Xu Hướng 1/2023 # Những Lưu Ý Khi Ương Giống Cá Tra, Basa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 10 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Những Lưu Ý Khi Ương Giống Cá Tra, Basa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Những Lưu Ý Khi Ương Giống Cá Tra, Basa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chuẩn bị ao ương

Ao có diện tích to hay nhỏ tùy theo điều kiện của từng hộ, tuy nhiên diện tích ao ương càng lớn càng tốt, không nhỏ dưới 200 m2. Độ sâu nước phải từ 1,2 – 1,5 m. Nguồn nước cấp cho ao ương phải sạch và chủ động. Bờ ao phải được gia cố chắc chắn, không rò rỉ hay thấm nước.

Tháo cạn ao, sên vét bùn từ vụ trước, dùng vôi với liều lượng 7 – 10 kg/100 m2 rải đều đáy ao và mái bờ ao.

Tiến hành phơi ao, 1 – 2 ngày, những đáy ao bị ảnh hưởng bởi phèn thì không nên phơi đáy ao sẽ bị xì phèn. Sau khi phơi ao, tiến hành bón lót đáy cho ao bằng bột đậu tương và bột cá, mỗi loại 0,5 – 1 kg/100 m2 đáy ao.

Vì ao ương cá bột nên cần phải lọc nước cấp vào ao bằng lưới lọc mắt dày, mực nước cấp từ 0,3 – 0,5 m. Đồng thời thả giống trứng nước (0,5 – 1 kg/100 m2 đáy ao) và trùng chỉ (2 kg/100 m2 đáy ao).

Sau 1 ngày, cấp thêm từ 70 – 80 cm nước và thả cá bột, sau đó 2 ngày thì cấp đầy đủ nước.

Nên kiểm tra lượng thức ăn sử dụng, chất lượng nước, tình hình sức khỏe và dịch bệnh của cá mỗi ngày – Ảnh: Lê Hoàng Vũ

Chọn và thả cá ương

Cá bột phải đều cỡ, bơi lội nhanh nhẹn, màu sắc cá tươi sáng, không dị tật hoặc mang mầm bệnh. Mật độ ương nuôi trong ao đất từ 250 – 400 con/m2 (cá tra), 50 – 100 con/m2 (cá basa).

Cho ăn và chăm sóc

Ngoài thức ăn tự nhiên sẵn có trong ao, cần bổ sung thêm các loại thức ăn khác ở giai đoạn đầu như: Bột đậu nành, lòng đỏ trứng gà, vịt. Cứ 10.000 cá bột thì dùng 20 lòng đỏ trứng và 200 gram bột đậu nành nấu chín, ngày cho ăn từ 4 – 5 lần.

Sau 10 ngày, cá bắt đầu ăn móng (đớp khí), tăng thêm 50% lượng thức ăn và bổ sung thêm nguồn trứng nước, trùng chỉ. Thời điểm này có thể cho cá ăn dặm bằng cá tươi xay nhuyễn hoặc thức ăn chế biến.

Sau tuần thứ 4 trở đi cho đến khi thu hoạch, thức ăn chủ yếu là thức ăn chế biến với thành phần là cám trộn bột cá (cá xay nhuyễn) nấu chín, khẩu phần ăn 5 – 7%. Hoặc thức ăn công nghiệp có hàm lượng đạm 30 – 50%, khẩu phần ăn 2 – 3%.

Chú ý

Khi cho ăn bằng thức ăn công nghiệp phải chọn kích cỡ thức ăn phù hợp với miệng cá. Cần bổ sung thêm vitamin, khoáng chất giúp cá khỏe mạnh, tăng sức đề kháng.

Theo dõi hàng ngày

Hàng ngày kiểm tra lượng thức ăn sử dụng, chất lượng nước, tình hình sức khỏe của cá. Đặc biệt là vấn đề dịch bệnh.

Định kỳ luyện cá 1 lần/tuần, giúp cá quen dần với điều kiện chật hẹp, thiếu ôxy, nước đục… để cá thích nghi dần và làm giảm tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển cá giống.

Phương Pháp Ương Cá Bột Thành Cá Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Chuẩn bị ao ương

Tùy thuộc vào diện tích có sẵn của nông hộ, tốt nhất từ 500 – 1.000m2. Ao sâu 1 – 1,5m, đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Ao phải chủ động cấp thoát nước khi cần, mặt ao thoáng, bờ ao chắc chắn không có cây rậm.

