Xu Hướng 11/2022 # Người Nuôi Cá Chình, Cá Bống Tượng Lại Chờ Giá / 2023 # Top 17 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Người Nuôi Cá Chình, Cá Bống Tượng Lại Chờ Giá / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Người Nuôi Cá Chình, Cá Bống Tượng Lại Chờ Giá / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Là một đối tượng nuôi kinh tế chủ lực của xã Tân Thành, nhưng hiện nay con cá chình lại nằm “chờ giá”.

Bà con nông dân nuôi cá chình, cá bống tượng trong tỉnh vừa mới tìm lại niềm vui chưa lâu sau một khoảng thời gian dài giá cá chình và cá bống tượng tuột dốc thê thảm, thì nay một lần nữa đối mặt với tình trạng thua lỗ vì giá cá sụt giảm, thương lái ngưng thu mua do tác động từ tình hình dịch bệnh Covid-19.

Xã Tân Thành (TP. Cà Mau) được xem là “cái nôi” của nghề nuôi cá bống tượng và cá chình, có số hộ nuôi lớn nhất tỉnh. Hiện toàn xã có hơn 230 hộ nuôi cá chình và gần 1.000 hộ nuôi cá bống tượng, với tổng diện tích trên 243ha. Đây là những hộ có diện tích nuôi tương đối lớn và lớn. Bà Trịnh Thanh Thùy – Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết hầu như nhà nào cũng có từ 1 – 2 ao nuôi cá “để ống”.

Là người có hơn 35 năm kinh nghiệm trong nghề nuôi cá chình và cá bống tượng, hiện đầu tư 15 ao nuôi cá chình và cá bống tượng với diện tích gần 2ha, ông Lê Ngọc Phé (Ấp 4) cũng lắc đầu ngao ngán trước tình hình hiện nay. Ông Phé cho biết, thông thường vào khoảng tháng 10 – 12 (âm lịch) hàng năm, nông dân bắt đầu lên hầm, thu hoạch cá. Đây cũng chính là thời điểm “vàng” để thả nuôi lại vụ mới. Đa phần các hộ sẽ thu hoạch trước Tết Nguyên đán để có tiền ăn tết. Nhưng do giá cá năm nay có phần giảm so với năm trước, nên có rất nhiều hộ trên địa bàn xã Tân Thành chọn cách trữ lại, chờ cá lên giá sau tết.

Được biết, hầu hết các thương lái thu mua cá rồi xuất sang thị trường Trung Quốc nên khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát, thị trường Trung Quốc đóng băng, thương lái ngưng thu mua khiến giá cá sụt giảm mạnh. Nhiều hộ trữ lại đứng trước cảnh nuôi tiếp không được, mà bán cũng không xong.

Nhiều hộ trữ cá chờ giá lên bán sau tết đang đứng trước cảnh nuôi tiếp không được, mà bán cũng không xong.

Ông Phé tính: “Ước tính mỗi hầm sẽ thu từ 100 – 150 triệu đồng; 7 hầm cá của tôi khi thu hoạch, trừ hết chi phí, lãi khoảng 700 triệu đồng. Nhưng vì giá cá giảm nên chỉ thu về được hơn 300 triệu đồng. Lỗ tiền công”.

Ngụ cùng ấp, ông Hồng Thanh Tân còn 10 ao chưa thu hoạch. Ông không chọn phương án “bán tháo” mà trữ lại chờ cá tăng giá. Ông Phước chia sẻ: “Thời điểm trước tết, sợ cảnh bị thương lái ép giá nên tôi đợi qua tết chờ cá được giá, nhưng không ngờ dịch bệnh bùng phát, giờ đành nuôi tiếp chứ biết tính sao”.

Ghi nhận từ các hộ nuôi, giá cá bống tượng trước tết dao động từ 340 – 380 ngàn đồng/kg thì hiện nay chỉ còn 290 ngàn đồng/kg. Giá cá chình trước tết khoảng 420 – 500 ngàn đồng/kg, giờ chỉ còn khoảng 400 ngàn đồng/kg. Dù giá cá giảm sâu nhưng thương lái vẫn ngưng thu mua, vì không có thị trường tiêu thụ, nên giờ người dân muốn bán cũng không được, còn trữ lại nuôi tiếp thì phải đối mặt với thua lỗ. Ông Tân cho biết, giá cá mồi hiện nay khoảng 17.000 đồng/kg, với 10 hầm cá hiện nay của gia đình thì tốn lượng rất lớn thức ăn cho cá. Ngoài ra, người nuôi còn đối mặt với việc thương lái sẽ ép giá khi cá có kích cỡ lớn.

Niềm vui được giá chưa được bao lâu thì người nuôi cá chình, cá bống tượng phải đối mặt với thua lỗ khi ảnh hưởng tình hình dịch bệnh Covid-19 tại Trung Quốc, vốn là thị trường tiêu thụ chính.

