Xu Hướng 3/2024 # Những Lưu Ý Khi Ương Giống Cá Tra, Basa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Những Lưu Ý Khi Ương Giống Cá Tra, Basa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chuẩn bị ao ương

Ao có diện tích to hay nhỏ tùy theo điều kiện của từng hộ, tuy nhiên diện tích ao ương càng lớn càng tốt, không nhỏ dưới 200 m2. Độ sâu nước phải từ 1,2 – 1,5 m. Nguồn nước cấp cho ao ương phải sạch và chủ động. Bờ ao phải được gia cố chắc chắn, không rò rỉ hay thấm nước.

Tháo cạn ao, sên vét bùn từ vụ trước, dùng vôi với liều lượng 7 – 10 kg/100 m2 rải đều đáy ao và mái bờ ao.

Tiến hành phơi ao, 1 – 2 ngày, những đáy ao bị ảnh hưởng bởi phèn thì không nên phơi đáy ao sẽ bị xì phèn. Sau khi phơi ao, tiến hành bón lót đáy cho ao bằng bột đậu tương và bột cá, mỗi loại 0,5 – 1 kg/100 m2 đáy ao.

Vì ao ương cá bột nên cần phải lọc nước cấp vào ao bằng lưới lọc mắt dày, mực nước cấp từ 0,3 – 0,5 m. Đồng thời thả giống trứng nước (0,5 – 1 kg/100 m2 đáy ao) và trùng chỉ (2 kg/100 m2 đáy ao).

Sau 1 ngày, cấp thêm từ 70 – 80 cm nước và thả cá bột, sau đó 2 ngày thì cấp đầy đủ nước.

Nên kiểm tra lượng thức ăn sử dụng, chất lượng nước, tình hình sức khỏe và dịch bệnh của cá mỗi ngày – Ảnh: Lê Hoàng Vũ

Chọn và thả cá ương

Cá bột phải đều cỡ, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc cá tươi sáng, không dị tật hoặc mang mầm bệnh. Mật độ ương nuôi trong ao đất từ 250 – 400 con/m2 (cá tra), 50 – 100 con/m2 (cá basa).

Cho ăn và chăm sóc

Ngoài thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao, cần bổ sung thêm các loại thức ăn khác ở giai đoạn đầu như: Bột đậu nành, lòng đỏ trứng gà, vịt. Cứ 10.000 cá bột thì dùng 20 lòng đỏ trứng và 200 gram bột đậu nành nấu chín, ngày cho ăn từ 4 – 5 lần.

Sau 10 ngày, cá bắt đầu ăn móng (đớp khí), tăng thêm 50% lượng thức ăn và bổ sung thêm nguồn trứng nước, trùng chỉ. Thời điểm này có thể cho cá ăn dặm bằng cá tươi xay nhuyễn hoặc thức ăn chế biến.

Sau tuần thứ 4 trở đi cho đến khi thu hoạch, thức ăn chủ yếu là thức ăn chế biến với thành phần là cám trộn bột cá (cá xay nhuyễn) nấu chín, khẩu phần ăn 5 – 7%. Hoặc thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 30 – 50%, khẩu phần ăn 2 – 3%.

Chú ý

Khi cho ăn bằng thức ăn công nghiệp phải chọn kích cỡ thức ăn phù hợp với miệng cá. Cần bổ sung thêm vitamin, khoáng chất giúp cá khỏe mạnh, tăng sức đề kháng.

Theo dõi hàng ngày

Hàng ngày kiểm tra lượng thức ăn sử dụng, chất lượng nước, tình hình sức khỏe của cá. Đặc biệt là vấn đề dịch bệnh.

Định kỳ luyện cá 1 lần/tuần, giúp cá quen dần với điều kiện chật hẹp, thiếu ôxy, nước đục… để cá thích nghi dần và làm giảm tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển cá giống.

Ương Cá Bớp Giống Lãi Cao – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

“Nông dân tự phát nuôi vì thấy hiệu quả, trong khi chi phí đầu tư ban đầu thấp, kỹ thuật nuôi ương đơn giản, thời gian ngắn, lại có đầu ra ổn định”, ông Khánh chia sẻ.

