước và bơm lại o-xy mới. Khi đến nơi thả, không nên xả cá ra ngay, mà đưa túi cá xuống nước để trong khoảng 15 phút cho nhiệt độ trong và ngoài túi cân bằng mới tháo đầu túi đổ cho cá bơi từ từ ra ngoài. Tốt nhất là dùng nước muối 2 – 3% tắm cho cá 5 – 6 phút trước khi thả nuôi.

– Cách chuyển cá bằng phương pháp hở ( không cần túi bơm o-xy )

Dùng các loại thùng phuy, thùng bằng tôn, nhựa, hình trụ hoặc khối vuông, thể tích 200 – 300 lít, chứa lượng nước 1/2 đến 2/3 thùng. Cá đưa vào thùng phải đều cỡ, khoẻ mạnh, không bị xây sát. Mật độ thả cá trong thùng như sau :

Cỡ cá 3cm : 50 con/lít.

Cỡ cá 5 – 7 cm : 40 con/lít

Cỡ cá 8 – 10 cm : 20 con/lít

Cỡ cá 15 cm trở lên : 15 con/lít

Trong khi vận chuyển nên có sục khí cho thùng cá để cung cấp thêm o-xy cho cá, cứ sau 4 – 5 giờ thì thay nước mới. Trước khi thả nuôi nên tắm nước muối 2 – 3% cho cá trong 5 – 6 phút.

Phát triển bởi:

TRUNG TÂM  MÔI TRƯỜNG & VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP THUỶ SẢN DOPA

ĐC: 37 Thạch Bàn – Phường Thạch Bàn – Long Biên – Hà Nội ( Bản Đồ Đến Dopa Tại Đây )

ĐT: 04 63 259 389 /09 7 7 710 403 / 097 568 11 21 / 094 568 11 21  

Mail: [email protected]

Web: http://dopa.vn

                                             https://www.facebook.com/thuysandopa

Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Cá Sặc Rằn

a. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ: Chuẩn bị ao nuôi vỗ

Ao nuôi có diện tích trung bình từ 1.000 – 3.000m2, gần kênh rạch, ao được xây dựng với hệ thống cấp và thoát nước riêng. Bờ bao quanh phải đủ cao, chắc chắn nhằm tránh mất nước và thất thoát cá trong mùa mưa ngập lũ.

Cải tạo ao nuôi vỗ cá bố mẹ

Trước khi nuôi, ao phải được tát cạn nước, vét bớt lớp bùn đáy ao, dọn vệ sinh xung quanh bờ và trong ao nuôi, sau đó tiến hành bón vôi.

Bón vôi có tác dụng cải tạo đất và tiêu diệt các loài cá tạp và địch hại gây hại cho cá. Liều lượng sử dụng : 10 – 15 kg/m2, phơi đáy ao từ 3 – 5 ngày sau đó lấy nước vào ao. Nước lấy vào ao phải thông qua lưới lọc, khi mức nước trong ao đạt từ 1,5 – 1,8 m tiến hành thả cá vào nuôi.

Chọn cá bố mẹ thả nuôi

Tiêu chuẩn chọn cá bố mẹ :

– 12 – 18 tháng tuổi, trọng lượng trung bình từ 70 – 100g/con.

– Khỏe mạnh, không bị xây xát hoặc có dấu hiệu bị nhiễm bệnh, không bị dị hình và dị dạng.

Mật độ nuôi vỗ: dao động từ 0,5 – 1 kg/m2.

Thức ăn nuôi vỗ: chủ yếu là thức ăn viên dạng nổi có hàm lượng đạm dao động từ 28 – 35 %, kích cỡ viên thức ăn phù hợp với kích cỡ miệng của cá. Khẩu phần cho cá ăn mỗi ngày dao động từ 1,5 – 2 % trọng lượng đàn/ngày, tần suất cho ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều. Thời gian nuôi vỗ thành thục sinh dục thường kéo dài từ 3 – 4 tháng: thông thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Đầu tháng 4 tiến hành kiểm tra mức độ thành thục sinh dục của cá để chuẩn bị cho cá sinh sản.

b. Chọn cá bố mẹ cho sinh sản

Cá bố mẹ Sặc rằn sau khi nuôi vỗ tích cực được từ 1 – 2 tháng, tiến hành kiểm tra mức độ thành thục sinh dục để chọn ra những con cá có biểu hiện thành thục tốt, tiếp tục nuôi vỗ thành thục sinh dục cho nhu cầu sinh sản sau đó.

Cá cái: vây lưng ngắn, sọc trên thân cá không hiện rõ, bụng to và mềm.

Cá đực: vây lưng dài tới chơn đuôi, sọc trên thân cá hiện rõ.

Dùng kích dục tố kích thích cá Sặc rằn sinh sản

Loại kích dục tố thường dùng là HCG + não thùy thể cá Chép với lượng 3.000UI HCG + 5 não thùy/kg cá cái. Liều sử dụng cho cá đực bằng 1/3 liều cá cái.

Vị trí tiêm thuốc góc vây ngực, sâu 1/3 kim tiêm lệch một góc 450 hướng về phía bụng. Sau khi tiêm thuốc xong cho cá vào bể đẻ đã được chuẩn bị sẳn.

Thời gian cá hiệu ứng thuốc dao động từ 8 – 15 giờ sau khi tiêm thuốc, cá đẻ trứng xong sau 24 giờ tính từ lúc tiêm cá. Sau khi cá đẻ xong khoảng từ 4 – 5 giờ thì vớt trứng ra ấp riêng, do ở giai đoạn này cá bố mẹ thường ăn lại trứng của nó sau khi sinh sản.

