Xu Hướng 1/2023 # Kỹ Thuật Ương Nuôi Cá Con Ao Nước Tĩnh Chuẩn, Đúng Khoa Học # Top 2 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Kỹ Thuật Ương Nuôi Cá Con Ao Nước Tĩnh Chuẩn, Đúng Khoa Học # Top 2 View

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Ương Nuôi Cá Con Ao Nước Tĩnh Chuẩn, Đúng Khoa Học được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trong khoảng 2 – 3 ngày kể từ khi cá con chui ra khỏi vỏ trứng, chúng được nuôi dưỡng bằng khối noãn hoàng chứa đầy các chất dinh dưỡng. Khi sử dụng hết khối noãn hoàng, chúng bắt đầu biết tìm thức ăn ngoài môi trường xung quanh. Từ ngày thứ 4 sau khi nở, nếu không được cung cấp thức ăn, cá con sẽ bị chết rạc.

Trong gia đoạn còn nhỏ, cơ thể cá yếu, rất dễ bị các sinh vạt địch hại tấn công, sức chịu đựng với những yếu tố môi trường bất lợi rất yếu. Do vậy, cần có những biện pháp kỹ thuật đặc biệt để bảo vệ cá con tránh khỏi những tác động xấu từ môi trường.

Ương cá con là quá trình quản lý và chăm sóc dàn cá con từ khi chúng biết sử dụng thức ăn bắt ngoài môi trường đến khi chúng đủ kích thước con giống để thả nuôi cá thương phẩm.

Do đặc tính dinh dưỡng và khả năng thích ứng với môi trường sống của cá con khác nhau ở mỗi giai đoạn phát triển, người ta đã chia tuổi cá con thành 3 giai đoạn phát triển là cá bột, cá hương và cá giống. Cá bột là cá con mới nở, cá giống là cá đủ kích thướng thả nuôi cá thương phẩm. Vì vậy, kỹ thuật ương cá con sẽ có 2 giai đoạn: ương cá bột thành cá hương và ương cá hương thành cá giống. Việc phân chia quá trình ương cá con thành 2 giai đoạn như trên thực chất là thay đổi các biện pháp chăm sóc và quản lý sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của cá, nhằm nâng cao tỉ lệ sống và chất lượng cá thu hoạch.

    Ương cá bột thành cá hương

    Trong giai đoạn phát triển từ cá bột thành cá hương, cơ thể cá phát triển chưa hoàn chỉnh như cá thịt, một số cơ quan như vây, vẩy, bóng khí, cơ quan tiêu hóa… phát triển chưa đầy đủ. Khả năng vận động trốn chạy kẻ thù và chống chịu với các biến động xấu của môi trường rất yếu.

    Ở giai đoạn ương cá bột thành cá hương, đa số các loài cá có chung nguồn thức ăn là thực vật phù du và động vật phù du cỡ nhỏ. Sau giai đoạn này, chúng có sự thay đổi tính ăn. Cá bắt đầu có tính chọn loại thức ăn giống như cá trưởng thành.

    Trong giai đoạn ương cá bột thành cá hương cần lưu ý các biện pháp kỹ thuật bảo vệ cá tránh các tác động của địch hại và môi trường, gây nuôi thức ăn tự nhiên và bổ sung thức ăn cho cá.

    1.1. Chọn ao ương

    Ngoài những điều kiện cần có để lựa chọn một ao nuôi nhưng đã trình bày ở phần trên, người ương cá con cần chú ý một số yêu cầu kỹ thuật nhằm nâng cao tỉ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cá.

    Nguồn nước

    Do sức đề kháng và chống chịu với môi trường của cá con rất yếu. Vì vậy, ao ương phải có nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm về mặt hóa hoạc và không tồn tại các loại sinh vật có thể gây hại cho cá con, đặc biệt là cá dữ và nòng nọc ếch nhái…

    Nhu cầu trao đổi chất của cá con rất lớn, đặc biệt nhu cầu không gian hoạt động của cá con ngày càng mờ rộng, nên ao ương phải có nguồn nước chủ động bơm thay nước và bổ sung nước trong các trường hợp: điều chỉnh màu nước ao, gia tăng lượng ôxy hòa tan, tăng thể tích nước và không gian hoạt động của cá con.