Ông Nguyễn Văn Dũng, thôn Tân Đảo, xã Ninh Ích cho biết, sở dĩ ông chuyển sang nuôi ương cá bớp giống vì nuôi tôm liên tục thất bại; đặc biệt 3 năm trở lại đây do biến đổi khí hậu, nắng hạn kéo dài cộng với dịch bệnh trên tôm thường xuyên xảy ra. Đầu năm 2024, ông tham quan mô hình, học kỹ thuật nuôi ương cá bớp. Sau đó ông chuyển ao nuôi tôm sang ương cá bớp.

Đầu tiên ông cải tạo ao bằng cách bơm sạch nước rồi cày ải, xử lý vôi, sau đó mua 1 kg trứng cá bớp với giá 7 triệu đồng về cho ấp nở. Sau đó thả nuôi trong 2 ao, mỗi ao có diện tích 3.500 m2. Sau 1,5 tháng thả nuôi ông xuất gần 10.000 con cá bớp giống với kích thước từ 10 – 11 cm, bán với giá 20 ngàn đồng/con; sau khi trừ chi phí ông lãi hơn 100 triệu đồng.

Nuôi ương cá bớp giống mang lại hiệu quả  

“So với nuôi tôm tôi thấy nuôi ương cá bớp giống chi phí đầu tư ít, kỹ thuật nuôi đơn giản hơn, lãi khá. Sắp tới lứa cá bớp giống của gia đình tôi đang ương chuẩn bị cho thu hoạch, hứa hẹn bội thu”, ông Dũng phấn khởi.

Còn anh Nguyễn Thái Điệp, thôn Lập Định, xã Cam Hòa (huyện Cam Lâm) ra xã Ninh Ích thuê ao ở thôn Tân Đảo và Phú Hữu nuôi ương cá bớp giống 3 năm nay đều trúng đậm. Anh Điệp cho biết, hiện anh thuê 5 ao, mỗi ao 4.000 m2 với giá 10 triệu đồng/ao/năm.

Do nuôi ương theo hình thức cuốn chiếu nên mỗi năm xuất 7 đợt giống, tương đương 70.000 con với kích thước từ 10 – 11 cm cho người nuôi cá thương phẩm, bán với giá từ 15 – 20 ngàn đồng/con, trừ chi phí anh lãi khoảng nửa tỷ đồng/năm.

Chia sẻ về kinh nghiệm nuôi ương cá, anh Điệp cho biết, trứng sau khi mua từ các lồng nuôi cá bố mẹ đẻ với giá 7 – 10 triệu đồng/kg sẽ cho vào ô bạt (4 m2) ấp ở nhiệt độ 28 – 30 độ C. Sau 24 – 28 giờ, trứng sẽ nở thành cá bột có chiều dài 4 – 4,2 mm.

Ở ngày tuổi thứ 3, thức ăn cho cá bắt đầu ăn sinh vật phù du cỡ nhỏ như luân trùng, ấu trùng hầu hà, sau đó 3 – 4 ngày, cá đạt kích cỡ 1 – 1,5 cm bắt đầu thả nuôi trong ao đất và luyện cho chúng ăn thức ăn như cám đỏ và thức ăn dành cho cá chẽm.

Khi cá đạt kích thước từ 3 – 4cm người nuôi sẽ lùa cá vào lồng lưới mùng có kích thước từ 3 x 4m để “thúc” nuôi đến khi cá đạt kích cỡ 10 -11cm sẽ xuất bán. Như vậy thời gian nuôi từ khi cho trứng cá nở đến khi thu hoạch trong vòng 1,5 tháng. Ngoài ra, yêu cầu độ mặn nuôi ương cá bớp giống từ 18 – 25‰. 1kg trứng có khoảng 500.000 trứng, tỷ lệ ấp nở đạt khoảng 90%.

Nói về hiệu quả SX và nuôi ương cá bớp giống thành công phải kể đến doanh nghiệp tư nhân Phượng Hải (TP Nha Trang). Phượng Hải hiện có đàn cá bớp bố mẹ (trọng lượng từ 15 – 25 kg/con) được tuyển chọn từ đàn cá nhập khẩu từ Đài Loan năm 2003 và 22 ha ao nuôi ương cá bớp giống tại xã Ninh Ích và Ninh Lộc, cung cấp cho người nuôi từ 300 – 500 ngàn con/năm; doanh thu đạt 7 – 8 tỷ đồng/năm.