Chuẩn bị bể ấp trứng: có thể dùng thau lớn, bể composit để ấp trứng cá là tốt thay nước 2 lần/ngày, mỗi lần thay từ 20 – 30 % lượng nước trong bể. Lượng trứng ấp trung bình khoảng 700 – 1.000 trứng /lít nước. Thời gian trứng nở tính từ lúc cá sinh sản từ 22 – 26 giờ.

2. Qui trình kỹ thuật ương cá bột thành cá giống: Chuẩn bị ao ương:

Sau khi cá nở khoảng 1- 2 ngày đầu cá bột không ăn gì, giai đoạn này cá chỉ tiêu hóa bằng noãn hoàng, sau khi cá bột tiêu hóa hết noãn hoàng, cá bắt đầu ăn ngoài giai đoạn này nên chuyển cá bột xuống ao ương.

Ao ương cá bột phải được chuẩn bị thật tốt, các thao tác kỹ thuật giống như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng ao ương cá bột sau khi lấy nước vào nên gây màu nước, có thể gây màu nước bằng bột sữa (1kg/1.000m2 ) và bột đậu nành (1kg/1.000m2). Sau khi ao chuẩn bị xong được khoảng từ 1 – 2 ngày thì tiến hành thả cá bột để ương.

Cá bột nên thả vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát là tốt nhất, trước khi thả cá bột nên để bao cá bột ngâm vào trong nước khoảng 15 phút, sau đó đưa nước ngoài ao vào bao cá bột và từ từ thả cá bột ra ngoài ao, cá bột nên thả đều khắp ao.

Mật độ ương cá bột hiện nay dao động từ 700 – 1.000 con/m2.

Thời gian ương cá bột thành cá giống trung bình 75 ngày.

Thức ăn: bao gồm thức ăn bột đậm đặc hoặc bột đậu nành kết hợp với lòng đỏ trứng theo kế hoạch như sau:

+ Tuần 1: dùng 2 kg bột đậu nành + 10 lòng đỏ trứng/1.000m2/ ngày (chia làm bốn lần), thức ăn được hòa với nước và tạt điều khắp ao.

+ Tuần 2: dùng 3 kg bột đậm đặc + 1kg cám nhuyễn/1.000 m 2 /ngày, thức ăn được trộn đều lại với nhau và rải khắp ao.

+ Từ tuần thứ 3 trở về sau thức ăn tăng gấp đôi (tùy thuộc vào lượng cá trong ao ương mà lượng thức ăn có thể điều chỉnh tăng lên hay giảm xuống).

+ Từ tuần thứ 4 trở về sau nên dùng thức ăn viên nổi dạng nhỏ để phù hợp với kích thước của miệng cá.

Sau khi ương cá giống được 75 ngày thì thu giống lúc này cá giống có trọng lượng trung bình khoảng 300-400 con/kg. Trước khi thu hoạch cá giống phải giảm thức ăn từ 1 – 2 ngày và có kế hoạch luyện cá ít nhất là 10 ngày trước khi kéo thu giống.

– Trong giai đoạn ương giống cá thường bị một số bệnh như ký sinh trùng, nấm và thoái đuôi. Trong quá trình ương giống nên có kế hoạch xử lý môi trường ao ương bằng BKC 80 % với liều lượng 1lít/2.000m3 hoặc Formalin 7-10 ppm, xử lý liên tục trong vòng 1 – 2 ngày theo chu kì 10 ngày/ lần bắt đầu từ ngày thứ 12 cho đến khi thu giống .

Trung tâm Giống Thủy sản An Giang

– Trong thức ăn nên trộn thêm một số chất như Vitamin C, Premix với liều lượng 2-3g/kg thức ăn. Định kỳ cho cá ăn khoảng 7 – 10 ngày một lần và cho ăn liên tục trong vòng 5 – 7 ngày nhằm tăng sức đề kháng cho cá, ngăn ngừa các bệnh nêu trên.

Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Cá Giống Và Nuôi Cá Chép Chọn Giống V1

Ngày đăng: 2024-02-26 08:51:58

Cá chép chọn giống V1 (cá chép lai 3 máu) là kết quả lai ghép 3 dòng (cá chép trắng VN, cá chép vẩy Hungari với cá chép vàng Indonesia), vừa được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Bộ Thủy sản) chọn tạo thành công. Cá chép giống V1 nuôi mau lớn, cho năng suất cao, thịt thơm ngon, bán được giá trên thị trường. Ao nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ

Ao nuôi cá cái có diện tích 500 – 2.000m2, mức nước sâu 1,2 – 1,5m, đáy có lớp bùn dày 0,15 – 0,2m, bờ cao, không bị rò rỉ, độ pH từ 6,5 – 8. Ao nuôi cá đực chỉ cần rộng 400 – 1.000m2 và cũng có những điều kiện như trên, phải tẩy vôi cho ao với lượng 7- 10kg vôi/100m2. Tuổi cá bố mẹ thích hợp là 2 – 6 tuổi; cỡ nhỏ nhất cá cái: 1kg/con, cá đực: 0,7kg/con. Mật độ nuôi cá cái 10kg/100m2, cá đực 15kg/100m2. Hàng tuần bón 30 – 40kg phân lợn và 30 – 40kg phân xanh/100m2 ao. Từ tháng 10 – 12 dùng thức ăn hỗn hợp có lượng đạm trên 25% (gồm cám gạo, bột ngô, đỗ tương, bột cá) cho ăn hàng ngày. Lượng thức ăn bằng 3 – 5% khối lượng cá có trong ao. Từ tháng 1 – 2 mỗi ngày cho cá ăn thêm 50 gam thóc mầm.