Cái khó nữa là hiện nay tình hình hạn hán và xâm nhập mặn kéo dài, lượng nước trong các ao nuôi cá đang dần cạn kiệt. Anh Phạm Hồng Phước, cán bộ khuyến nông xã, cho biết: “Rút kinh nghiệm từ mùa khô năm 2016, nên có rất nhiều hộ chủ động nguồn nước, đào nhiều ao sâu để trữ nước. Vì đa phần các hộ nuôi xa nhà, nên không thể tận dụng nguồn nước từ giếng khoan mà phải đào 1 hoặc 2 ao thật sâu để trữ nước khi cần dùng. Ngoài ra, có những hộ tạo bóng mát bằng cách che nhiều lớp lá dừa trên mặt ao cho cá mát”.

Tuy nhiên, dù có kinh nghiệm từ trước, nhưng với tình hình hiện nay, lượng cá trong ao nuôi còn rất nhiều, mà nước càng bốc hơi nhanh, lượng nước trong ao sẽ giảm, dẫn đến tình trạng thiếu ôxy, rất nguy hiểm cho sự sinh trưởng của cá. Bà Trịnh Thanh Thùy cho biết: “Tình hình dịch bệnh đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, sản xuất của người dân trên địa bàn xã. Chính quyền xã hiện nay ngoài nắm thông tin về diện tích nuôi thì cũng đang tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho bà con”.

Nguồn: Theo Báo ảnh Đất MũiVui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khi sao chép bài viết này.Liên hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác về email [email protected]Nhấn nút “quan tâm” nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.

Nông Dân Lao Đao Vì Cá Bống Tượng, Cá Chình Rớt Giá / 2023

Nông dân lao đao vì cá bống tượng, cá chình rớt giá

Gần một năm nay, cá bống tượng và cá chình liên tục giảm giá, khiến hàng ngàn hộ dân nuôi cá ở Cà Mau rơi vào cảnh lao đao.

Gần một năm nay, cá bống tượng và cá chình liên tục giảm giá, khiến hàng ngàn hộ dân nuôi cá ở Cà Mau rơi vào cảnh lao đao.

Nhiều hộ nuôi cá bị vỡ vì đầu tư vốn lớn nhưng lại bán cá với giá rẻ như cho.

Giá cá bống tượng và cá chình giảm mạnh do cung vượt cầu và thị trường xuất khẩu không ổn định ở một số nước châu Á và Trung Quốc. Điều đáng nói, trong khi giá mua con giống, thức ăn tăng cao thì giá bán cá thương phẩm không những giảm mạnh mà còn bị thương lái ép giá.

Trước đây, cá bống tượng có trọng lượng từ 0,5-0,9kg/con được thương lái tính giá thu mua loại 1, nay cá loại 1 bị giới hạn trọng lượng chỉ còn 0,5-0,6kg, cá có trọng lượng hơn 0,6-0,9kg/con trở thành cá loại 2; cá chình có trọng lượng 4-5kg/con có giá bán 2-3 triệu đồng/con nay giảm xuống còn 1-1,5 triệu đồng/con.

Ông Tô Văn Lực, nông dân ở ấp 4, xã Tân Thành, thành phố Cà Mau cho biết mặc dù hiện nay giá cá giảm mạnh nhưng các hộ dân vẫn phải bán tháo để giảm bớt chi phí mua thức ăn nuôi cá hàng ngày cũng như hạn chế rủi ro xảy ra dịch bệnh ở cá. Ngoài ra, việc áp đặt trọng lượng cá bống tượng của thương lái như hiện nay sẽ gây nhiều bất lợi cho nông dân. Nếu như giá cá trong thời gian tới không được cải thiện thì nhiều hộ dân nuôi cá ở Cà Mau sẽ lâm nợ hoặc treo ao.

Ông Trịnh Cao Găng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tân Thành, thành phố Cà Mau cho biết nuôi cá trình, cá bống tượng là ngành nghề truyền thống và tạo nguồn thu nhập chính cho hàng ngàn hộ dân trong xã. Do vậy, chính quyền địa phương vận động người dân không nên cải tạo ao thả nuôi vụ mới, mà tập trung tìm đầu mối tiêu thu nội địa.

Bên cạnh đó, các ngành chức năng của tỉnh cần có động thái tích cực để cứu nguy nghề nuôi cá bống tượng và cá chình ở Cà Mau. Tình trạng nuôi cá ồ ạt tư phát như hiện nay, nếu không được chấn chỉnh khắc phục sẽ dẫn đến hậu quả cung vượt cầu, giá cả thiếu ổn định làm ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người nông dân./.

Kỹ Thuật Nuôi Cá Bống Tượng / 2023

Kỹ thuật nuôi cá bống tượng thương phẩm ( Oxyeleotris marmoratus Bleeker)

1. Nuôi CBT ở ao:

a. Chọn ao nuôi CBT:

Có vị trí phải gần nơi có nguồn nước sạch dồi dào, cung suốt thời gian nuôi cá (nước pH 7-8,3, nước không bị nhiễm độc, nước có cây), ao có nước lưu thông tốt thì nuôi mật độ nuôi càng cao. Đất phải giữ được nước, đất không có phèn tiềm tàng. Ao có nước thủy triều lên xuống hàng ngày nuôi cá càng tốt. Ao có diện tích 50-2000m vuông tốt nhất 300-400m vuông, nước sâu trung bình 1,5-1,8m.

b. Cải tạo ao nuôi CBT:

+ Sên vét sình bùn còn đến đáy trơ, nơi không có nước phù sa, đáy ao còn lớp bùn loãng 0,1m.

