Xu Hướng 2/2024 # Những Bước Tiến Về Dinh Dưỡng Cá Rô Phi – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Những Bước Tiến Về Dinh Dưỡng Cá Rô Phi – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dinh dưỡng và mục tiêu  miễn dịch

Hàng loạt phụ gia thức ăn chức năng hoạt động như chất tăng cường sức khỏe thông qua điều hòa đáp ứng miễn dịch ở cá rô phi và nhiều loại cá nuôi khác. Những hợp chất này kích thích sản sinh protein huyết tương (Glob/Albu); tăng hàm lượng và hoạt tính lysozyme (Lyso); kích thích tổng hợp và tăng số lượng tế bào miễn dịch (eukocytes – leuko); đặc biệt là tế bào lymphocytes (linfo – tổng hợp kháng thể); cũng như tế bào bạch cầu, chịu trách nhiệm cho quá trình thực bào. Các chất tăng cường sức khỏe khác thúc đẩy quá trình hỗ trợ thực bào, bởi vậy cũng quan trọng trong cản trở sự tấn công của vi khuẩn gây bệnh.

Các dinh dưỡng thiết yếu

Nhiều hợp chất cũng cải thiện sức khỏe đường ruột và điều chỉnh thành phần của hệ vi khuẩn đường ruột, giảm số lượng vi khuẩn Gram âm mang mầm bệnh tiềm ẩn (như Aeromonas, Pseudomonas, Plesiomonas, Edwarsiella và Vibrio); tăng số lượng vi khuẩn Gram dương có lợi (như Lactobacillus). Probiotics được bổ sung vào thức ăn nhằm điều chỉnh hệ vi khuẩn đường ruột và cải thiện đáp ứng miễn dịch ở cá. Nhiều loại phụ gia thức ăn chính được sử dụng để điều chỉnh các đáp ứng miễn dịch trên cá rô phi và nhiều loài cá khác được chiết xuất từ lúa mạch và chất chuyển hóa lên men (prebiotics), gồm: nucleotides, MOS (mannan-oligosacharides) và B-glucan. 

Nucleotides là chất thiết yếu cho quá trình hình thành tế bào (cơ, máu, miễn dịch như tế bào lymphocytes và đại thực bào) và là nền tảng trong sự phát triển, hình thành và hoàn thiện niêm mạc ruột, khiến vi khuẩn gây bệnh khó đi qua hàng rào đường ruột. Khẩu phần ăn bổ sung nucleotides rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn đầu đời của cá do thúc đẩy nhanh quá trình phát triển và tăng trưởng của ấu trùng và cá giống. Các nucleotides cũng tạo thuận lợi cho quá trình phát triển lợi khuẩn như Lactobacillus và Bacillus, chống lại vi khuẩn gây hại. 

Mannan-oligosaccharides (MOS) tăng sinh màng nhầy và nâng cao tính toàn vẹn của biểu mô đường ruột, khiến vi khuẩn khó tấn công lớp niêm mạc và gây viêm. Ngoài ra, vi khuẩn Gram âm hấp thu các vi hạt MOS và tống ra khỏi đường ruột cùng phân, điều chỉnh quần thể vi khuẩn trong đường ruột. B-glucans điều hòa rất nhiều cơ chế miễn dịch và tăng cường đáp ứng miễn dịch của cá rô phi. B-glucans bổ sung vào thức ăn chứa độc tố nấm mốc sẽ hút độc tố và điều hòa miễn dịch, giảm bớt tác động có hại của những độc tố nấm mốc đó và cải thiện đáp ứng miễn dịch của cá rô phi. 

Nhu cầu Vitamin E tối thiểu (a-tocopherol) của cá rô phi sông Nile dựa theo tăng trưởng được khuyến nghị 20 – 40 mg/kg thức ăn. Tuy nhiên, liều cao (trên 550 mg/kg) có thể cải thiện đặc tính của thịt cá như độ dai, chắc và khả năng kháng ôxy hóa của huyết tương. Vitamin C rất quan trọng trong tổng hợp collagen (hình thành chất nền xương, da và quá trình chữa lành). Những nghiên cứu trước đây cho thấy, liều bổ sung Vitamin C cao (1.000 – 2.000 mg/kg) có thể cải thiện đáp ứng miễn dịch và tăng đề kháng cho cá. Tác dụng này tương tự với selenium theo liều bổ sung gấp 4 – 5 lần liều Vitamin C – mức khuyến nghị tối thiểu để đạt tăng trưởng tối ưu (0,25 mg/kg thức ăn) và tăng đề kháng cho cá. 