Cho cá chép đẻ tự nhiên

Chuyển cá bố mẹ vào ao nước sạch. Làm các khung thả bèo lục bình, rong hoặc các loại sợi khác để làm giá thể cho trứng bám sau khi cá đẻ. Vớt các giá thể có trứng bám chuyển sang bể ấp hoặc xếp vào sàn ấp, thường xuyên tưới nước giữ ẩm.

Cho cá đẻ theo phương pháp nhân tạo

Tiêm kích dục tố cho cá cái 2 lần (1 lần vào lúc 5 – 6 giờ chiều, cứ 1 – 2kg cá tiêm 1 não chép; lần 2 vào lúc 1 – 2 giờ sáng, 1kg cá tiêm 3 não chép). Ở nhiệt độ nước 20 – 250C, từ 6 – 8 giờ sau khi tiêm lần 2 trứng sẽ rụng. Khi đó phải bắt cá nhẹ nhàng, tay bịt lỗ sinh dục, bọc cá trong vải mềm, dùng vải màn thấm khô bụng cá, vuốt nhẹ theo lườn bụng cá xuôi từ phía đầu xuống đuôi. Trứng được hứng vào các bát men lớn hoặc chậu nhựa, bắt ít nhất 2 – 3 con cá đực vuốt nhẹ vào bát hoặc chậu trứng. Dùng lông cánh gà khuấy trộn đều trứng, sau đó đổ nước ngập trứng và tiếp tục khuấy đều trong 5 – 10 phút để trứng thụ tinh. Dùng giá thể để cho trứng bám và đưa vào bể hay sàn ấp… Cá bột sẽ nở hết sau 3 – 5 ngày ở nhiệt độ 24 – 28oC. Tẩy dọn kỹ ao ương cá bột và bón phân chuồng, phân xanh. Mật độ ương trung bình 100 con/m2. Trong 3 tuần ương, mỗi tuần bón 10 – 15kg phân chuồng, 10- 15kg phân xanh/100m2 ao; dùng phân đạm và lân để bón điều chỉnh màu nước. Cho cá ăn bột cám gạo, bột đậu tương, bột cá nhạt trộn lẫn, sao cho đạt lượng đạm 25 – 30%. Trong 10 ngày đầu, thức ăn phải nấu chín thành cháo, pha vào nước rồi rải đều quanh ao. Những ngày sau, cho cá ăn thức ăn dạng bột, mỗi ngày cho ăn 2 lần vào sáng sớm và chiều mát: cứ 1 vạn cá trong tuần thứ nhất cho ăn 0,2 – 0,4 kg thức ăn tinh; tuần 2 từ 0,4 – 0,5kg; tuần thứ 3 từ 0,5 – 1kg; sau 21 – 25 ngày ương tỉ lệ sống của cá đạt 40 – 70%, cỡ cá 0,6 – 1g/con.

Bón phân và cho cá ăn khi ương cá bột thành cá hương

Điều khác là mật độ ương thưa hơn (10 – 15 con/m2) và phải cho cá ăn nhiều hơn. Cứ 1 vạn cá trong tuần 1 – 2 cho ăn 1 – 4kg; tuần 3 – 4: 4 – 6kg, tuần 5 – 6: 6-8,5kg, tuần 7: 8,5 – 10kg. Cứ 100m2 ao mỗi tuần bón 25 – 30kg phân chuồng, 20 – 25kg phân xanh. Sau 45 – 50 ngày ương, tỉ lệ cá sống bình quân đạt 50 – 70%, cỡ 15 – 20g/con. Khi nuôi ghép nhiều loài cá trong ao cá thịt chỉ nên thả cá chép với tỉ lệ 5 – 10%, 1 con cá chép cần từ 10 – 20m2 đáy ao. Khi nuôi cá chép ở ruộng trũng có thể tăng tỉ lệ thả cá chép tới 60%. Khi nuôi đơn cá chép muốn có cá thịt cỡ 0,3 – 0,4 kg/con sau 6 – 8 tháng nuôi thì cần thả giống với mật độ 1 con/1,5 – 2 m2; cỡ 0,7 – 0,8 kg/con thả mật độ 1 con/4 – 5m2. Để tạo ra sự phát triển động vật đáy làm thức ăn cho cá cần bón thêm phân chuồng và phân xanh mỗi loại 4 – 6 tấn/ha ao. Dùng cám gạo, bột đậu tương, khô dầu, bột cá nhạt trộn đều với nước rồi nắm lại thành từng nắm nhỏ để cho cá ăn. Theo cách nuôi này, cá chép đạt tỉ lệ sống 80 – 90%; sau 8 tháng nuôi cỡ cá trung bình đạt 0,5 – 0,7 kg/con, năng suất bình quân đạt 2 tấn/ha. NTNN, 12/8/2003

CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT GIỐNG CÁ CHÉP V1

Cá chép V1 là kết quả của chương trình chọn giống cá chép và lưu giữ nguồn gen thuỷ sản, do Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trần Mai Thiên nguyên Viện trưởng chủ trì và tập thể cán bộ công chức Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I thực hiện. Cá chép V1 đã tập hợp được những đặc điểm di truyền quý : Chất lượng thịt thơm ngon, khả năng chống chịu bệnh tốt của cá chép Việt Nam. Thân ngắn và cao cùng tốc độ tăng trọng nhanh của cá chép Hungary, đẻ sớm và trứng ít dính của cá chép Inđônêxia.

Nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá đưa vào nuôi vỗ có ngoại hình đẹp, khoẻ mạnh không có biểu hiện mắc bệnh. Cá đực từ 0,8 kg/cá thể trở lên, cá cái từ 1,0 kg/cá thể trở lên. Cá đực và cá cái được nuôi riêng ở các ao khác nhau với mật độ 1 kg/4 – 5m2. Thời gian nuôi vỗ: Cá được nuôi vỗ từ cuối tháng 9 năm trước, đến tháng 2 năm sau cá có thể bắt đầu sinh sản. Chăm sóc: Liều lượng thức ăn chiếm 3 – 5% trọng lượng quần đàn. Nuôi vỗ tích cực hàm lượng thức ăn được giảm dần từ 5 – 3% tuỳ thuộc vào thể trạng cá qua kiểm tra định kỳ (1 tháng một lần). Nuôi vỗ thành thục thường trước khi cho cá đẻ từ 30 – 45 ngày đối với chính vụ và 10 – 15 ngày với cá đẻ tái phát. Trong thời gian nuôi vỗ thành thục cần cho cá ăn thêm mầm thóc.

Chọn cá cho đẻ

Chọn cá cái có bụng mềm, phần phụ sinh dục màu hồng. Hạt trứng rời nhau, căng đều, màu sáng trắng. Cá đực được chọn là những cá thể khi vuốt nhẹ bụng gần phần phụ sinh dục thấy có sẹ màu trắng sữa.

Kích dục tố

Kích dục tố thường dùng là LRH-A kết hợp với DOM. Cá cái được tiêm kích dục tố 2 lần. Lần 1 tiêm 1/4 – 1/5 lượng thuốc cần tiêm, sau khoảng 6 đến 8 giờ tiêm hết số thuốc còn lại. Cá đực chỉ tiêm 1 lần, trước khi tiêm lần 2 cho cá cái khoảng 2 giờ.

Thu trứng và sẹ

Trứng cá được vuốt vào bát men hoặc nhựa có đường kính khoảng 18 – 22 cm, lòng bát phải trơn bóng. Sau khi đã thu được trứng cần nhanh chóng vuốt sẹ vào bát trứng để thụ tinh cho trứng. Trứng của mỗi cá cái cần được thụ tinh tối thiểu bởi tinh của 3 cá đực.

Thụ tinh cho trứng

Sử dụng lông vũ khô của gia cầm khuấy nhẹ nhàng, đảo đều trứng với sẹ trước khi cho 5 – 10 ml nước sạch vào bát trứng. Sau khi cho nước sạch vào tiếp tục khuấy thêm 1 – 3 phút. Khử dính cho trứng Trứng được khử dính bằng dung dịch nước dứa (DDKD). Lượng DDKD thường gấp 5 – 7 lần khối lượng trứng cần được khử dính. Ðổ khoảng 1/3 – 1/4 lượng DDKD vào bát trứng đã được thụ tinh khuấy đều cho trứng tách rời nhau. Sau đó bổ sung số lượng DDKD còn lại, nhẹ nhàng khuấy đều từ 20 – 25 phút tuỳ thuộc vào nhiệt độ không khí tại thời điểm khuấy trứng. Sau 20 – 25 phút kiểm tra độ dính của trứng, nếu trứng không dính lại với nhau là được.

Ấp trứng

Trứng đã khử dính, rửa sạch được ấp trong bình vây có thể tích 300 lít với mật độ tối đa 40.000 trứng/lít. Lượng nước qua bình khoảng 4 lít/giây. Trong quá trình ấp trứng cần vệ sinh mạng tràn thường xuyên, nhất là khi trứng nở. Ương nuôi cá bột lên cá hương Cá bột được ương nuôi trong ao với mật độ 100 – 150 cá thể/m2. Dùng bột đậu tương nghiền mịn trong 7 ngày đầu, 7 ngày tiếp theo sử dụng thức ăn dạng bột mịn.

Cho cá chép đẻ tự nhiên trong ao 1. Mùa vụ cho đẻ

Mùa đẻ chính là mùa xuân và mùa thu.

2. Cho cá đẻ tự nhiên

a.Chọn thời tiết thích hợp: Nhiệt độ thích hợp nhất từ 18-250C. Trời lạnh dưới 180C cá chép không đẻ. Tốt nhất là những ngày đầu xuân, hôm nào trời ấm áp, đêm nằm chỉ đắp chăn đơn, bên ngoài nghe tiếng ếch nhái kêu inh ỏi là hôm ấy chép đẻ tốt. b.Tuyển chọn cá cho đẻ: Trước khi cho đẻ phải kiểm tra cá bố mẹ. Nếu thấy cá có hiện tượng nhô vây, hở đuôi hay lượn sát ven bờ là trứng, sẹ của cá đã già, cá đã muốn đẻ. Bắt vài con lên kiểm tra cho chính xác. Cách kiểm tra như sau: Cá cái: Khi sắp đẻ, bụng to kềnh, lật ngửa lên thấy giữa bụng có một ngấn hằn lõm vào kéo dài từ vây ngực đến tận hậu môn. Sờ vào bụng thấy mềm nhũn, da bụng mỏng, nhất là phía cuối. Lỗ sinh dục đỏ thẫm và hơi lồi. Nếu vuốt nhẹ vào thành bụng, trứng sẽ chảy ra, màu vàng sẫm, trong suốt và rời thành từng cái là trứng đã già, những cá này có thể đẻ ngay đợt đầu. Cá đực: Lúc sắp phóng tinh trùng, nếu vuốt nhẹ hoặc cầm mạnh cá, tinh dịch cũng chảy ra có màu trắng như nước vo gạo và đặc sền sệt như sữa hộp. Trường hợp tinh dịch còn loãng, tuy vẫn có màu trắng nhưng không đặc quánh là sẽ còn non.