+ Xâm chặt các hang, mội, tu sửa bờ đập cao hơn mực nước cao nhất hàng năm 0,5m.

+ Ao có bộng, đầu cấp nước vào, đầu thoát nước ra càng tốt. Nếu bộng ở về một phía thì có bộng dưới thoát nước đáy ao ra, bộng trên lấy nước từ mặt sông vào hoặc có thể làm một bộng nhựa ở sát đáy ao có co điều tiết nước theo yêu cầu.

+ Bón vôi bột 7-15kg/100 m vuông ao tùy đất ao phèn nhiều ít, phơi nền đáy ao được 3-7 ngày càng tốt.

c. Giống CBT:

– Chọn giống CBT tốt: cá đều cỡ, cá khỏe mạnh, không thương tật, dị hình, cá không bị chích điện, mắc câu, mắc lưới.

+ Đầu và mình cá cân đối, màu sắc sáng rõ. Cá không có vết trầy, vết do các vật bám, nguyên đuôi và vi, cá còn nguyên nhớt. Bụng và rốn cá không đỏ. Cá không có ký sinh trùng đeo bám. Lật ngửa cá lên thì thấy cá phồng mang, đuôi xòe. Cá đang ở trong nước thì nằm sát đáy. Ngâm cá vào xanh metylen thì không có vết thấm màu.

Chọn giống CBT tốt để nuôi có ý ngĩa rất quan trọng cho thành công nuôi cá, nếu còn cá yếu, cá bệnh sẽ lây lan cả đàn cá nuôi. Khi đem CBT về, không nên thả thẳng vào nơi nuôi mà tiếp tuyển chọn lần cuối: Cho các vào một phạm vi nhỏ một góc ao mương, thời gian 10-15 ngày, cho cá ăn đủ, kiểm tra cá khỏe, tốt thì thả nuôi chung với nhau.

– Cỡ CBT đều cỡ: 50-70g, 80-100g, 110-150g, 160-200g nuôi chung một nơi cá lớn đều hơn.

+ Mật độ cá nuôi 3-10 con/m vuông: Nơi nước lưu thông liên tục 8-10 con/m vuông, nơi nước lưu thông theo thủy triều 4-5 con/m vuông, nơi có nước lưu thông ít 1-2 con/m vuông. Cá trước khi thả vào ao được tắm bằng nước muối 2-3g/ lít 10-15 phút hoặc formol 25ml/m khối nước, thuốc tím 20g/m khối nước 15-30 phút, nếu còn ký sinh trùng gỡ bằng tay.

– Trong ao nuôi CBT còn thả nuôi ghép cá tép làm thức ăn ở tại chỗ cho cá:

+ Ương nuôi tép ở ao nuôi CBT.

+ Ương nuôi cá sặt bướm, cá bảy màu chung với CBT.

+ CBT sống ở đáy, thích ăn các loài cá sống ở đáy: cá trôi Ấn Độ, cá hường. Thả thử 10% cá sống làm thức ăn, sau 5 ngày cá trôi và cá hường không còn, riêng cá mè Vinh còn một phần. Nếu các giống cá trên giá thành sản xuất 5000-7000đ/kg, hệ số thức ăn là 6 thì nuôi CBT vẫn còn lời.

d. Cho CBT ăn:

– Nuôi ghép cá tép tạo thức ăn ở tại cỗ cho CBT.

– CBT thích ăn thức ăn tươi sống, thức ăn ương thối cá không ăn, cá có ướp chất hóa học cá thường bị bệnh, cắt thức ăn vừa cỡ cho cá ăn, bỏ ruột.

– Tùy thực tế mà tăng giảm lượng thức ăn, cho ăn thức ăn vào sàn, kiểm tra sau 1 giờ, cho cá ăn ngày 3 lần sáng, chiều và tối.

– Cỡ cá nhỏ hơn 10g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 8-12.

– Cỡ cá 10-12g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 6-10.

– Cỡ cá 20-50g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 4-8.

– Cỡ cá 50-100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3,5-6.

– Cỡ cá 100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3-5.

e. Quản lý chăm sóc CBT nuôi:

– Thường xuyên thay nước sạch cho CBT, loại bỏ nước dơ: nếu sử dụng nước thủy triều thì khi nước ròng 2/3 sông chênh lệch nước ao và sông lớn, rút bộng ra nước chảy mãnh thải các chất dơ từ đáy ao ra sông. Khi nước lớn 2/3 sông, lấy nước mới vào, nước sông lớn đã hòa loãng giảm độ dơ, lấy nước sạch vào ao, kích thích cá phat triển. CBT nuôi ở nước tốt lớn nhanh hơn nước xấu, nuôi ở nước lưu thông lớn nhanh hơn nước tĩnh 24-29% và nước lưu thông nhiều nuôi mật độ càng cao.

– Đảm bảo chất lượng thức ăn là động vật cho CBT là tươi, không ướp hóa chất, số lượng cho ăn đủ, không để thức ăn dư.