Thức Ăn Cho Cá Tra Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Nhu cầu dinh dưỡng của cá

Sau khi hết noãn hoàng, cá bột bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài. Cá thích ăn mồi tươi sống, có mùi tanh, như cá bột, trứng nước, ấu trùng Artemia. Thậm chí, chúng ăn lẫn nhau khi không kịp thời cung cấp thức ăn, do đó, phải tạo được một lượng thức ăn tự nhiên sẵn có và đầy đủ trong ao ương trước khi thả cá bột, nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ăn của cá.

Cung cấp đầy đủ thức ăn để đàn cá tra phát triển khỏe mạnh – Ảnh: Phan Thanh Cường

Trong quá trình ương nuôi thành cá tra giống trong ao, chúng ăn các loại phù du động vật có kích thước vừa miệng và các thức ăn nhân tạo. Sau khi xuất cá giống, có thể sử dụng các loại thức ăn công nghiệp thích hợp với kích cỡ của cá để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết.

Sử dụng thức ăn

Sau khi chuyển cá từ bể ấp ra ao ương cần lưu ý lượng cho ăn theo khả năng bắt mồi của cá và tình hình thời tiết, chất lượng nước ao. Đối với cá giống cho ăn thức ăn dạng mảnh phù hợp với từng kích cỡ con giống.

Cá giống từ ngày 18 trở đi (kích cỡ cá từ 1 – 5g), sử dụng thức ăn dạng mảnh 01 loại MINI 35 6316, kích cỡ 1 – 1,5 mm/viên, tăng số lần cho ăn trong ngày (3 lần/ngày) với lượng thức ăn từ 7 – 25% so với trọng lượng cơ thể cá. Loại thức ăn này có lượng đạm đạt 35%.

Trong quá trình cho ăn, cần kết hợp cải tạo ao, đảm bảo môi trường để nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn.

Sản phẩm Max Benthos của Công ty TNHH Tiệp Phát

Sản phẩm thức ăn dạng mảnh 01 loại MINI 40 6306, MINI 35 6316 của Công ty Cổ phần GreenFeed Việt Nam.

Phương Pháp Ương Cá Bột Thành Cá Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Chuẩn bị ao ương

Tùy thuộc vào diện tích có sẵn của nông hộ, tốt nhất từ 500 – 1.000m2. Ao sâu 1 – 1,5m, đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Ao phải chủ động cấp thoát nước khi cần, mặt ao thoáng, bờ ao chắc chắn không có cây rậm.

Trước khi thả cá ương phải sên vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn đáy quá dày. Sửa dọn bờ bọng cho chắc chắn, lấp các lỗ mọi, hang hốc quanh ao. Rào lưới xung quanh ao để ngăn ngừa địch hại của cá lọt vào ao ương. Bón vôi khắp ao, liều lượng 10 – 15 kg/100m2, để diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá và cải tạo nền đáy. Nếu có điều kiện nên đào rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh chất bẩn hay phèn bị rửa trôi xuống ao khi trời mưa. Phơi đáy ao 3 – 5 ngày (vùng phèn không nên phơi đáy ao).

Đối với các ao không có điều kiện tháo cạn nước hoặc muốn diệt hết cá tạp, cá dữ còn trong lớp bùn đáy, dùng rễ dây thuốc cá ngâm một đêm và đập kỹ vắt lấy nước pha loãng tạt đều khắp ao (1kg rễ cho 100m3 nước). Nên thuốc cá vào buổi trưa, vì lúc này nước được nung nóng, cá dễ bị nhiễm độc hơn. Có thể dùng chế phẩm dạng bột có chứa Rotenon được đóng gói sẵn để diệt cá tạp. Lượng dùng theo chỉ dẫn trên bao bì.

Lấy nước vào ao: Nước lấy vào ao ương phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn, có thể thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Kiểm tra pH nước khoảng 6,5 – 8,5 là có thể thả cá.

Cách thả cá bột

Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những địch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày…) chưa kịp phát triển. Sau đó, thức ăn dư thừa của cá bột (bột đậu, cám…) sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng giúp tảo phát triển gây màu cho ao. Trường hợp sau khi lấy nước vào hơn 2 ngày vẫn chưa thả cá bột thì nên tháo cạn nước, cải tạo lại từ đầu. Thả cá bột xuống ao với mật độ khoảng 300 – 500 con/m2. Thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Để tránh xây xát cho cá, nên dùng lưới có kích thước mắt nhỏ – Ảnh: Trần Huy

Trước khi thả, nên ngâm túi cá trong nước khoảng 10 – 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt, sau đó từ từ thả ra ngoài ao. Nếu cá bột chứa trong bao nylon: Thả bao cá xuống ao 10 – 15 phút cho cân bằng nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao, sau đó mở miệng bao cho cá ra từ từ. Nếu cá bột chứa trong dụng cụ hở (thau, thùng), thêm từ từ nước ngoài ao vào dụng cụ chứa cá vài lần cho cá quen với nước ao mới, sau 10 – 15 phút chuyển thùng xuống ao, từ từ nghiêng thùng cho cá ra ngoài.