Các axit hữu cơ và muối của chúng, gồm axit citric và sodium citrate, axit formic hoặc kali hoặc natri diformate, axit lactic hoặc natri lactate, axit propionic hoặc canxi propionate có thể nâng cao khả năng tiêu hóa protein và khoáng chất, giúp cá tăng trưởng và sử dụng thức ăn hiệu quả. Ngoài ra, axit hữu cơ có thể điều hòa số lượng vi khuẩn trong ruột non của cá bằng cách giết chết vi khuẩn Gram âm gây bệnh; cải thiện hệ vi khuẩn đường ruột. Tỷ lệ bổ sung 0,2 – 0,5% kali diformate trong thức ăn nâng cao lượng protein giữ lại, cải thiện tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn (Wing-Keong et al 2009; Elala and Raaga, 2024). Ngoài ra, còn làm giảm số lượng vi khuấn Gram âm trong phân cá hoặc biểu mô ruột. Bổ sung kali diformate vào thức ăn của cá rô phi còn làm tăng đáng kể sức đề kháng của cá trước vi khuẩn Vibrio anguillarum, Streptococcus agalactiae và Aeromonas hydrophilla.

Allicin (trong củ tỏi) là một hợp chất chống ung thư với hoạt tính điều hòa miễn dịch. Cá rô phi sông Nile non (25 g/con) ăn khẩu phần chứa 0,5% tỏi có số lượng tế bào leukocyte, hoạt tính lysozyme cao hơn, quá trình thực bào và ứng kích ôxy hóa mạnh mẽ hơn nhóm cá đối chứng.  

Chiến lược cho ăn

Người nuôi cá rô phi nên cân bằng hai mục tiêu tăng trưởng và hệ số thức ăn(FCR). Với cá nhỏ dưới 100 – 200 g/con, cần ưu tiên mục tiêu tăng trưởng và cho cá ăn 3 – 4 lần/ngày đến khi no. Cá tăng trưởng nhanh giai đoạn đầu đời sẽ rút ngắn thời gian tổn thương trước động vật ăn thịt.  

Cá rô phi có khả năng chọn lọc các loại thức ăn tự nhiên hiệu quả, dù đó là các mảnh thức ăn nhỏ như vi tảo phù du. Thức ăn viên cỡ lớn làm cá khó nuốt hơn. Theo nghiên cứu gần đây bởi Stoneham et al, người nuôi có thể tăng omega-3 FAs, đặc biệt DHA và EPA trong thịt cá bằng cách bổ sung dầu cá hoặc tảo biển Schizochytrium sp (như sản phẩm Algae Rich® của Alltech). Cá rô phi ăn Algae Rich® có lượng axit béo omega-3 đạt 390 mg/100 g fillet so mức cũ 350 mg/100 g fillet khi ăn 5% dầu cá và 130 mg/100 g fillet ở nhóm đối chứng không bổ sung omega-3 FAS. Ngoài ra, tăng hàm lượng selenium (Se) trong thịt cá rô phi bằng cách bổ sung các nguồn khoáng hữu cơ và vô cơ trong thức ăn. 

TSFernando Kubitza

Acqua Imagem Services, Aquaculture Jundiaí, SP, Brazil

Kg – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Hiện giá cá điêu hồng được thương lái tới tận bè thu mua với giá 41.000 – 42.000 đ/kg tùy theo loại cá và hình thức bắt cá. Với giá cá thời điểm này, người nuôi cá điêu hồng lồng bè vẫn còn lãi khoảng 11.000 – 12.000 đ/kg.

Ông Lê Minh Sang, nông dân nuôi cá bè ở xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho (Tiền Giang) cho biết, mấy ngày nay các thương lái tới tận bè của nông dân thu mua cá điều hồng với giá 41.000 đ/kg nếu bắt cá bằng ghe đục. Đối với những thương lái bắt cá điêu hồng oxy (cá giữ trong bao ni lông chứa nước có bơm oxy), cá điêu hồng được thu mua với giá 41.500 – 42.000 đ/kg. Tính ra giá cá điêu hồng các loại đã giảm khoảng 2.000 đ/kg so với tuần trước.