– Tạo điều kiện cho cá bắt mồi liên tục, ngày và đêm: cá thường sống ở đáy làm thức ăn tự nhiên cho cá hoặc đưa cá sống từ đáy ao sang mé ao, bằng tạo mé cỏ tối nước nước dầy ở từng đoạn mương ao (thả lục bình ở nơi yên tĩnh). Khi cá đã sống ở mé ao, cá giảm bệnh, cá tép con ban ngày trú vào rong cỏ sẽ làm mồi ăn trực tiếp cho CBT. Nuôi CBT mà cá không có đớp mồi ban ngày là điều kiện sống ở ao mương chưa tốt.

– CBT là cá dữ nhưng nhát, ban ngày nằm sát đáy ao, hay hốc nên dễ bệnh ký sinh trùng (mỏ neo, rận cá,…) làm cá chậm lớn. Dùng lá xoan bó thành bó treo ở đầu cống nước ra vào hoặc dùng Dipterex (Dipterex la thuoc thu y thuy san da duoc bo thuy san cam su dung trong san xuat kinh doanh thuy san theo quyet dinh 07/2005/QD-BTS ngay 24/02/2005) liều lượng 0,7-10g/m khối nước tắm cá 10-15 phút, sau đó cho nước mới vào, cứ 3 ngày làm một lần đến khi cá hết bệnh.

– Nuôi CBT ở ao nếu tạo điều kiện cho cá ăn và nước tốt, lưu thông thì cá lớn như nuôi ở bè, cá ít bệnh so với bè.

f. Thu hoạch CBT:

– Thu tỉa thì dùng lọp, thả mồi bắt.

– Thu cuối vụ thì tát cạn, CBT thường lặn sâu vào đáy bùn có khi đến 1m, khó bắt. Cần tát cạn vào chiều mát, mò bắt sơ bộ CBT có ở ao, sau đó dùng chuối cây trang ao cho bằng, cho nước vào 5cm, nửa đêm và gần sáng CBT ngóc nằm ở mặt bùn, dùng đèn soi bắt. Có nơi còn dùng dòng nước chảy bắt cá vào đêm.

2. Nuôi CBT ở ao gắn với bè lồng:

Do điều kiện nuôi ở từng nơi, nuôi ở lồng thì vào mùa khô lượng nước ở sông rạch thấp, nước thường bị ô nhiễm, nuôi CBT thường dễ bị bệnh và cá chậm lớn, thời gian này lồng bè thường được sửa chữa và nuôi loại cá khác. CBT thịt được nuôi ở ao vào thời gian này, cá đạt cỡ 200-300g. Khi nước ở sông rạch tốt, đưa cá nuôi từ ao mương ra lồng bè nuôi vỗ béo để cá lớn nhanh, sạch, bán được giá cao. Cần có kết hợp chặt chẽ nuôi CBT ở ao và lồng bè là nâng cao hiệu quả của nuôi CBT. Kỹ thuật như phần nuôi ở ao và ở lồng bè.

3. Nuôi CBT ở ruộng lúa:

– Ruộng lúa nuôi cá trắng (mè trắng, chép trôi, mè vình, rô phi, hường …) các loại cá này chủ yếu ăn rong cỏ, mùn bả hữu cơ, sinh vật phù du. Chưa có loại cá ăn tép, cá tạp, động vật nhỏ có ở trong nước, khi đó loại cá tép con ngày có ở trong ruộng lúa rất nhiều. Khi chuẩn bị vụ lúa Đông Xuân mỗi ha có từ vài chục đến vài trăm kg cá tép vụn có thể làm thức ăn tốt cho CBT.

– Mật độ thả ghép: 1 con/5-10m vuông ruộng.

– Tạo điều kiện cho CBT ăn mồi tự nhiên ó ở ruộng: từng đoạn mương bao, chọn nơi êm, thả lục bình dầy làm nơi tối nước để CBT sống, cá tép tự nhiên vào cỏ trú, làm mồi ăn tự nhiên cho CBT.

– Cuối vụ thu hoạch cá trắng, có sản lượng cao, giá trị thấp, song giá trị CBT nuôi ghép lại cao hơn hẳn cá trắng nuôi chính.

4. Nuôi CBT ở lồng bè.

a. Chọn nơi nuôi CBT:

– Nước sông rạch, hồ chứa sạch, có dòng chảy đều, nước tốt suốt thời gian nuôi, lưu tốc nước 0,2-1m/giấy. Nơi có đủ nguyên liệu làm thức ăn cho cá.

– Cần tránh: Nơi nước nông cạn, nước không chảy, không có gió. Nơi nước chảy quá mạnh, sóng to, gió lớn, tàu bè qua lại nhiều, có tiếng động mạnh và cản trở giao thông. Nơi có nguồn nước nhiễm bẩn thuộc nông nghiệp, chất thải từ đồng ruộng, công nghiệp, nước phèn, nước đen. Nơi khúc quanh cửa sông, mùn bả hữu cơ tích tụ nhiều. Nơi có quá nhiều rong cỏ. Nơi có quá nhiều lồng bè đặt gần nhau.

b. Thiết kế lồng bè:

– Nuôi CBT nên làm lồng bè loại nhỏ: 1×1,5×1,2m 3x4x1,5m dễ xử lý quá trình nuôi. Nguyên liệu có thể bằng tre gỗ.