Trước khi thả cá ương phải sên vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn đáy quá dày. Sửa dọn bờ bọng cho chắc chắn, lấp các lỗ mọi, hang hốc quanh ao. Rào lưới xung quanh ao để ngăn ngừa địch hại của cá lọt vào ao ương. Bón vôi khắp ao, liều lượng 10 – 15 kg/100m2, để diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá và cải tạo nền đáy. Nếu có điều kiện nên đào rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh chất bẩn hay phèn bị rửa trôi xuống ao khi trời mưa. Phơi đáy ao 3 – 5 ngày (vùng phèn không nên phơi đáy ao).

Đối với các ao không có điều kiện tháo cạn nước hoặc muốn diệt hết cá tạp, cá dữ còn trong lớp bùn đáy, dùng rễ dây thuốc cá ngâm một đêm và đập kỹ vắt lấy nước pha loãng tạt đều khắp ao (1kg rễ cho 100m3 nước). Nên thuốc cá vào buổi trưa, vì lúc này nước được nung nóng, cá dễ bị nhiễm độc hơn. Có thể dùng chế phẩm dạng bột có chứa Rotenon được đóng gói sẵn để diệt cá tạp. Lượng dùng theo chỉ dẫn trên bao bì.

Lấy nước vào ao: Nước lấy vào ao ương phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn, có thể thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Kiểm tra pH nước khoảng 6,5 – 8,5 là có thể thả cá.

Cách thả cá bột

Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những địch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày…) chưa kịp phát triển. Sau đó, thức ăn dư thừa của cá bột (bột đậu, cám…) sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng giúp tảo phát triển gây màu cho ao. Trường hợp sau khi lấy nước vào hơn 2 ngày vẫn chưa thả cá bột thì nên tháo cạn nước, cải tạo lại từ đầu. Thả cá bột xuống ao với mật độ khoảng 300 – 500 con/m2. Thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Để tránh xây xát cho cá, nên dùng lưới có kích thước mắt nhỏ – Ảnh: Trần Huy

Trước khi thả, nên ngâm túi cá trong nước khoảng 10 – 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt, sau đó từ từ thả ra ngoài ao. Nếu cá bột chứa trong bao nylon: Thả bao cá xuống ao 10 – 15 phút cho cân bằng nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao, sau đó mở miệng bao cho cá ra từ từ. Nếu cá bột chứa trong dụng cụ hở (thau, thùng), thêm từ từ nước ngoài ao vào dụng cụ chứa cá vài lần cho cá quen với nước ao mới, sau 10 – 15 phút chuyển thùng xuống ao, từ từ nghiêng thùng cho cá ra ngoài.

Thức ăn

Trong 10 ngày đầu: cho cá ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá bột/ngày gồm: 5 lòng đỏ trứng + 600g bột đậu nành. Cách cho ăn: Lòng đỏ trứng luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Tạt đều thức ăn khắp ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ , 11 giờ, 17 giờ.

Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: Cho cá ăn bột cá, cám và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá/ngày gồm: 300g đậu nành + 300g cám + 300g bột cá.  Cách cho ăn: Trộn đều 3 loại thức ăn trên sau đó rải đều trên mặt ao. Ngày cho ăn 3 lần.

Từ ngày thứ 21 trở đi giảm bột đậu nành, chỉ cho ăn bột cá và cám, trộn cám với bột cá với tỷ lệ bằng nhau cho cá ăn ngày 2 – 3 lần, lượng thức ăn chiếm khoảng 15 – 20% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn như vậy đến khi cá đạt kích cỡ giống khoảng 300 – 500 con/kg.

Lưu ý: Thức ăn nên trộn thêm Vitamin C liều lượng 30 – 40 mg/kg thức ăn. Sau khoảng 15 – 20 ngày, có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp loại viên nhỏ mảnh có hàm lượng đạm trên 30%.

Chăm sóc quản lý ao ương

Trong quá trình ương hạn chế thay nước, nhưng khi thấy nước ao bẩn hoặc có điều kiện thì nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Hằng ngày, trước khi cho ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ sát hại lẫn nhau. Đảm bảo đủ số lượng và chất lượng thức ăn giúp cá mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao.

Thu hoạch

Sau khi ương 45 – 60 ngày, cá đạt kích cỡ 300 – 700 con/kg tùy loại cá thì thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 tuần, hằng ngày phải luyện cá bằng cách giảm bớt lượng thức ăn (chỉ còn 1/3 – 1/2 so với bình thường) hay cho cá nhịn đói và làm đục nước ao bằng cách dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ kéo cá để tránh cá bị xây xát, kéo lưới dồn cá lại một góc ao trong 10 – 15 phút lúc 9 – 10 giờ sáng, làm liên tục 2 – 4 ngày và nhốt trong vèo trước khi xuất bán.

Trong quá trình thu hoạch, các thao tác phải thật nhanh và nhẹ nhàng, tránh làm cá mệt, nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển.