3.Chọn nơi cá đẻ

Chọn ao: diện tích rộng hay hẹp tùy thuộc theo số lượng cho cá đẻ nhiều hay ít. Chọn ao có đáy trơ, tốt nhất là cát pha sét. Nguồn nước đưa vào ao phải sạch, không chua mặn, không ô nhiễm. Ao được tẩy dọn kỹ, có mức nước sâu khoảng 1m. Chọn ruộng: Ruộng thường có diện tích 150-200m2, đáy đất pha cát, có thể lấy nước vào dễ dàng và luôn giữ được nước. Ruộng phải được cày bừa san phẳng và phơi mấy ngày cho se cứng đáy ( không được nứt nẻ) Bờ ruộng cao hơn mức nước, cao nhất khoảng 50-60cm, có máng dẫn nước và cống tiêu nước thuận tiện. Cửa cống dẫn nước phải chắn phên để ngăn cá tạp theo vào ruộng. Trước khi cho cá đẻ, tháo nước vào ruộng sâu khoảng 40-50cm. Nếu ruộng đó còn dùng để ương trứng nên đào sẵn ở góc ruộng một cái hố sâu khoảng 4m2, sâu 0,6m và có xẻ mương sâu 0,2m làm đường cho cá đi lại lên xuống kiếm ăn. Mặt hố có che lá cọ hoặc làm giàn trồng mướp, bầu, bí để che nắng cho cá.

4. Chuẩn bị ổ đẻ

Chọn các loại xơ mềm có nhiều lông tơ nhỏ để làm ổ cho cá chép đẻ trứng cá dễ bám như: Bèo tây, xơ dừa, sợi nilon. Phổ biến nhất là dùng bèo tây, nếu dùng bèo phải chọn loại rễ bánh tẻ. Bỏ hết rễ bèo thối, rửa sạch đất, cặn bám ở rễ và sát trùng bằng nước muối 5% (0,5kg muối ăn pha trong 10 lít nước) hoặc xanhmalachit nồng độ 3mg/lít ngâm 15 phút rồi vớt ra thả vào ổ đẻ. Dùng cây nứa quây bèo thành khung hình chữ nhật để khi cá vật đẻ không làm bèo tản mát.

5. Thành lập nhóm cá đẻ

Trước khi cho cá đẻ cần xác định tỷ lệ đực, cái thích hợp để lượng tinh dịch đủ đảm bảo cho số trứng đẻ ra được thụ tinh hoàn toàn. Cá chép thụ tinh ngoài, tinh dịch của cá đực phóng vào bị nước pha loãng, nếu ít tinh dịch sẽ không đảm bảo cho tinh trùng gặp được trứng để thụ tinh. Trong điều kiện nuôi vỗ tốt có thể ghép 1 cá cái+ 2cá đực, cũng có nơi ghép 2 cá cái + 3 cá đực, tỷ lệ trứng thụ tinh vẫn cao. Cho cá đẻ tự nhiên cũng cần lưu ý: – Kiểm tra ao, ruộng… nơi cá đẻ, xem nguồn nước, chất lượng nước và đặc biệt là thời tiết phải ấm áp, đạt 18-250C. – Khi thả nên thả cá cái vào buổi sáng, thả cá đực vào buổi chiều cùng ngày. Nếu thời tiết thuận lợi, cá có thể đẻ từ 3-4 giờ tới 7-8 giờ sáng – Nếu 5 giờ sáng chưa thấy cá vật đẻ phải bơm nước vào ao hay ruộng, thời gian bơm từ 1-2giờ nhằm kích thích cho cá đẻ. Cá có thể đẻ 2 đêm liên tục, khi trứng bám vừa phải thì thay ổ mới. Nếu để 2 đêm liền cá vẫn không đẻ, phải bắt cá trở lại ao nuôi vỗ tiếp, khoảng 20-30 ngày sau lại cho cá đẻ. NNVN, 14/5/2004

Ương cá chép lai ba máu

Cá chép lai ba máu được tạo ra từ các dòng: cá chép vàng trắng của VN, cá chép Hungari và cá chép vàng Indonesia. Để có cá chép lai giống nuôi thương phẩm, ngay từ khi ương cá bột lên cá hương cần chú ý những biện pháp sau:

Theo Trung tâm nguyên cứu nông vận

TIN TỨC KHÁC :

Hoàn Thiện Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Cá Chim Vây Vàng

Năm 2009, trường Đại học Nha Trang đã thực hiện thành công đề tài cấp tỉnh “Thử nghiệm sản xuất giống cá chim vây vàng tại Khánh Hòa”. Tuy bước đầu đã sản xuất thành công giống cá này, nhưng đề tài vẫn còn một số kết quả đạt chưa cao. Với niềm đam mê và tinh thần trách nhiệm., chúng tôi Lại Văn Hùng và nhóm cộng sự tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất giống cá chim vây vàng quy mô đại trà. Sau 2 năm thực hiện, đề tài đã hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cá chim vây vàng từ khâu nuôi vỗ cá bố mẹ, cho đẻ và ấp nở trứng đến kỹ thuật ương nuôi cá bột mới nở đến 30 ngày tuổi và kỹ thuật ương nuôi cá giống.

Phó Giáo sư – Tiến sỹ Lại Văn Hùng – Chủ nhiệm đề tài cho biết cho đến nay, nhóm nghiên cứu có thể hoàn toàn chủ động về nguồn giống cá chim vây vàng, mọi quy trình kỹ thuật đều đã được hoàn thiện đầy đủ, khi nuôi thương phẩm cá phát triển rất tốt. Hiện tại, ông và các cộng sự đang nghiên cứu thêm về nguồn thức ăn cho cá chim vây vàng.