– Bè đóng kín 3 mặt: đáy và 2 bên hông, mặt trước và mặt sau đóng lưới hoặc nẹp tre, gỗ có kẽ thưa.

c. Thời vụ thả cá:

– Tùy môi trường nước và giống CBT có ở từng nơi mà thời vụ thả cá nuôi có thay đổi, thông thường từ tháng 6-7 đến tháng 12.

– Cỡ cá theo quy cỡ của sản xuất cá giống hay bắt tự nhiên: 50-70g, 80-100g, 160-200g. Mật độ thả từ 20-80 con/ m vuông, thông thường 25-40 con/ m vuông.

– Chất lượng giống cá trước khi thả phải thật tốt, cá đều cỡ, cá được khử trùng bằng nước muối 3-4%, tắm trong 15-20 phút hoặc Malachite green (thuốc này đã bị cấm sử dụng theo QĐ 20/2003/QĐ-BTS) một phần triệu.

d. Thức ăn:

– Tận dụng thế mạnh thức ăn có ở địa phương: tôm tép, cá nhỏ, trùng, ốc, cua, … cho cá ăn trực tiếp. Thức ăn phải tươi, không được muối hóa chất. Khi nguồn thức ăn này giảm, giá cao, có thể thay một phần bằng thức ăn hỗn hợp.

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 55-60%

+ Dầu cá : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Công thức 2:

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 50-60%

+ Trùn đất băm nhỏ : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Lượng thức ăn hàng ngày 5-10% trọng lượng cá nuôi trong bè.

Thời gian cho ăn vào sáng sớm và chiều tối.

Thức ăn cho vào sàn, treo lơ lửng trong lồng bè, cách mặt nước 40-50cm. Mỗi bè lồng có 1-3 sàn ăn.

Có thể nuôi cá sống: cá săt, cá hường, cá trôi, rô phi, cá 7 màu, ốc, nhái làm thức ăn cho CBT.

e. Chăm sóc quản lý:

– Cho cá ăn đủ, đều, không để thức ăn dư thối.

– Hàng tuần cọ rửa lồng bè một lần và cọ vét thức ăn dư rơi vãi, phù sa ở đáy bè.

– Nếu cá bị bệnh trùng mỏ neo, dùng lá xoan bó thành bó để dưới đáy bè, nước lá xoan tiết ra làm trùng rơi khỏi cá.

– Nếu cá bị bệnh tuột nhớt, cuốn nhớt làm cá chết hàng loạt và nhanh chóng: cần chú ý nguồn nước qua bè nuôi chất phải tốt, không làm xây xát cá khi chuyển về bè. Thời kỳ đầu bệnh có vết trắng ở đuôi, sau đó lan dần toàn thân cá. Phòng bệnh không nên nuôi cá mật độ quá dầy, không làm xây xát cá. Dùng vôi bột 1-2kg/ m khối nước treo ở đầu nguồn nước: trị: ngâm cá trong clorua vôi nồng độ 1ppm. Tắm cá bằng Treptomycine 25mg/l trong 30 phút đến 1 giờ. Có thể dùng cao su bịt hai đầu bè cho thuốc vào bè tắm cá.

f. Thu hoạch:

– Cá nuôi sau 5-7 tháng đạt cỡ trên 400g/con thì thuhoạch.

– Hàng tháng nên đánh tỉa cá đạt tiêu chuẩn một lần. cá chưa đat nên tiếp tục nuôi và bổ sung giống.

– Cuối vụ thu hoạch tổng thể, vệ sinh bè lồng, chuẩn bị cho vụ nuôi sau.

Kỹ thuật nuôi thủy đặc sản nước ngọt – Dương Tấn Lộc – NXB TPHCM 1. Xây dựng ao:

– Ao nuôi nên đặt gần nguồn nước đế cấp và thoát dễ dàng.

– Vùng đất ít bị nhiễm phèn.

– Gần nhà để dễ quản lý và chăm sóc.

– Diện tích ao thích hợp từ 200-500m2, sâu 1,2-1,5m

2. Cải tạo ao:

– Sên vét bùn đáy, lấp kín hang hốc, lỗ mọi.

– Rào lưới xung quanh bờ ao, phòng tránh cá thoát ra ngoài.

– Bón vôi bung CaO từ 7-10kg/100m2 để nâng pH đất, diệt tạp và mầm bệnh.

– Diệt cá dữ bằng dây thuốc cá với liều lượng 1kg/70m3 nước. Sau đó lấy nước vào qua túi lọc bằng vải KT.

– Kiểm tra pH, khi pH đạt 7-8 thì tiến hành bón phân gây màu bằng:

+ Phân vô cơ: DAP + Urê (tỉ lệ 1:1) với liều lượng 2kg/1.000m2

+ Phân hữu cơ: phân chuồng đã ủ hoai (với 2-3% vôi CaO) liều lượng 80 kg/100m2

Sau khi bón phân khoảng 5-7 ngày thấy nước có màu xanh đọt chuối non (độ trong 40-50cm) thì tiến hành thả giống.