Thức ăn

Trong 10 ngày đầu: cho cá ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá bột/ngày gồm: 5 lòng đỏ trứng + 600g bột đậu nành. Cách cho ăn: Lòng đỏ trứng luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Tạt đều thức ăn khắp ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ , 11 giờ, 17 giờ.

Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: Cho cá ăn bột cá, cám và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá/ngày gồm: 300g đậu nành + 300g cám + 300g bột cá.  Cách cho ăn: Trộn đều 3 loại thức ăn trên sau đó rải đều trên mặt ao. Ngày cho ăn 3 lần.

Từ ngày thứ 21 trở đi giảm bột đậu nành, chỉ cho ăn bột cá và cám, trộn cám với bột cá với tỷ lệ bằng nhau cho cá ăn ngày 2 – 3 lần, lượng thức ăn chiếm khoảng 15 – 20% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn như vậy đến khi cá đạt kích cỡ giống khoảng 300 – 500 con/kg.

Lưu ý: Thức ăn nên trộn thêm Vitamin C liều lượng 30 – 40 mg/kg thức ăn. Sau khoảng 15 – 20 ngày, có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp loại viên nhỏ mảnh có hàm lượng đạm trên 30%.

Chăm sóc quản lý ao ương

Trong quá trình ương hạn chế thay nước, nhưng khi thấy nước ao bẩn hoặc có điều kiện thì nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Hằng ngày, trước khi cho ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ sát hại lẫn nhau. Đảm bảo đủ số lượng và chất lượng thức ăn giúp cá mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao.

Thu hoạch

Sau khi ương 45 – 60 ngày, cá đạt kích cỡ 300 – 700 con/kg tùy loại cá thì thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 tuần, hằng ngày phải luyện cá bằng cách giảm bớt lượng thức ăn (chỉ còn 1/3 – 1/2 so với bình thường) hay cho cá nhịn đói và làm đục nước ao bằng cách dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ kéo cá để tránh cá bị xây xát, kéo lưới dồn cá lại một góc ao trong 10 – 15 phút lúc 9 – 10 giờ sáng, làm liên tục 2 – 4 ngày và nhốt trong vèo trước khi xuất bán.

Trong quá trình thu hoạch, các thao tác phải thật nhanh và nhẹ nhàng, tránh làm cá mệt, nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển.

Nguyễn Thị Phương Dung

Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang

“Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá rô phi

Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành.      

Tuấn Tú

Cá Tra Dầu – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Đặc điểm

Cá tra dầu có thể coi là loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới, thuộc họ cá tra, bộ cá da trơn. Kích thước của chúng lớn, chiều dài có thể lên đến 3 m và trọng lượng có thể đến 300 kg. Cá có đầu to và dẹp, miệng rộng với hai râu dài ở hàm trên, vây bụng dài đến vây đuôi, vây lưng nhỏ ở phía trước. Lưng cá có màu nâu thẫm, màu ở bụng và vây nhạt hơn. Mặc dù lớn nhưng cá tra dầu chỉ ăn thực vật thủy sinh. Cá có đôi mắt nằm thấp trên đầu và hướng xuống dưới, có màu trắng sang vàng ở phía dưới. Chúng được phân biệt với các loại cá da trơn khác bởi râu kém phát triển hơn và không có răng.

Cá tra dầu có tập tính di cư sinh sản, chúng thường di chuyển từ tháng 10 đến tháng 12, từ hồ Tonle Sap ở Campuchia vào sông Cửu Long, từ đó nó tiến ngược dòng vào phía Đông Bắc Campuchia, Lào và Thái Lan để đẻ trứng. Chúng sử dụng các thực vật phát triển trong nước làm thức ăn. Đây là loài đặc hữu đối với lưu vực sông Mê kông chảy qua Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc. Cá tra dầu chủ yếu được tìm thấy ở hồ Tonle Sap và sông Mê Kông.