Việc chủ động trong khâu sản xuất giống có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển nuôi thương phẩm cá chim vây vàng tại Việt Nam. Không chỉ vì cá giống sản xuất trong nước có khả năng thích nghi tốt, khỏe mạnh hơn, nhờ đó tỷ lệ sống cao hơn so với cá giống nhập ngoại, mà quan trọng nhất là giúp hạ giá thành sản phẩm. Hiện giá cá giống của trường ĐH Nha Trang đang áp dụng thấp hơn từ 1.000 – 2.000đ/con so với cá giống nhập khẩu.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Đỗ Văn Khương – Chủ tịch Hội đồng Khoa học – Đào tạo Viện Nghiên cứu Hải sản cho rằng đây là thành công bước đầu rất đáng khích lệ. Tỉnh nên mở thêm đề tài nghiên cứu nuôi thương phẩm cá chim vây vàng bằng thức ăn công nghiệp để đẩy nhanh quá trình nuôi thương phẩm, đồng thời đảm bảo yếu tố môi trường hơn so với việc nuôi chủ yếu hiện nay từ thức ăn tươi sống.

Do nhu cầu giống cá chim vây vàng nuôi thương phẩm ngày càng tăng nên nhiều cơ sở sản xuất giống đã tích cực tiếp cận công nghệ sản xuất giống cá này. Sau khi được tập huấn và chuyển giao kỹ thuật, đã có 7 cơ sở nhận chuyển giao đã sản suất được gần 190.000 con giống với tỷ lệ sống trung bình 6,26%. PGS. TS Lại Văn Hùng cũng đề nghị giao lại đàn cá bố mẹ sau khi kết thúc đề tài cho trường Đại học Nha Trang quản lý để tiếp tục công tác nghiên cứu phát triển sản xuất giống, nhân rộng mô hình phục vụ nghề nuôi cá chim vây vàng tại Khánh Hòa.

Phó Giáo sư – Tiến sĩ Lại Văn Hùng – Chủ nhiệm đề tài cho biết bước tiếp theo nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành chuyền giao kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá chim vây vàng cho các hộ nuôi không chỉ ở Khánh Hòa mà còn các tỉnh khác, từ miền Bắc đến miền Nam, đã phối hợp với các công ty lớn để nâng giá trị của cá này, gúip người dân có thêm nguồn thu nhập mới.

Cá chim vây vàng có giá trị kinh tế cao, dễ nuôi, tốc độ tăng trưởng nhanh, có khả năng nuôi quy mô công nghiệp trong lồng hoặc trong ao đất ở cả nước lợ và nước mặn. Dự kiến sản lượng cá chim vây vàng sản xuất được trong năm 2014 sẽ đạt trên 400 tấn, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng. Thành công của đề tài góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi biển, tạo thêm việc làm và thu nhập cho các cơ sở sản xuất giống và các hộ dân, cũng như thúc đẩy sự phát triển nghề nuôi thương phẩm những đối tượng có giá trị kinh tế cao tại Việt Nam.

Quy Trình Sản Xuất Giống Cá Lăng Vàng?

Cá lăng vàng

1. Thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ

1.1 Thuần dưỡng cá làm bố mẹ

Nếu cá bố mẹ có nguồn gốc tự nhiên hoặc nuôi trong bè (được cho ăn bằng cá tạp) thì phải thuần dưỡng chúng trong ao đất từ 1-2 tháng rồi mới tiến hành nuôi vỗ. Việc thuần dưỡng nhằm mục đích tập cho cá quen với điều kiện nuôi ao đất và thức ăn viên dạng nổi. Ban đầu cho cá nhịn đói vài ngày rồi bắt đầu cho ăn bằng thức ăn viên nổi có hàm lượng đạm tổi thiểu 30%. Mới đầu cho cá ăn lượng thức ăn viên ít, sau đó tăng dần lên theo khả năng bắt mồi của chúng. Tuy nhiên, để phòng trường hợp cá chưa kịp thích nghi với thức ăn viên, ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn cá, trong thời gian đầu của việc thuần dưỡng nên bổ sung thêm thức ăn là cá tạp cắt nhỏ (khẩu phần 0,5-1% trọng lượng đàn cá). Lượng thức ăn cho cá ăn vào buổi tối chiếm 60-70% tổng lượng thức ăn trong ngày.

1.2 Nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá được chọn làm bố mẹ phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

– Trọng lượng từ 200-500gr/con: Cá cái 1-4 tuổi, cá đực từ 2-5 tuổi;

– Cá đực và cá cái có nguồn gốc khác nhau về vùng địa lý và bố mẹ;

– Cá mạnh khỏe, không nhiễm bệnh, không dị hình, không sây sát và không mất nhớt;

Tiêu chuẩn của ao nuôi vỗ:

– Diện tích ao tối thiểu là 300m2, tốt nhất từ 500-1.000m2;

– Độ sâu mực nước 1,2-15m;

– Ao thông thoáng, ít hoặc không có bóng râm che mặt nước;

– Nguồn nước cấp cho ao chủ động, trong sạch, không nhiễm phèn, không nhiễm mặn;

– Ao có độ trong cao (30-40cm).

– Lớp bùn đáy ao từ 10-20cm.

Mật độ nuôi vỗ 0,5kg/m2, tỷ lệ đực cái là 2/1 hoặc 3/1. Có thể nuôi chung hoặc nuôi riêng đực cái . Nuôi vỗ cá lăng vàng cũng được chia làm hai giai đoạn:

– Giai đoạn nuôi tích cực: Cho cá ăn bằng thức ăn viên nổi (do Greenfeed hoặc Cargill sản xuất) có hàm lượng đạm tối thiểu là 26% với khẩu phần 3% trọng lượng thân. Một ngày cho cá ăn ba lần. Buổi tối cho ăn với lượng thức ăn 60-70% tổng lượng thức ăn trong ngày. Thức ăn cho cá có bổ sung thêm vitamin và chế phẩm vi sinh vật với lượng cần thiết nhằm tăng sức đề kháng và khả năng tiêu hóa thức ăn của cá bố mẹ.