3. Thả giống:

Chọn cá khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, bơi lội linh hoạt, cơ thể không xây xát. Cá giống cỡ 10-12 con/kg, thả mật độ từ 2-3 con/m2.

Nên thả giống lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Cá mới mua về trước khi thả cần tắm qua dung dịch muối có nồng độ 2% trong thời gian 5-10 phút để loại trừ kí sinh và sát trùng vết thương do xay xát trong quá trình đánh bắt và vận chuyển.

4. Chăm sóc và quản lý:

– Thức ăn sử dụng cho cá là thức ăn tươi sống (tôm, tép, cá, thịt, ốc, hến…) được cắt nhỏ để cho cá dễ ăn (thức ăn cần được rửa sạch).

– Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm (6-7h) và chiều mát (18-19h), lượng thức ăn mỗi ngày bằng 3-5% tổng trọng lượng đàn cá trong ao.

– Dụng cụ cho cá ăn là sàng tre đan thưa, nhẵn hoặc bằng sàng lưới cước được đặt cách mặt nước 40-50cm.

– Sau khi cho cá ăn khoảng 30phút đến 1giờ kiểm tra lại sàng ăn để xem khả năng cá ăn mồi, qua đó điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp ở lần kế tiếp.

– Phải chà rửa sàng ăn mỗi ngày để tránh nấm, sinh vật ký sinh, vi khuẩn bám có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của cá.

– Thường xuyên kiểm tra bờ, cống, chống rò rĩ và mưa tràn bờ thất thoát cá. Cần kiểm tra pH của ao nhất là sau những trận mưa lớn.

– Hàng ngày thăm ao vào lúc sáng sớm quan sát hoạt động của cá và kiểm tra môi trường nước để có biện pháp xử lý kịp thời.

– Thường xuyên thay nước mới để đảm bảo nước tốt. Lượng nước thay khoảng 20% lượng nước có trong ao.

5. Phòng bệnh:

Định kỳ 10 ngày dùng vôi bột với liều lượng 5g/m3 hoà nước tạt để ngừa bệnh cho cá.

Thường xuyên bổ sung vitamine C để tăng sức đề kháng cho cá và định kỳ trộn tỏi vào thức ăn với liều lượng 4-5g/kg thức ăn để phòng bệnh đường ruột cho cá.

KS. Nguyễn Thị Thy Nga – Khuyến ngư Kiên Giang, 3/5/2006

Nhấn vào đây để xem các tin kỹ thuật nuôi cá bống tượng

Nuôi Cá Bống Tượng Ở Bạc Liêu / 2023

Nuôi cá bống tượng là mô hình đem lại giá trị kinh tế cao cho bà con nông dân Bạc Liêu; đang phát triển mạnh ở các huyện Giá Rai, Phước Long, Hồng Dân… KS Trần Thanh Hải, Phó trạm trưởng Trạm KN-KN huyện Phước Long giới thiệu cùng bà con nông dân một số kinh nghiệm cơ bản trong việc nuôi loại cá này.

Nuôi cá bống tượng ở Bạc Liêu 1. Công việc chuẩn bị: Thiết kế ao nuôi:

+ Diện tích: 100 – 500 m2.

+ Ao có dạng hình chữ nhật, chiều dài gấp 1,5 – 3 lần chiều ngang.

+ Độ sâu của ao từ 1,2 – 1,6 m.

+ Thiết kế đáy ao có chỗ cạn và chỗ sâu giúp quá trình hoạt động của cá tiện lợi.

Cải tạo ao:

+ Trước khi thả cá, ao phải được tát cạn, tẩy dọn sạch sẽ, vét hết bùn đáy, lấp và trám hết các hang hốc, trang bằng đáy.

+ Bón vôi CaO (vôi đá) với liều lượng 7 – 10 kg/100 m2 (tùy theo vùng đất mà bà con sử dụng lượng vôi cho phù hợp), phơi đáy ao 3 – 5 ngày.

+ Lấy nước vào ao qua túi lọc (vải katê) để hạn chế các loại dịch hại như trùng mỏ neo, rận cá xâm nhập vào ao nuôi.

+ Diệt khuẩn bằng một số hoá chất như: BKC liều lượng 5 ml/m3 nước hoặc thuốc tím 5 – 7g/m3.

Chọn giống thả nuôi:

– Cá giống phải khỏe, đều cỡ, màu sắc bóng sáng, không bị xây xát, dị tật.

– Loại bỏ những con giống có dấu hiệu bệnh lý như lở loét, tuột nhớt, vây đuôi bị đứt, trên thân có những chấm đỏ.

– Trước khi thả vào ao, tắm cá giống bằng formalin 250 ppm hoặc dung dịch nước muối (NaCl) 3% trong 3 – 10 phút để loại bỏ một số loại ký sinh trùng như trùng mỏ neo, rận cá, trùng bánh xe, sán lá.

Mật độ thả nuôi:

– Cá giống tự nhiên mật độ thả: 1 – 1,5 con/m2.

– Trọng lượng cá giống thả tốt nhất dao động từ 50 – 100 g/con:

+ Cá giống dưới 50 g thời gian nuôi dài, cá phân đàn lớn.