Hiện trạng

Cá tra dầu đã từng phân bố rộng rãi dọc lưu vực, từ Myanmar cho tới tây nam Trung Quốc. Cho đến đầu những năm 1990, quần thể loài này vẫn còn tương đối dồi dào. Từ đó tới nay, số lượng loài này đã bị giảm mạnh, và chỉ được tìm thấy tại sông Mê Kông và các nhánh của nó tại Lào, Campuchia và Thái Lan. Tính riêng trong thế kỷ qua, sản lượng cá tra dầu trên sông Mê Kông giảm đến 95%, và đứng trước bờ vực tuyệt chủng. Chúng được phân loại là rất nguy cấp trong Danh sách đỏ IUCN 2004, được liệt kê trong Phụ lục I của Công ước về Bảo tồn di cư loài động vật hoang dã và Phụ lục I của Công ước CITES. Theo nghiên cứu Dự án bảo tồn cá Mê Kông hợp tác với Bộ Thủy sản Campuchia tiến hành nghiên cứu vào năm 2001, đã cung cấp bằng chứng việc nạo vét, xây dựng đập đã phá hủy các bãi đẻ của cá tra dầu, đồng thời cản trở sự di chuyển và không gian sống của chúng.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính dẫn đến quần thể cá tra dầu sông Mê Kông đã bị suy giảm mạnh do việc đánh bắt quá mức. Hiện, để bảo vệ loài cá tra dầu, ở một số nước như Thái Lan, Lào và Campuchia đã ban hành luật cấm khai thác loài cá này. Nhưng, tại nhiều ngôi làng hẻo lánh, dọc theo sông Mê Kông, người dân vẫn không thực thi điều luật này.

Giới khoa học chỉ biết đến loài cá này từ năm 1930 khi nó được “khám phá” tại một chợ cá ở Phnôm Pênh (Campuchia) và cho đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về loài cá này. Vào năm 2005, một cơ quan thủy sản Thái Lan đã bắt và nuôi giữ được một con cá tra dầu, có chiều dài 3 m và nặng 200 kg để nuôi giữ, và tiến hành sinh sản nhân tạo. Nhưng, cá đã chết trong khi nuôi nhốt và được bán làm thực phẩm cho người dân địa phương.

Cá tra dầu không thể nuôi nhốt mà chỉ đánh bắt được ngoài môi trường tự nhiên. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong cá tra dầu có lượng Omega 3 dồi dào nên rất bổ dưỡng cho não.

Tiền Giang: Cá Tra Giống Thiếu Nguồn Cung – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Giá cá tra giống tăng

Ông Nguyễn Văn Tỏ, nông dân ương cá tra giống ở xã Thạnh Nhựt, huyện Gò Công Tây cho biết, cá tra giống có chiều cao thân 1,7 cm (tương đương 50 con/kg) và 2 cm (30 con/kg) là 2 cỡ cá giống được nông dân và doanh nghiệp chọn thả nuôi phổ biến nhất.

Hiện nay, cá tra giống giao tại ao cho người nuôi loại 2 cm có giá từ 36.000 – 37.000 đồng/kg, còn cá tra giống loại 1,7 cm có giá khoảng 40.000 đồng/kg. So với nửa tháng trước, giá cá tra giống các loại đã tăng từ 2.000 – 4.000 đồng/kg.

Giá cá tra giống tăng, nguồn cá giống khan hiếm (ảnh chụp tại xã Phú Phong, huyện Châu Thành).

Theo ông Tỏ, những đợt không khí lạnh kéo dài hồi đầu năm đã gây bất lợi cho việc ương dưỡng cá tra giống, khiến dịch bệnh nhiều, nhiều đợt ương cá giống bị mất trắng. “Vừa rồi, tôi ương 2 mẻ cá giống trên ruộng và trên ao ương, nhưng do thời tiết lạnh, cộng với chất lượng cá bột (cá mới nở) không tốt nên chỉ sau 1 tháng cá tra giống ương trên ruộng bị mất trắng, còn cá giống trên ao tỷ lệ hao hụt rất cao. Tuy nhiên, nhờ giá cá giống cao, tôi đã bán đợt cá giống này với giá 37.000 đồng/kg cách đây 10 ngày nên không bị lỗ” – ông Tỏ cho biết.