– Giai đoạn nuôi thành thục: Cũng cho cá ăn bằng thức ăn viên nổi nhưng có hàm lượng đạm tối thiểu là 35% với khẩu phần 1-2% trọng lượng thân. Một ngày cho cá ăn ba lần. Buổi tối cho ăn với lượng thức ăn 60-70% tổng lượng thức ăn trong ngày. Thức ăn cho cá có bổ sung thêm vitamin, nhất là vitamin E và chế phẩm vi sinh vật với lượng cần thiết nhằm tăng sức đề kháng, khả năng tiêu hóa thức ăn của cá bố mẹ và nhanh thành thục sinh dục.

Vì cá lăng vàng có tập tính sống và hoạt động ở tầng đáy nên trong quá trình nuôi vỗ định kỳ 15 ngày một lần khử trùng nước ao, khử khí độc và phân hủy chất hữu cơ ở đáy ao bằng các sản phẩm chuyên dùng trong nuôi trồng thủy sản như IODIS, FIDIS hoặc MIZUPHOR và XORBS. Với chế độ nuôi vỗ như trên, tỷ lệ thành thục của cá cái đạt từ 80% trở lên và thời gian tái phát dục của cá cái là 2,5-3 tháng.

2. Kích Thích Sinh Sản

Có thể sử dụng hai hình thức cho cá sinh sản là gieo tinh nhân tạo và sinh sản tự nhiên. Tuy nhiên, để sản xuất giống hàng loạt và chủ động nên dùng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo và khử dính trứng rồi ấp trong bình weis.

2.1 Chọn cá cho sinh sản

Chọn cá bố mẹ cho sinh sản dựa theo các tiêu chuẩn sau:

– Cá cái: Dựa vào hình dạng ngoài là chủ yếu và có thể dùng que thăm trứng để xác định độ thành thục của từng cá thể theo các tiêu chuẩn:

+ Bụng to và mềm đều;

+ Lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng;

+ Sự cực hóa của nhân đạt trên 80% tổng số trứng lấy ra;

+ Trứng có màu vàng nhạt, kích thước 1,2-1,3mm;

+ Trứng căng tròn và có độ rời cao.

– Cá đực: Dựa vào hình dạng ngoài là chủ yếu.

+ Thân thon dài, không quá mập,

+ Gai sinh dục càng dài càng tốt và có màu ửng hồng ở đầu mút,

+ Mạch máu phân bố ở da bụng càng nhiều càng tốt.

2.2 Tiêm chất kích thích sinh sản

Sử dụng LH-RHa kết hợp với Domperidone để kích thích cá rụng trứng với tổng liều là 100µg LH-RHa/kg cá cái. Liều sơ bộ là 30µg/kg cá cái và liều quyết định là 90µg/kg cá cái. Khoảng thời gian giữa hai lần tiêm là 5 giờ. Liều của cá đực bằng 1/3-1/2 liều của cá cái. Thời gian hiệu ứng của LH-RHa là 5 giờ tính từ lúc tiêm liều quyết định (nhiệt độ nước 29-300C). Tỷ lệ rụng trứng đạt 90% trở lên.

2.3 Gieo tinh

Sử dụng phương pháp gieo tinh bán khô. Sau khi kiểm tra thấy cá cái rụng trứng hoàn toàn, bắt đầu chuẩn bị gieo tinh. Đầu tiên giải phẫu cá đực thu buồng tinh, lau sạch và khô buồng tinh rồi cho vào cối sứ. Sau đó, vuốt trứng cá cái vào thau nhựa đã lau sạch và khô. Trung bình buồng tinh của cá đực nặng 500g có khả năng thụ tinh 300-400g trứng. Sau khi vuốt trứng xong, cân tổng trọng lượng trứng đã vuốt. Sau đó, dùng kéo cắt nhuyễn buồng tinh rồi cho 20-30mL nước cất vào cối sứ chứa tinh dịch và ngay tức khắc đổ tinh dịch vào thau trứng. Dùng lông gia cầm khuấy đảo đều và liên tục trong khoảng 1 phút.

Sau khi gieo tinh xong, rửa trứng bằng nước sạch 1-2 lần rồi khử dính bằng phương pháp Carbamide. Khi trứng mất tính dính hoàn toàn, rữa trứng bằng nước sạch 2-3 lần rồi tiến hành khử trùng trứng bằng SANMOLT-FTM hoặc ROOTTM5X và rưa lại bằng nước sạch 3-4 lần rồi đem đi ấp trong bình weis. Sau khi gieo tinh 6-7 giờ, tiến hành xác định tỷ lệ thụ tinh và trong qui trình này tỷ lệ thụ tinh thường đạt hơn 50%. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm sinh dục, nhất là chất lượng buồng tinh.

Sau khi khử dính và khử trùng, trứng được ấp trong bình weis. Sử dụng bình weis bằng thủy tinh là tốt nhất để dễ dàng trong việc chăm sóc trứng và thu ấu trùng cá. Lưu tốc trong quá trình ấp dao động từ 1-1,5L/phút. Ở nhiệt độ nước 29-31oC, thời gian nở của cá lăng vàng dao động từ 18-20 giờ. Tỷ lệ nở của cá lăng vàng dao động từ 70 đến 80%.

Sau khi trứng nở hoàn toàn, thu ấu trùng cho vào bể composite, bể bạt hoặc bể xi-măng để ương nuôi. Au trùng mới nở có kích thước khá nhỏ (4mm), thân trong suốt, nằm ở đáy bể và chưa bôi lội chủ động. Đến ngày tuổi thứ hai, cá thường bám xung quanh thành bể. Sau 3 ngày tuổi, cá bơi chủ động, thân bắt đầu xuất hiện sắc tố đen, noãn hoàng tiêu biến và ăn được phiêu sinh động vật loại nhỏ.