+ Cá giống lớn hơn 100 g tỉ lệ sống cao.

Quản lý thức ăn:

– Thức ăn chủ yếu cho cá bống tượng là động vật như tép, cá tạp, cua, ốc, trùng chỉ, trùn quế. Tùy điều kiện từng nơi, thức ăn có thể mua ở chợ hay tự thu gom từ tự nhiên, nhưng phải đảm bảo còn tươi và kích cỡ thức ăn cho cá ăn phải phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của cá nuôi.

– Khi cho cá ăn nên cho ăn ở nhiều chỗ, tránh tình trạng cá tranh ăn sẽ gây xây xát, tạo điều kiện cho mầm bệnh tấn công và cá lớn không đều.

– Làm sàn cho cá ăn để tiện quản lý lượng thức ăn và kiểm tra sức khỏe và sức tăng trọng của cá, theo khuyến cáo thì cứ 50 m2, bố trí 1 sàn ăn 1 m2.

– Lượng thức ăn cho ăn bằng 3 – 5% trọng lượng cơ thể cá (100 kg cá giống cần 3 – 5 kg thức ăn). Thông qua việc quan sát lượng thức trong sàn ăn ta có thể biết được lượng thức ăn thừa hay thiếu trong sàn để điều chỉnh lượng thức ăn mỗi ngày. Ngoài ra, có thể thả bổ sung một số loại thức ăn sống có kích thước nhỏ như tép trấu, cá bạc đầu, cá bảy màu, cá lòng tong vào ao nuôi làm thức ăn trực tiếp cho cá bống tượng.

– Ngày cho ăn một lần tốt nhất vào chiều mát.

– Thường xuyên trộn vitamin C nhằm tăng cường sức đề kháng cho cá khỏe mạnh và trộn men tiêu hóa vào thức ăn giúp cá tiêu hóa tốt thức ăn, cá mau lớn, rút ngắn thời gian nuôi.

Quản lý môi trường ao nuôi:

– Đặc điểm quan trọng đối với cá bống tượng là cá hoạt động chủ yếu về đêm, đồng thời cá nuôi rất nhạy cảm với sự tác động hay thay đổi của điều kiện môi trường, do vậy trong quá trình nuôi, cố gắng giữ môi trường ít biến động.

– Môi trường nuôi thích hợp với cá bống tượng: pH 7 – 8,5; độ mặn: 0 – 7‰; độ kiềm 80 – 150 ppm; nhiệt độ 26-32 độ C; mực nước ao nuôi phải luôn duy trì độ sâu từ 1,2 – 1,6 m.

– Để giữ môi trường nuôi luôn sạch và ổn định, từ tháng nuôi thứ 3 trở đi nên định kỳ 15 ngày thay nước một lần, mỗi lần khoảng 30% lượng nước trong ao nuôi (thay nước tầng đáy càng tốt). Sau khi thay nước một ngày, dùng hóa chất như virkon để xử lý nước, sau đó 5 -7 ngày sử dụng các chế phẩm sinh học, men vi sinh như EMC xử lý đáy ao để hạn chế bị ô nhiễm và môi trường ổn định.

– Phải thường xuyên theo dõi tình trạng sức khoẻ của cá thông qua việc quan sát bằng mắt và lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày. Khi cá có biểu hiện bệnh phải tiến hành điều trị ngay thì mới đạt hiệu quả cao.

2/ Một số bệnh thường gặp và cách phòng trị: Bệnh đốm đỏ:

– Nguyên nhân và triệu chứng: Do vi trùng Pseudomonas hay Aeromonas gây ra.

– Dấu hiệu: Thân và vùng bụng bị xuất huyết, vảy dựng lên, các gốc vây xuất huyết và ứ nước vàng. Bụng cá trương to, chứa dịch và đỏ bầm. Ở một số cá bệnh mắt, hậu môn lồi ra, một số vây cá bị rách xơ xác dần dần bị rụng, bên trong thịt ứ máu và mủ. Cá lội lờ đờ, chậm chạp, ít ăn hoặc bỏ ăn.

– Cách phòng: Không nuôi mật độ quá dày, cho ăn đầy đủ về số lượng và chất lượng, môi trường ao nuôi luôn giữ ổn định và sạch sẽ. Định kỳ 15 ngày tạt vôi bột CaCO3 với lượng 4 kg/100 m3 (vôi hoà tan trong nước tạt đều khắp ao).

– Trị bệnh: Sử dụng kháng sinh sulphamid 4g/1 kg thức ăn và Vitamine C 4g/1kg thức ăn, thuốc được trộn vào thức ăn, cho ăn liên tục từ 5 – 7 ngày. Ngày thứ 3 có thể giảm lượng thuốc xuống một nửa.

Bệnh ngoại ký sinh:

– Nguyên nhân và triệu chứng: Bệnh do các sinh vật rất nhỏ bám vào mang, da của cá để hút máu hoặc chất dinh dưỡng gây nên những vết thương, xuất huyết. Khi bị bệnh màu sắc cá trở nên nhợt nhạt, cá thích tập trung ở nơi có đường nước chảy. Bệnh xuất hiện khi mật độ nuôi dầy, điều kiện vệ sinh kém, mưa kéo dài, thời tiết lạnh.