Mấy ngày qua, nguồn cung cá điêu hồng tại bè tăng trở lại nên giá cá giảm nhẹ

Theo nhiều nông dân nuôi cá điêu hồng ở xã Thới Sơn, hiện giá thành sản xuất cá điêu hồng trên bè gồm con giống, thức ăn, thuốc thú y, nhân công… trong vòng 6 tháng nuôi cá bình quân khoảng 30.000 đ/kg. Năng suất bình quân mỗi bè nuôi cá điêu hồng thể tích 100 m3 ở địa phương này khoảng 5 tấn cá, nên sau khi trừ mọi chi phí sản xuất nông dân còn lãi từ 55 – 60 triệu đ/bè (tương đương 11.000 – 12.000 đ/kg cá). Thông thường mỗi nông dân nuôi cá bè ở Tiền Giang có từ 4 – 5 bè, thậm chí có tới cả trăm bè, vì vậy nếu chủ bè nào có cá bán trong thời gian gần đây sẽ có lãi hàng trăm triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Thành, một thương lái chuyên thu mua cá điêu hồng cung cấp cho thị trường Tp Hồ Chí Minh cho biết, nguyên nhân khiến giá cá điêu hồng giảm nhẹ trong mấy ngày qua là do nguồn cung cá điêu hồng nuôi bè ở Tiền Giang cũng như ở các tỉnh lân cận có dấu hiệu tăng trở lại. Nhiều chủ bè có cá tới lứa thu hoạch đồng loạt nên giá cá giảm chút đỉnh. Tuy nhiên, giá cá điêu hồng trong thời gian tới sẽ vẫn nằm ở mức cao trên dưới 40.000 đ/kg, do thị trường tiêu thụ cá điêu hồng hiện rất tốt và dịp Quốc Khánh 2/9 cũng đang đến gần.

Mặc dù, giá cá điêu hồng có xu hướng giảm nhưng nhiều nông dân nuôi cá điêu hồng trên bè có kinh nhiệm cũng nhận định giá khó có thể giảm xuống thấp hơn 40.000 đ/kg.

Ông Phan Thế Nhân, nông dân có 5 bè nuôi cá điêu hồng ở xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho (Tiền Giang) cho biết, thời gian gần đây giá cá điêu hồng nằm ở mức cao, thậm chí giá cá lúc đỉnh điểm lên tới 44.000 đ/kg, nhưng người nuôi bè chưa dám khôi phục hoàn toàn sản xuất nên sản lượng cá cung cấp cho thị trường không dồi dào như những năm trước.

“Nếu trước đây bình quân mỗi chủ bè có 5 – 6 bè thả nuôi cá thì hiện nay họ chỉ dám thả nuôi 3 – 4 bè, mặc dù giá cá đang ở mức cao. Nguyên nhân là do đợt giá cá điêu hồng thấp dưới giá thành sản xuất năm ngoái (thua lỗ) trong thời gian dài đã làm cho người nuôi cụt vốn, trong khi đó hiện các đại lý kinh doanh thức ăn cá không còn bán thức ăn theo kiểu gối đầu như trước đây. Hiện nay, bình quân nuôi một bè nuôi cá điêu hồng thể tích 100 m3 giai đoạn từ 3 – 6 tháng cần phải có 5 – 7 bao thức ăn cá với giá trị gần 2 triệu đồng/ngày, do đó người nuôi cá không đủ vốn để thả nuôi hết các bè hiện có. Mặt khác, giá cá điêu hồng thời gian gần đây quá bấp bênh, nhiều lúc phải chịu lỗ nặng trong thời gian dài nên người nuôi cá cũng không yên tâm đầu tư vụ nuôi mới”, ông Nhân tâm tư.

Theo số liệu thống kê của ngành chức năng, tuần qua có 26 bè thu hoạch với sản lượng 150 tấn. Từ đầu năm đến nay đã có 856 bè với 16,748 triệu cá giống thả nuôi mới (chủ yếu thả trong quý II/2013), sản lượng thu hoạch 4.297 tấn. Hiện nay, toàn tỉnh có 1.004 bè đang thả nuôi trong tổng số 1.279 bè đang neo đậu (chiếm 78%).

Ngành Cá Cảnh Việt Nam: Nhiều Lợi Thế Để Tiến Xa – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Nghề kinh doanh và thú chơi cá cảnh đã hình thành từ lâu ở Việt Nam, tuy nhiên nó mới chỉ mang tính tự phát. Qua tìm hiểu, giao lưu tham gia triển lãm cá cảnh của các cơ sở sản xuất, kinh doanh với một số nước trên thế giới, cá cảnh Việt Nam đã nhận được sự ưa chuộng.

Ngày nay, đất nước phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng, một số doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh đã chủ động đưa cá cảnh Việt Nam thâm nhập vào thị trường quốc tế.