Nguyễn Thị Phương Dung

Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang

“Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá rô phi

Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành.      

Tuấn Tú

Việt Nam Đủ Điều Kiện Xuất Khẩu Cá Tra, Basa Sang Mỹ – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Việt Nam được phép xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Mỹ

Thông báo của FSIS sẽ được công bố trên Công báo liên bang chính thức vào ngày 19/9 với thời gian nhận phản hồi trong vòng 30 ngày.

Sau khi duyệt hồ sơ kế hoạch của Việt Nam, FSIS đã lên kế hoạch kiểm tra thực địa vào tháng 5/2018. Kiểm tra thực địa đã xác nhận rằng kế hoạch mà Việt Nam đưa ra luôn bám sát thực tế và FSIS chỉ phát hiện một điểm khác biệt rất nhỏ so với hồ sơ gửi đi nhưng lỗi này không ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm. Một trong số những lỗi này là vi phạm HACCP nhưng không đáng kể.

Khi những lỗi trên được khắc phục, FSIS đã quyết định Việt Nam và các nước khác có hệ thống giám sát cá da trơn tương đương với hệ thống của Mỹ. Do đó, Việt Nam sẽ tiếp tục xuất khẩu cá tra, basa sang thị trường Mỹ mà không vướng bất cứ rào cản phi thuế quan nào. FSIS cho biết, kết quả kiểm tra thực địa hệ thống giám sát cá da trơn của Việt Nam không phát hiện bất cứ lỗi nào đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.

FSIS đã hoàn tất việc rà soát hồ sơ, đánh giá thực địa và xác minh quá trình khắc phục lỗi và toàn bộ các vấn đề còn tồn tại cũng đã được giải quyết. FSIS kết luận rằng, hệ thống giám sát cá da trơn của Việt Nam tương đương với hệ thống của Mỹ. Theo số liệu của USDA, thị phần xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam luôn ổn định trong 5 năm qua tại Mỹ (khoảng 90 – 92%). Trong khoảng thời gian này, tỷ lệ tiêu thụ cá da trơn tại Mỹ (nội địa và nhập khẩu) từ Việt Nam dao động 45,5 – 46,8%, với mức trung bình 5 năm khoảng 45,7%.

FSIS cho biết, luật dự kiến có thể mang lại lợi ích cho ngành công nghiệp cá da trơn bằng cách ổn định thị trường và tiếp tục mở cơ hội giao thương giữa Mỹ và Việt Nam. Người tiêu dùng tại Mỹ có nhiều sự lựa chọn khi mua cá da trơn, đặc biệt là họ cá tra, basa – loài cá bản địa của Việt Nam, Trung Quốc và một số quốc gia châu Á. Cá tra, basa có hương vị, màu sắc và thớ thịt khác biệt hơn các loài cá da trơn tại Mỹ. Giao dịch cá tra, basa giữa Mỹ và Việt Nam được duy trì sẽ mang lại sự lựa chọn phong phú cho người tiêu dùng tại Mỹ.

Trong khoảng thời gian nhận phản hồi 30 ngày, FSIS sẽ cân nhắc các ý kiến đóng góp rồi mới đưa ra quy định cuối cùng. Mặc dù Chương trình giám sát cá da trơn của USDA sẽ khiến ngành cá da trơn nội địa và hãng nhập khẩu phải gánh thêm chi phí, nhưng dường như giờ đây mọi tham vọng lật đổ cá tra, basa nhập khẩu từ phía các nhà sản xuất cá da trơn nội địa tại Mỹ đã bị sụp đổ hoàn toàn.

Kỹ Thuật Sản Xuất Giống Cá Giò – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

1. Nuôi vỗ cá bố mẹ

– Tuyển chọn cá bố mẹ: Chọn những con cá bố mẹ khỏe mạnh, trọng lượng từ 8-10 kg/con. Xác định cá đực và đánh dấu (bằng chíp điện tử). Nuôi vỗ với mật độ 5-6kg cá/1m3 lồng.

– Nuôi vỗ cá bố mẹ: Chia làm 3 thời kỳ:

Nuôi duy trì: Thời gian nuôi vỗ từ tháng 6 – 9, thức ăn là cá tạp tươi, khẩu phần cho ăn bằng 3% trọng lượng thân. Đối với cá đã nuôi vỗ từ năm trước nhưng không cho đẻ thì dùng LRHa (liều lượng 10-15mg/kg cá mẹ) tiêm để loại bỏ hết sản phẩm sinh dục cũ, thời gian tiêm từ ngày 5 – 15/7. Đối với cá mới tuyển chọn lần đầu không cần tiêm.