– Phòng bệnh: Thả nuôi mật độ vừa phải, tránh để ao bị ô nhiễm. Khi lấy nước vào ao nuôi phải qua túi lọc để hạn chế các loại ký sinh trùng như trùng mỏ neo, rận cá… xâm nhập vào ao nuôi. Khi lấy nước vào ao để khoảng từ 7 – 10 ngày để các loại trứng ký sinh nở thì ta tiến hành diệt tạp bằng hoá chất như đồng sunphat (CuSO4), liều dùng 0,5 g/1m3.

– Trị bệnh: Dùng thuốc trị bệnh ký sinh trùng như đồng sunphat (CuSO4), liều dùng 0,5 g/1m3. Sau 3 ngày thay 50% nước và xử lý lại lần nữa. Kết hợp với sử dụng kháng sinh Hadaclean với liều: 4g/kg thức ăn hoặc Vime – Clean với liều: 4g/kg thức ăn, cho ăn liên tục 5 – 7 ngày.

Bệnh lở loét (hội chứng lở loét):

– Nguyên nhân: Do nhiều nguyên nhân kết hợp như siêu vi (virus), vi khuẩn, nấm thuỷ mi, giáp xác ký sinh, môi trường nước quá dơ bẩn, nhiệt độ thay đổi.

– Triệu chứng: Cá ít ăn hoặc bỏ ăn, hoạt động lờ đờ, bơi nhô đầu lên mặt nước, da cá nhợt nhạt và xuất hiện các vết loét dần dần lan rộng có thể ăn sâu đến xương. Cơ quan nội tạng hầu như không bị thương tổn.

– Phòng bệnh: Luôn giữ môi trường sạch, định kỳ 15 ngày tạt vôi bột CaCO3 với liều 4 kg/100 m3 (vôi hoà tan trong nước tạt đều khắp ao) hoặc dùng các hoá chất diệt khuẩn như Virkon A, thuốc tím xử lý nước định kỳ 20 ngày/lần. Khi trong khu vực xảy ra dịch bệnh cần hạn chế thay nước hoặc khi thay nước phải được khử trùng trước khi đưa vào ao nuôi.

– Trị bệnh: Dùng thuốc tím với liều 5g/m3 kết hợp với muối ăn 0,3 kg/m3 tạt xuống ao để xử lý nước. Đồng thời dùng kháng sinh Sulphamix hoặc Vimerocin trộn vào thức ăn với liều 4g/kg thức ăn, cho ăn liên tục từ 5 – 7 ngày.

Bệnh mất nhớt:

– Nguyên nhân và triệu chứng bệnh: Dễ xuất hiện khi cá bị xây xát, bị sốc do đánh bắt vận chuyển hoặc do môi trường thay đổi đột ngột. Khi bị bệnh khắp da cá có một lớp nhớt dày bao phủ. Cá tách đàn, bơi lội yếu ớt. Cá kém ăn hoặc bỏ ăn. Trên thân từng vùng bị trắng. Bệnh nặng cá chết chìm xuống đáy ao.

+ Khi vận chuyển cá không làm xây xát, không nên nuôi hoặc nhốt cá ở mật độ quá dầy.

+ Tránh các yếu tố gây sốc cho cá, định kỳ hoặc trước những cơn mưa to tạt vôi bột CaCO3 với liều 2 kg/100m3 và vi sinh vào ao nuôi để ổn định môi trường nước.

– Trị bệnh: Dùng Vime-Iodine với liều 1 ml/1m3 để khử trùng nguồn nước, đồng thời kết hợp trộn kháng sinh Vime-fenfish vào thức ăn với liều 3 ml/1kg thức ăn, cho ăn liên tục từ 5 – 7 ngày, hay trộn Osamet Fish liều lượng 5g/kg thức ăn.

Bệnh nấm thuỷ mi:

– Triệu chứng: Khi nấm mới ký sinh, mắt thường khó nhìn thấy, phần cuối của sợi nấm đâm sâu vào thịt cá, phần đầu sợi nấm lơ lửng trong nước. Khi bệnh phát triển nhiều trên thân cá xuất hiện những đám bông màu trắng. Cá có cảm giác ngứa ngáy, thân cá gầy, đen sẫm. Nấm ngày càng phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập làm bệnh nặng thêm.

– Phòng bệnh: Tạo điều kiện sống thuận lợi cho cá, nhất là vào những lúc trời lạnh, giữ môi trường ao nuôi luôn sạch, không để cá bị suy dinh dưỡng (thiếu ăn), không nuôi mật độ quá dầy hoặc làm cá bị xây xát.

– Trị bệnh: Dùng thuốc tím (KMnO4) tạt xuống ao liều 5g/m3 nước, đồng thời kết hợp trộn kháng sinh Vime-Clean liều lượng 5g/kg thức ăn, cho ăn liên tục từ 5 – 7 ngày.

Cập nhật thông tin chi tiết về Người Nuôi Cá Chình, Cá Bống Tượng Lại Chờ Giá / 2023 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!