Riêng đối với TP Hồ Chí Minh thì sao, thưa ông?

Nhìn chung, nghề nuôi, sản xuất cá cảnh ở TP Hồ Chí Minh có từ rất lâu và từng có thời kỳ giữ vai trò nhất định ở khu vực Đông Nam Á. Đầu năm 1975, do hậu quả chiến tranh, điều kiện kinh tế nước ta quá khó khăn, mọi tiềm lực dồn cho việc khôi phục đất nước, chú trọng phát triển các ngành công, nông nghiệp nên nghề nuôi, sản xuất, kinh doanh cá cảnh dần dần giảm sút.

Những năm gần đây, mức sống của người dân thành phố ngày càng phát triển, nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc cơ bản đã được giải quyết thì việc vui chơi, sản xuất, kinh doanh cá cảnh bắt đầu nhộn nhịp trở lại và có chiều hướng phát triển. Người dân trong nghề nuôi cá cảnh đã chủ động tìm, cải tạo giống lạ – đẹp và tìm thị trường nước ngoài cho cá cảnh.

Trên địa bàn thành phố có khoảng 200 hộ làm nghề nuôi, sản xuất cá cảnh, tập trung nhiều ở các quận 8, 12, Gò Gấp, Bình Thạnh, huyện Bình Chánh, Củ Chi và rải rác ở quận 9. Gần 100% các hộ sản xuất cá cảnh nước ngọt với diện tích 15 – 20 ha mặt nước ao nuôi, 25.000 – 30.000 m2 bể xi măng và khoảng 3.000 m2 bể kiếng. Hàng năm, số lượng sản xuất và tiêu thụ khoảng 90 triệu con. Doanh số bình quân hằng năm mỗi hộ 80 – 100 triệu, thấp nhất là 20 triệu đồng, cao nhất là 300 triệu đồng.

Đối tượng sản xuất được xếp vào hai loại chính là: Cá đá (xiêm, lia thia, phướn…) và cá làm cảnh (được xếp làm 3 nhóm: Nhóm cá đại trà có nhiều hộ sản xuất: Bảy màu, hồng kim, hắc kim, tỳ bà, ông tiên, ba đuôi, tai tượng Phi Châu; Nhóm cá ít hộ sản xuất: Cá dĩa, cá la hán, chép Nhật…; Nhóm mới khai thác tự nhiên làm cảnh: Cá nàng hai (còm), nâu, long tong, sặc…)

Hiện, trên địa bàn thành phố có khoảng 100 – 120 cửa hàng và địa điểm buôn bán lẻ cá cảnh. Trong đó phải kể đến là chợ cá cảnh Lưu Xuân Tín ở quận 5 và Nguyễn Thông ở quận 3, Cộng Hòa ở Tân Bình. Ngoài ra, rải rác ở các quận, huyện khác trong thành phố như quận Thủ Đức, quận 9, huyện Bình Chánh.

Sản xuất cá cảnh ở Việt Nam chủ yếu do tự phát – Ảnh: CTV

Theo ông, tiềm năng để phát triển ngành cá cảnh Việt Nam nói chung, TP Hồ Chí Minh nói riêng là gì?

Việt Nam là quốc gia nằm trong 3 khu vực (Nam Mỹ, Phi Châu và Đông Nam Á) có nguồn cá cảnh nổi tiếng của thế giới. Khí hậu nhiệt đới ở Việt Nam thích hợp phát triển nhiều loài cá cảnh nội địa và nhiều loài cá đẹp quý hiếm (cả nước mặn và ngọt). Và, hầu như các loại cá cảnh trên thế giới đều đã có ở Việt Nam.

Riêng đối với thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành cá cảnh. Trước hết phải kể đến là khí hậu nhiệt đới nên có thể sản xuất được nhiều loài cá cảnh và sản xuất được quanh năm. Thức ăn tự nhiên – nguồn thực phẩm thiết yếu của nhiều loài cá cảnh, dồi dào trong các hệ thống sông rạch. Giá thành sản xuất thấp do giá nhân công, thức ăn và chi phí khấu hao trang thiết bị thấp (vì sản xuất được quanh năm).

Thêm vào đó, với vị trí là trung tâm kinh tế năng động, TP Hồ Chí Minh có lợi thế trong việc xây dựng thương hiệu và xúc tiến thương mại. Ngoài ra, đây cũng là nơi tập trung đông nghệ nhân nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh và yêu nghề…

Với những tiềm năng này, liệu ngành cá cảnh Việt Nam có thể phát triển như các quốc gia khác, chẳng hạn như Singapore, Malaysia… không, thưa ông?