    Chất đáy

    Chất đáy có khả năng tích trữ và bổ sung chất dinh dưỡng cho ao, cũng có thể chất đáy gây ô nhiễm cho môi trường ao ương. Do vật, nên chọ các ao có chất đáy là đất bùn để ương cá con. Không nên chọn các ao có chất đáy nhiều cát, rất khó gây màu nước. Độ dày của lớp bùn qua mỏng sẽ khó gây màu, cá con thiếu thức ăn. Nếu bùn quá dày thì ao ương dễ bị ô nhiễm, nên chọn các ao có độ dày bùn từ 15 – 25cm.

    Diện tích

    Độ sâu

    Trong quá trình ương cá con, độ sâu thực tế của các ao ương chỉ cần 80 – 100cm. Tuy nhiên, ao ương cần có bờ cao, trong các điều kiện bất lợi như mật độ cao, màu nước quá đậm, cá nổi đầu hay trời nắng gắt làm cho nhiệt độ nước tăng cao, ao ương vẫn có thể nhận nước bổ sung lên đến độ sâu 1 – 1,2m.

    Ánh sáng

    Thức ăn chủ yếu của cá con là sinh vật phù du. Vì vậy, các ao ương nhất thiết phải có điều kiện thông thoáng, đầy đủ ánh sáng để tảo nước và động vật phù du phát triển. Khi chọn ao ương, nên chọn các ao không bị che khuất bởi các công trình xây dựng hay cây có tán rộng. Người nuôi cá cần phải phát quang các bờ bụi, tán cây che khuất ánh sáng của ao ương. Các ao ương xây dựng mới nên bố trí theo hướng Đông – Tây để ao có điều kiện nhận được nhiều ánh sáng nhất trong ngày.

    1.2. Chuẩn bị ao ương

    Việc chuẩn bị ao ương để ương cá bột thành cá hương cơ bản tuân theo các bước kỹ thuật chuẩn bị ao nuôi cá. Tuy nhiê, người ương nuôi cá cần phải chú ý hơn một số khâu kỹ thuật đặc biệt để bảo vệ và nâng cao tỉ lệ sống, sản lượng thu hoạch cá con.

    – Tháo cạn nước, bắt loại bỏ cá cũ, cá tạp và các loại sinh vật khác trong ao. Việc này cần phải làm triệt để, vì các loại cá tạp và các loại sinh vật khác như: Cá rô đồng, cá rô phi, cá quả, nòng nọc ếch, rắn nước… có thể bắt cá con làm thức ăn.

    – Gia cố bờ ao là việc làm quan trọng nhằm ngăn chặn các dòng nước rò rỉ vào ao hoặc từ ao ra ngoài. Các dòng nước rò rỉ này sẽ là lối thoát của đàn cá con ra khỏi ao hoặc là đường xâm nhập của các sinh vật có hại vào ao ương.

    – Khử trùng đáy ao: Dùng vôi bột để tiêu diệt trùng và cơ thể trưởng thành của những loài cá tạp còn sót lại trong ao. Lượng vôi bột dùng để khử trùng và diệt tạp đáy ao là 10 – 15kg vôi bột/100m2 đáy ao.

    – Phơi đáy: Các ao ương sau khi đã khử trùng và diệt tạp cần phải được phơi đáy. Tác dụng của việc phơi đáy ao ương cá là tiêu diệt nốt các sinh vật thủy sinh và ấu trùng của chúng còn tồn tại trong ao. Mặt khác, quá trình phơi ao sẽ làm cho lớp bùn đáy ao trở nên xốp, tăng cường quá trình phân hủy các chất hữu cơ ở đáy bùn, dễ dàng cho việc gây màu nước.

    – Bón lót: Đối với các ao ương cá con, bón lót là khâu kỹ thuật không thể thiếu. Có thể sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh bón lót cho ao trước khi lấy nước vào. Lượng phân bón lót cho ao ương cá: Phân chuồng: 30 – 50kg/100m2 đáy hoặc phân xanh: 50 – 60kg/100m2, hoặc phân phân vô cơ 2 – 3kg/100m2, chia ra theo tỉ lệ bón phân đạm và phân lân là 2:1.

    – Lấy nước vào ao: Chỉ lấy nước vào ao trước khi thả cá bột 3 – 5 ngày. khi lấy nước vào ao cần phải lọc các sinh vật địch hại, lần đầu lấy nước chỉ cần lượng nước đạt đến độ sâu 40 – 60cm, sau khi nước đã lên màu mới thả cá bột và lấy thêm nước vào ao.