Nuôi vỗ tích cực: Kéo dài từ tháng 10 – 12, lượng cho ăn bằng 5% trọng lượng thân, thức ăn bổ sung một số loại cá có chất lượng cao như mực, cá nục…

Nuôi vỗ thành thục: Từ tháng 1 năm sau cho đến khi cá đẻ. Đây là thời kỳ rất quan trọng, giảm khẩu phần thức ăn xuống từ 2-2,5% trọng lượng thân. Tuy nhiên, giai đoạn này cần bổ sung khoáng, các vitamin.

Chú ý: Bổ sung thêm vào khẩu phần ăn cho cá đực từ 0,5-1mg 17-MT sẽ tăng khả năng thành thục của cá đực.

2. Chọn cá và cho đẻ

– Chuẩn bị bể đẻ: Bể đẻ tốt nhất là hình tròn, thể tích từ 50-150m3, chiều cao 2,5m. Nước được cấp từ dưới đáy bể lên để nước trong bể chảy thành dòng xoáy. Mỗi bể lắp từ 6-10 vòi sục khí mạnh. Trước khi đưa cá vào bể đẻ phải cấp nước đầy.

Cá giò giống   Nguồn: Sciencefish

– Chọn cá cho đẻ:

Cá cái: Dùng que thăm trứng, trứng dời nhau, hạt trứng căng, tròn đều và có đường kính 0,8-0,9mm, màng trứng rõ ràng, nhân hơi lệch về phía cực động vật là trứng tốt.

Cá đực: Vuốt nhẹ gần lỗ sinh dục thấy có sẹ màu trắng đục như sữa chảy ra, tan nhanh trong nước là cá đực tốt, đã sẵn sàng tham gia sinh sản.

– Tiêm kích dục tố (KDT): Cá đực không cần tiêm bất kỳ loại KDT nào. Cá cái tiêm 1 trong 3 loại KDT sau:

Tiêm kích dục tố LHR-a với liều lượng 10µg/kg.

Hoặc tiêm HCG với liều lượng 500IU/kg.

Hoặc tiêm kích dục tố LHRH-e với liều lượng 20µg/kg (Hoormone này có hiệu quả nhất vì cho tỷ lệ thụ tinh cao hơn).

3. Thu trứng, tách và ấp trứng

– Thu trứng: Trứng vớt được phải chuyển ngay vào bể hoặc thùng đựng trứng đặt trong bóng tối và có sục khí.

– Tách trứng: Đưa trứng cá vào nước có độ mặn 35-36‰, những trứng tốt sẽ trương nước, có kích thước giọt dầu lớn và nổi lên mặt nước. Những trứng chìm và ở sâu trong tầng nước là trứng xấu, phải loại bỏ. Tách trứng từ 3-4 lần, mỗi lần cách nhau 3 giờ để loại bỏ hết trứng xấu và cho vào ấp.

– Ấp trứng: Môi trường nước ấp trứng cần đảm bảo các điều kiện như độ pH từ 8-8,5; độ mặn 35-36‰; nhiệt độ nước 24-280C. Mật độ ấp từ 400-500 trứng/l, bể ấp được sục khí nhẹ và liên tục trong suốt quá trình ấp. Cấp nước có độ mặn 30-32‰ liên tục vào bể, khi trứng nở độ mặn sẽ hạ xuống còn 31-32‰ (bằng với độ mặn bể ương và có thể chuyển ấu trùng mới nở sang bể ương đã chuẩn bị sẵn).

Đoàn Quân

“Kỹ thuật nuôi một số đối tượng thủy sản biển”

Cuốn sách được viết dựa trên những kết quả nghiên cứu của các tác giả: TS Lê Xân, TS Nguyễn Thị Xuân Thu, Huỳnh Quang Năng và kết quả các mô hình nuôi trồng thủy sản biển có hiệu quả kinh tế cao của Quảng Ninh, Hải Phòng, Phú Yên, Khánh Hòa…

7 chương của cuốn sách cung cấp cho người đọc những kiến thức quan trọng và bổ ích về kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm, phòng và trị bệnh của nhiều đối tượng thủy sản biển có giá trị như: cá giò, cá vược, cá song, ốc hương, tôm hùm, rong biển… Sách dày 195 trang do Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia phát hành.

Người nuôi thủy sản và bạn đọc quan tâm có thể liên hệ với Nhà xuất bản Lao động – Xã hội theo địa chỉ: Ngõ Hòa Bình 4, Minh Khai, Hai Bà Trưng, Hà Nội. Điện thoại: 04.36246913 – Fax: 04.36246915.      

Tuấn Tú

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Lưu Ý Khi Ương Giống Cá Tra, Basa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!