Ngành cá cảnh Việt Nam có thể phát triển mạnh như Singapore, Malaysia nếu chúng ta thực sự quan tâm và xác định đúng hướng, vì Việt Nam hội đủ các yếu tố về điều kiện tự nhiên, vùng phân bố của các loài cá cảnh.

Đồng thời cũng cần phải có sự đầu tư thích đáng về chính sách, hoạch định, phải có chiến lược phát triển cho nghề cá cảnh. Trong đó cần chú ý đến các yếu tố về giống, bảo tồn gen, lai tạo và chủ động hội nhập thị trường.

Vậy còn những khó khăn, thách thức thì sao?

Bên cạnh những thuận lợi, ngành cá cảnh Việt Nam vẫn còn gặp phải một số khó khăn như: Chưa nắm bắt và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của các thị trường châu Âu và Mỹ. Sản xuất không ổn định do phát triển tự phát. Thiếu thông tin về khoa học kỹ thuật, nhất là thông tin về thị trường đối với các nhà sản xuất mới. Sản xuất quy mô nhỏ, riêng lẻ, nhất là sản xuất thiếu kế hoạch sẽ không đáp ứng được nhu cầu thị trường cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Vấn đề ô nhiễm nguồn nước, đô thị hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển. Việc xuất khẩu qua trung gian gây nhiều thiệt hại, rủi ro cho nhà sản xuất, kinh doanh. Các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ luôn có các hàng rào kỹ thuật nhằm hạn chế việc xuất khẩu của các nước khác.

Để đưa ngành cá cảnh Việt Nam phát triển tương xứng với tiềm năng, theo ông cần phải làm gì?

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước nên có trách nhiệm quản lý, kiểm soát, định hướng, hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh nhập các giống mới phục vụ nghiên cứu sản xuất con giống… 

Thứ hai, phổ biến, xúc tiến thương mại thị trường trong nước và xuất khẩu. Công tác nghiên cứu thị trường, đặc biệt là thị hiếu người tiêu dùng cần được quan tâm. Thường xuyên tổ chức tham gia các hội thi về cá cảnh trong và ngoài nước nhằm quảng bá sản phẩm, tạo đầu ra cho người nuôi cá cảnh, giới thiệu sản phẩm cá cảnh cho các thị trường xuất khẩu.

Thứ ba, tăng cường nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ, chuyên thực hiện việc nghiên cứu, lai tạo giống cá cảnh mới.

Thứ tư, có chính sách cho phép các trung tâm nghiên cứu, khu nông nghiệp công nghệ cao chủ động nhập các giống mới về lai tạo và xuất khẩu các giống cá cảnh ngoại lai nhưng không được tiêu thụ thị trường trong nước do ngại ảnh hưởng cân bằng sinh thái.

Thứ năm, xây dựng kho tư liệu về dịch tễ nhằm kiểm soát và khống chế dịch bệnh từng vùng, từng loài khi xảy ra dịch bệnh; Phát triển các kỹ thuật chuẩn đoán, điều trị và kiểm soát dịch bệnh trên cá cảnh, đảm bảo các vấn đề an ninh sinh học trong việc nuôi cá cảnh.

Thứ sáu, Nhà nước phải có chính sách thỏa đáng để khuyến khích phát triển, có chiến lược phát triển và tích cực tạo nên các yếu tố pháp lý kỹ thuật để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá cảnh có điều kiện tiếp cận thị trường mới.

Ngoài ra cũng nên miễn thuế nhập giống cá cảnh. Và cuối cùng cũng cần rà soát các văn bản quản lý động vật ngoại lại cho phù hợp với việc kinh doanh cá cảnh.

Đặc Sản, Dễ Nuôi – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Cá hô – đối tượng thủy sản có giá trị cao Ảnh: PTC