Ông Dương Quốc Trí, chủ cửa hàng bán thuốc thú y thủy sản và cũng là thương lái thu mua cá giống ở xã Phú Cường, huyện Cai Lậy cho biết, do ảnh hưởng thời tiết lạnh, dịch bệnh nhiều, chất lượng cá bột thấp nên tỷ lệ sống trong việc ương cá tra giống trên địa bàn huyện Cai Lậy trong những tháng đầu năm nay chỉ đạt bình quân từ 3-5%, trong khi đó nếu thời tiết thuận lợi như hiện nay thì tỷ lệ sống đạt bình quân khoảng 10%. Do đó, hiện nay lượng cá tra giống trên thị trường rất khan hiếm.

“Hiện nay, sản lượng cá tra giống ở các xã Thạnh Lộc, Phú Cường, Mỹ Thành Bắc thuộc huyện Cai Lậy (khu vực ương cá tra giống lớn nhất của tỉnh) còn rất ít. Do cá giống khan hiến nên gần như nửa tháng qua tôi cũng không có cá để cung cấp cho các doanh nghiệp nuôi cá tra trong và ngoài tỉnh” – ông Trí cho biết.

Nhiều nông dân ương cá tra giống cho biết, mỗi vụ ương cá tra giống kéo dài khoảng 2,5 – 3 tháng. Trong điều kiện thời tiết thuận lợi, kỹ thuật tốt thì tỷ lệ sống trong ương cá tra giống đạt 10%. Khi đó, mỗi 1.000m2 mặt nước ương cá tra giống có thể đạt năng suất 4 tấn cá với giá thành sản xuất bình quân 22.000 đồng/kg.

Với giá cá tra giống hiện nay, sau khi trừ chi phí sản xuất nông dân còn lời 60 triệu đồng/công. Tuy nhiên, không nhiều hộ ương cá tra giống đạt được mức lời này do thời tiết bất lợi, hao hụt cao, thậm chí có hộ mất trắng do cá giống chết sạch.

Diện tích ương cá tra giống giảm

Hiện nay, thời tiết đã thuận lợi hơn cho việc ương cá tra giống, hơn nữa giá cá tra nguyên liệu đang nằm ở mức khá cao nên nhiều hộ ương cá tra giống đang đẩy mạnh sản xuất để cung cấp cá giống cho vụ nuôi mới. Theo Chi cục Thủy sản, hiện nay khoảng 2/3 diện tích ương cá tra của nông dân ở các xã trọng điểm ương cá tra giống của tỉnh như: Thạnh Lộc, Mỹ Thành Bắc, Phú Cường (huyện Cai Lậy) đã thả bột để chuẩn bị nguồn cá giống dự trữ xuất bán cho vụ nuôi đầu năm 2014, mặc dù không phát sinh diện tích mới.

Nguồn cá bột để ương cá tra giống được bà con mua chủ yếu từ các tỉnh lân cận như: Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ và các trại giống trong tỉnh. Từ đầu năm đến nay, các hộ sản xuất, ương dưỡng cá giống trong tỉnh đã cung cấp cho thị trường 71,7 triệu con giống và 136 triệu cá bột các loại; trong đó có 18,7 triệu con cá tra giống, 10,5 triệu con cá điêu hồng giống.

Do trong năm 2013, chi phí sản xuất, nhất là giá thức ăn thủy sản tăng cao nhưng giá cá thấp nên một số hộ ương giống đã phải thu hẹp diện tích ương, tạm nghỉ chờ giá cá giống tăng trở lại hoặc chuyển sang trồng lúa.

Hiện nay, Tiền Giang có 272 ha ương cá tra giống, giảm 25% so với năm 2012, cung cấp cho thị trường 208,4 triệu con giống, giảm 10% so với năm 2012. Do ảnh hưởng từ hoạt động nuôi cá tra thương phẩm nên giá cá tra giống trong năm luôn ở mức thấp, vì vậy những hộ ương cá tra đã chuyển sang ương, nuôi các loài cá khác.

Hiện nay, diện tích ương cá tra trong ao nuôi tôm ở khu vực các huyện phía Đông của tỉnh không còn ương nữa, còn ở các xã trọng điểm ương cá tra giống của huyện Cai Lậy như: Thạnh Lộc, Phú Cường, Mỹ Thành Bắc đã có 24,2 ha san lấp ao để trở lại trồng lúa hay hoa màu.

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Lưu Ý Khi Ương Giống Cá Tra, Basa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!