Nguồn tin: (Theo NXB Nông Nghiệp)

Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Nhân Tạo Cá Basa

Đầu tiên ta phải chọn cá bố mẹ có độ độ tuổi 3 tuổi trở lên, nặng từ 2,5-3kg, đảm bảo mỗi con đều phải khỏe mạnh, không bị xây xước hoặc bệnh tật.

Địa điểm nuôi vỗ cá basa bố mẹ hợp lý nhất là:

Chọn ao có diện tích ít nhất 1500 mét vuông, với độ sâu từ 1,2 đến 1,5 mét. Nguồn nước cấp cho ao nuôi phải sạch và chủ động cấp thoát nước. Ao nuôi cần được thay nước thường xuyên, bà con có thể nhanh trí lợi dụng thủy triều hàng ngày để thay nước cho ao.

Mùa vụ nuôi vỗ cá basa bắt đầu từ tháng 9 – 10 hàng năm.

Để nuôi cá basa thành công, thức ăn phải có hàm lượng đạm 35% trở lên. Hoặc có thể sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương để chế biến thức ăn hỗn hợp cho cá bố mẹ. Bằng việc sử dụng các loại nguyên liệu chính là: cá tạp tươi, cá khô, bột cá, bột bắp, bánh dầu, rau xanh, ruốc, bột đậu nành, cám gạo, tấm, bí, cơm, dừa… Kết hợp các thành phần theo tỷ lệ hợp lý để đảm bảo đủ hàm lượng đạm trong thức ăn.

Nếu hỗn hợp thức ăn được chế biến từ nguyên liệu cá tươi thì khẩu phần ăn cho cá 4-6% trọng lượng thân cá/ngày. Còn sử dụng thức ăn công nghiệp dạng khô thì 1-2% mỗi ngày. Mỗi ngày cho cá basa ăn 1-2 lần. Thức ăn hỗn hợp chế biến cho cá yêu cầu có độ dẻo và dính để giảm bớt sự tan ra trong nước làm lãng phí thức ăn.

Chọn cá basa đã nuôi vỗ có buồng trứng phát triển ở giai đoạn bốn. Quan sát và lựa chọn những con cá basa cái có ngoại hình gồm những đặc điểm sau: Bụng to, mềm, lỗ sinh dục hồng, các hạt trứng đều, màu vàng nhạt hoặc trắng nhạt, đường kính đa số 1,8 mm trở lên. Đối với cá đực thì tinh dịch tốt, trắng và đặc.

Sử dụng kích dục tố như HCG (Human chorionic gonadotropin), LHRH a (Lutenizing hormone Releasing hormone), dùng phương pháp tiêm 1 đến 4 lần sơ bộ và 1 lần quyết định cho cá basa.

Thời gian hiệu ứng của kích dục tố sau liều tiêm quyết định từ 8 đến12 giờ. Khi cá basa cái rụng trứng, tiến hành vuốt trứng và thụ tinh nhân tạo. Ấp trứng trong bình weise hoặc bể ấp.

Ở nhiệt độ nước 28 – 30 độ C, sau 28-33 giờ, trứng cá basa sẽ nở. Sau khi nở, nên chuyển số cá hết noãn hoàng vào ương trong bể xi măng.

Ao có diện tích tối thiểu 500 mét vuông trở lên với độ sâu nước 1 đến1,5m.

Ao cần được tát cạn, diệt hết cá tạp, cá dữ, vét bớt bùn đáy, rải 7 đến 10kg vôi bột trên100 mét vuông đáy ao.

Tiến hành phơi đáy ao 1 đến 2 ngày, sau đó bón lót phân chuồng 10 đến 15kg phân gà trên 100 mét vuông hoặc 1 đến 1,5kg lân + urê trên 100 mét vuông đáy ao. Cuối cùng, đổ lượng nước sâu từ 0,3 đến 0,4m và thả giống trùng chỉ và trứng nước.

Mật độ thả cá basa phù hợp từ 400 đến 500 con trên mét vuông.

Bổ sung thức ăn hàng ngày cho cá: Dùng 200g đậu nành xay nhuyễn, nấu chín và 20 lòng đỏ hột vịt (luộc chín), trộn đều và rải đều khắp ao cho 10000 cá bột.

Sau 10 ngày, tăng lượng thêm 50% thức ăn và cho ăn dặm trùng chỉ.

Sau tuần thứ 2 có thể cho ăn thức ăn chế biến bằng cá và phần thịt ốc xay nhuyễn trộn bột gòn.

Sau 1 tháng, đã có thể cho cá basa ăn cám kết hợp bột cá (tỷ lệ 1/1) hoặc cám cùng cá tươi (tỷ lệ 1/2), mỗi ngày cho ăn 3 đến 4 lần, khẩu phần ăn 5 đến 7% trọng lượng cá.

Sau 3 đến 4 tháng ương nuôi, chuyển sang nuôi cá thịt. Giai đoạn này, cá basa cần thức ăn là Moina hoặc ấu trùng Artemia, sau 1 tuần cung cấp bổ sung thêm trùng chỉ.

Sau đó cá giống tiếp tục được ương nuôi trong bè cỡ nhỏ trong khoảng 4 đến 5 tháng, khi cá đạt cỡ 10 đến15 con/ kg sẽ chuyển vào bè nuôi cá thịt. Đối với cá basa giống nhỏ từ tự nhiên, với cỡ cá 5 đến 6g/con, sau khi mua hoặc đánh bắt về cần ương tiếp trong bè nhỏ 3 đến 4 tháng cho đến khi đạt cỡ 80 đến100g/con mới đưa vào bè nuôi cá thịt.

Cập nhật thông tin chi tiết về Quy Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Cá Tra Và Cá Basa trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!