Đặc điểm sinh học

Cá hô thuộc họ cá chép Cyprinidae và có tên khoa học là Catlocarpio siamensis. Phần trước thân của cá hơi tròn và cao, phần sau dẹp bên; Cao thân khoảng 1/3 dài chuẩn; Đầu rất to, đỉnh đầu rộng, giữa mắt và mõm của phần lưng đầu lõm xuống; cá không có râu, khe mang rộng, thân phủ vảy tròn to; Đầu và lưng có màu nâu xám hoặc ánh xanh, nhạt dần xuống bụng trắng bạc; Mắt cá to, vảy to, vây lưng cao, gốc vây lưng, vây hậu môn có phủ vảy nhỏ. Bụng màu trắng bạc, các vây hơi phớt hồng, cuối các tia vây màu đen. Cá hô thường sinh sống ở những hố lớn cạnh bờ những dòng sông lớn, nhưng chúng cũng có thể bơi vào những kênh, rạch, sông nhỏ để kiếm thức ăn trong một số thời điểm. Chúng phân bố chủ yếu tại Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt  Nam (phân bố ở Châu Đốc, sông Mê Kông). Người ta đã bắt được cá hô dài tới 3 m, nặng khoảng 300 kg; ở Việt Nam thỉnh thoảng đánh bắt được cá hô loại 100 – 200 kg. Cá hô là loài ăn tạp, thức ăn của chúng có thể là thực vật phiêu sinh, rong, trái của thực vật trên cạn, thực vật thủy sinh và các động vật không xương sống thủy sinh…

Cho lãi lớn

Cá hô tuy là loài quý hiếm, trước đây cá chủ yếu là đánh bắt nhưng thời gian gần đây người dân ở miền Tây đã nuôi rất thành công giống cá này trong ao. Cá có thể trọng lớn, thịt thơm ngon, vị ngọt và dai nên rất được ưu chuộng trên thị trường và được các nhà hàng lớn thu mua. Cá hô đạt 4 – 6 kg/con trên thị trường có giá khoảng 80.000 – 120.000 đồng/kg, tuy nhiên có thể lên đến 1 – 2 triệu đồng/kg đối với cá 30 kg trở lên. Từ năm 2005, nước ta đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài cá quý này tại Trung tâm Quốc gia Giống thủy sản nước ngọt Nam bộ, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, tiếp đến Trung tâm Giống thủy sản An Giang cũng đã sản xuất nhân tạo thành công giống cá này. Nhờ chủ động được nguồn giống nên nghề nuôi cá hô phát triển mạnh ở nhiều địa phương của nước ta như An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang…

Cá hô có thể nuôi đơn trong ao, lồng bè, đăng quầng. Với tốc độ tăng trọng 2 – 3 kg/năm, chúng có thể được nuôi đơn trong ao hoặc lồng bè với mật độ 3 – 4 con/m2; ngoài ra, còn có thể  thả ghép với các loài cá nước ngọt khác, với mật độ 10 m2/con, để tận dụng thức ăn. Ở miền Nam, cá hô có thể thả nuôi quanh năm do khí hậu ấm áp, cá phát triển tốt. Theo đánh giá của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, việc đưa cá hô vào nuôi không những mang lại giá trị kinh tế cao mà còn góp phần bảo tồn tài nguyên quốc gia.

Thanh Hóa: Nhiều Khó Khăn Trong Nuôi Cá Rô Phi Thương Phẩm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Năm 2003, cá rô phi đơn tính được đưa vào tỉnh ta nuôi theo hình thức xen ghép với các loại cá truyền thống khác, phân tán ở các hộ dân. Xét thấy tiềm năng của cá rô phi đơn tính, từ năm 2009 đến nay, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã xây dựng các mô hình nuôi thâm canh cá rô phi đơn tính ở các huyện  Đông Sơn, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Vĩnh  Lộc, Nga Sơn, Hậu Lộc và Hoằng Hóa theo quy trình VietGAP. Tuy nhiên, sau một vài năm đầu có hiệu quả, hiện nay nghề nuôi cá rô phi đơn tính đang đối mặt với nhiều khó khăn. Ông Đồng Minh Bình, xã Đông Yên (Đông Sơn), cho biết: Sau 5 tháng áp dụng kỹ thuật nuôi cá rô phi đơn tính theo quy trình VietGAP, cùng với kinh nghiệm sẵn có trong gia đình, cá rô phi thương phẩm đạt kích cỡ từ 500 đến 800g/con. Tuy nhiên, khi thu hoạch sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nhỏ, lẻ cho thương lái và một phần gia đình chủ động đưa ra chợ bán. Giá bán lẻ được khoảng 35.000 đồng/kg còn bán cho công ty chế biến chỉ 25.000 đồng/kg. Theo tính toán, sau 5 tháng nuôi cá rô phi thương phẩm trên diện tích 4 sào ao cùng với sự hỗ trợ 30% thức ăn của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, trừ chi phí còn lãi 10 triệu đồng. Nếu không có sự hỗ trợ 30% thức ăn thì gia đình tôi chỉ hòa hoặc lỗ.   

Từ nuôi chuyên canh cá rô phi đơn tính, ông Đồng Minh Bình, xã Đông Yên (Đông Sơn) chuyển sang nuôi cá rô đầu vuông có đầu ra ổn định hơn.

Xã Trường Giang (Nông Cống) hiện có 158 ha nuôi trồng thủy sản nước lợ và 13 ha nước ngọt, chủ yếu là nuôi quảng canh cải tiến và cá – lúa kết hợp. Tỷ lệ nuôi cá rô phi thương phẩm đạt 20% diện tích nuôi trồng thủy sản. Theo ông Đậu Minh Hùng, chủ tịch UBND xã: Hiện người nuôi cá rô phi thương phẩm đang gặp nhiều khó khăn bởi đầu ra của sản phẩm không ổn định, chủ yếu là các hộ tự bán cho thương lái, chưa có sự liên kết với doanh nghiệp chế biến thủy sản. Chưa kể đa phần các hộ nuôi xen ghép với các đối tượng nuôi khác, không áp dụng quy trình kỹ thuật, an toàn thực phẩm nên kích thước cá khi thu hoạch không đạt trọng lượng quy chuẩn của nhà máy chế biến thủy sản. Hiện chỉ duy nhất có Công ty CP Xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa đã đầu tư nuôi thâm canh 14,1 ha tại khu nuôi tôm công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao với mục tiêu đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu. Công ty triển khai  nuôi 2 vụ/năm, năng suất bình quân đạt 30 tấn/ha. Sau khi thu hoạch, công ty sàng lọc số cá rô phi thương phẩm dưới 500g để tiêu thụ ở thị trường trong tỉnh vì không đủ điều kiện chế biến, xuất khẩu.

Toàn tỉnh hiện có 81 doanh nghiệp chế biến, kinh doanh xuất khẩu thủy sản với tổng công suất khoảng 279.870 tấn sản phẩm thủy sản/năm. Tuy nhiên, hiện chỉ có Công ty CP Xuất nhập khẩu thủy sản Thanh Hóa chế biến và xuất khẩu cá rô phi với công suất 20 tấn/ngày, sản phẩm chủ yếu là cá rô phi nguyên con. Nguồn nguyên liệu chủ yếu do công ty trực tiếp sản xuất theo quy trình VietGAP chứ không thu mua của các hộ nuôi trên địa bàn tỉnh.

Qua tìm hiểu được biết, nguyên nhân sản phẩm cá rô phi chưa có đầu ra ổn định là do thịt cá mỏng, xương cứng nên khó cạnh tranh với các loại hải sản khác trên thị trường trong và ngoài tỉnh. Trong khi đó, giá thức ăn tăng liên tục, nhưng giá cá trên thị trường chỉ giao động từ 28.000 – 30.000 đồng/kg. Ngoài ra, chi phí đầu tư cải tạo ao nuôi theo đúng quy trình kỹ thuật để đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, chi phí sản xuất 1 kg cá rô phi hết khoảng 25.000 đồng đến 27.000 đồng. Trên địa bàn tỉnh chưa có cơ sở sản xuất giống cá rô phi đơn tính, chủ yếu được các trại giống nhập từ Trung Quốc về ương nuôi và cung cấp ra thị trường hàng năm khoảng 7 triệu con giống nên chất lượng con giống không ổn định. Thị trường cá rô phi trong tỉnh còn manh mún và chủ yếu phục vụ nhu cầu sử dụng thực phẩm trong gia đình. Việc nuôi cá rô phi vẫn đang còn tự phát, hộ nuôi chưa tập trung quản lý chất lượng sản phẩm. Việc dùng thuốc kháng sinh không kiểm soát, nguồn nước bị ô nhiễm, các ao hồ nuôi phân tán, manh mún khiến cho việc thu mua cá nguyên liệu gặp nhiều khó khăn. Phần lớn diện tích mặt nước ở tỉnh ta đã giao khoán cho các hộ dân, nên khó tập hợp diện tích để nuôi tập trung, quy mô lớn.

Do những khó khăn trong quá trình sản xuất và đầu ra cá rô phi thương phẩm, nên hiện nay trên địa bàn tỉnh tỷ lệ số hộ nuôi đã giảm, nhiều hộ chỉ nuôi cầm chừng, thả cá xen ghép chứ không đầu tư, chăm sóc.

Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh giai đoạn 2024 – 2024, xác định cá rô phi là một trong 4 con nuôi chủ lực trong phát triển thủy sản của tỉnh và phát triển nuôi cá rô phi tập trung thâm canh xuất khẩu đến năm 2024 đạt 1.000 ha, năng suất 20 tấn/ha, sản lượng 20.000 tấn; đến năm 2025 là 1.500 ha, năng suất 20 tấn/ha, sản lượng 30.000 tấn, chủ yếu tại các vùng cá – lúa đã có hạ tầng đầu mối. Cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trong tỉnh, xuất khẩu sang thị trường Mỹ, các nước châu Âu…

Cá Tra Dầu – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Đặc điểm

Cá tra dầu có thể coi là loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới, thuộc họ cá tra, bộ cá da trơn. Kích thước của chúng lớn, chiều dài có thể lên đến 3 m và trọng lượng có thể đến 300 kg. Cá có đầu to và dẹp, miệng rộng với hai râu dài ở hàm trên, vây bụng dài đến vây đuôi, vây lưng nhỏ ở phía trước. Lưng cá có màu nâu thẫm, màu ở bụng và vây nhạt hơn. Mặc dù lớn nhưng cá tra dầu chỉ ăn thực vật thủy sinh. Cá có đôi mắt nằm thấp trên đầu và hướng xuống dưới, có màu trắng sang vàng ở phía dưới. Chúng được phân biệt với các loại cá da trơn khác bởi râu kém phát triển hơn và không có răng.

Cá tra dầu có tập tính di cư sinh sản, chúng thường di chuyển từ tháng 10 đến tháng 12, từ hồ Tonle Sap ở Campuchia vào sông Cửu Long, từ đó nó tiến ngược dòng vào phía Đông Bắc Campuchia, Lào và Thái Lan để đẻ trứng. Chúng sử dụng các thực vật phát triển trong nước làm thức ăn. Đây là loài đặc hữu đối với lưu vực sông Mê kông chảy qua Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc. Cá tra dầu chủ yếu được tìm thấy ở hồ Tonle Sap và sông Mê Kông.

Hiện trạng

Cá tra dầu đã từng phân bố rộng rãi dọc lưu vực, từ Myanmar cho tới tây nam Trung Quốc. Cho đến đầu những năm 1990, quần thể loài này vẫn còn tương đối dồi dào. Từ đó tới nay, số lượng loài này đã bị giảm mạnh, và chỉ được tìm thấy tại sông Mê Kông và các nhánh của nó tại Lào, Campuchia và Thái Lan. Tính riêng trong thế kỷ qua, sản lượng cá tra dầu trên sông Mê Kông giảm đến 95%, và đứng trước bờ vực tuyệt chủng. Chúng được phân loại là rất nguy cấp trong Danh sách đỏ IUCN 2004, được liệt kê trong Phụ lục I của Công ước về Bảo tồn di cư loài động vật hoang dã và Phụ lục I của Công ước CITES. Theo nghiên cứu Dự án bảo tồn cá Mê Kông hợp tác với Bộ Thủy sản Campuchia tiến hành nghiên cứu vào năm 2001, đã cung cấp bằng chứng việc nạo vét, xây dựng đập đã phá hủy các bãi đẻ của cá tra dầu, đồng thời cản trở sự di chuyển và không gian sống của chúng.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính dẫn đến quần thể cá tra dầu sông Mê Kông đã bị suy giảm mạnh do việc đánh bắt quá mức. Hiện, để bảo vệ loài cá tra dầu, ở một số nước như Thái Lan, Lào và Campuchia đã ban hành luật cấm khai thác loài cá này. Nhưng, tại nhiều ngôi làng hẻo lánh, dọc theo sông Mê Kông, người dân vẫn không thực thi điều luật này.

Giới khoa học chỉ biết đến loài cá này từ năm 1930 khi nó được “khám phá” tại một chợ cá ở Phnôm Pênh (Campuchia) và cho đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về loài cá này. Vào năm 2005, một cơ quan thủy sản Thái Lan đã bắt và nuôi giữ được một con cá tra dầu, có chiều dài 3 m và nặng 200 kg để nuôi giữ, và tiến hành sinh sản nhân tạo. Nhưng, cá đã chết trong khi nuôi nhốt và được bán làm thực phẩm cho người dân địa phương.

Cá tra dầu không thể nuôi nhốt mà chỉ đánh bắt được ngoài môi trường tự nhiên. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong cá tra dầu có lượng Omega 3 dồi dào nên rất bổ dưỡng cho não.

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Bước Tiến Về Dinh Dưỡng Cá Rô Phi – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!