    1.3. Thả cá bột

    – Cỡ cá bột: Đa số các loài cá bột đều có chiều dài thân 0,5 – 0,7cm.

    – Chất lượng cá bột: Cá bột thả ương là cá bột vừa mới tiêu hết khối noãn hoàng, khi cho cá bột vào bát nước, thấy chúng có khả năng bơi lội tự do, linh hoạt, không bị chìm xuống đáy bát. Tuy nhiên, cần rất chú ý, cá bột đã tiêu hết noãn hoàng mà không được thả ương ngay sẽ thành cá bột “già”, những lứa cá bột như này sẽ có tỉ lệ hao hụt rất lớn do chúng bị thiếu dinh dưỡng.

    – Thời điểm vận chuyển và thả cá bột: Người nuôi cá cần tránh những thời điểm có mưa rào, nắng gắt để vận chuyển và thả cá bột. Thời điểm vận chuyển và thả cá bột tốt nhất là lúc sáng sớm hoặc lúc chiều mát.

    – Mật độ thả cá bột:

    Me trắng: 250 – 300 con/m2

    Mè hoa: 150 – 200 con/m2

    Mrigal: 180 – 200 con/m2

    Rô hu ( Trôi Ấn Độ): 180 – 200 con/m2

    Trắm cỏ: 220 – 250 con/m2

    Chép: 130 – 150 con/m2

    Chim trắng: 200 – 250 con/m2     

    – Kỹ thuật thả cá bột: Sau khi vận chuyển cá bột về ao ương, không nên để cá bột trong bao chứa lâu. Khi chưa thể thả cá bột ngay, cần nhẹ tay lắc đều bao chứa để cá không bị ngạt. Trước khi mở bao thả cá bột ra ao, nên ngâm bao chứa cá trong ao khoảng 5 – 10 phút. Sau đó, mở miệng bao, nghiêng lấy thêm nước ao vào bao rồi từ từ đổ cá ra. Làm như thế để tránh cho cá bị sốc nhiệt do sự chênh lệch nhiệt độ nước ngoài ao và trong bao chứa cá. Khi thả cá bột. người nuôi cá cần chú ý lựa chọn địa điểm thả cá là góc ao sạch, không có rác và ở đầu ngọn gió. Khi thả cá bột xong, người thả cá có thể nhẹ tay khỏa nước để cá bột tản nhanh ra ao.

    1.4. Chăm sóc ao ương cá hương

    Trong quá trình ương cá bột thành ca hương, việc chăm sóc và quản lý ao ương cần phải đạt được mục đích: bảo đảm đủ thức ăn cho cá, rút ngắn thời gian ương và nâng cao năng suất, sản lượng thu hoạch của cá hương.

    Đa số các loài cá trong giai đoạn ương cá bột thành cá hương có chung nguồn thức ăn cơ bản là sinh vật phù du. Vì vậy, trong các ao ương cần duy trì lượng thức ăn phù du sinh vật phong phú, bằng cách bón phân gây màu nước. Những người nuôi cá con lâu năm có kinh nghiệm xác định sự thiếu đủ dinh dưỡng của ao ương bằng cách quan sát màu nước. Nước trong ao ương có màu xanh lá chuối non thể hiện trong ao có đủ thức ăn cho cá con. Màu nước biện đổi đậm hơn hoặc nhạt hơn đều không tốt cho quá trình phát triển của cá. Vì vậy, người nuôi cá cần có sự điều chỉnh linh hoạt lượng phân bón và chu kỳ bón phân dựa vào màu nước của ao. Thông thường, lượng phân bón bổ sung cho các ao ương cá hương hàng tuần là 10 – 15kg phân chuồng ủ hoai trên 100m2 ao. Các ao ương cá mè, các loại trôi, chép bón thêm phân xanh với lượng 15 – 20kg/100m2 ao.

    Bên cạnh nguồn thức ăn tự nhiên gây nuôi được trong ao, người nuôi cá cần phải chủ động cung cấp các loại thức ăn bổ sung cho cá. Thường các loại thức ăn này được cung cấp đều đặn từ ngày thứ 3 sau khi thả cá bột. Thức ăn bổ sung đều ở dạng bột như bột gạo, cám gạo, bột mì. Trong những ngày đầu cho cá ăn thức ăn bổ sung, các loại bột này đều nấu chín, hòa loãng vào nước và té đều ở khu vực ven bờ ao. Từ khoảng ngày thứ 10 trở đi, có thể rắc bột sống cho cá. Khi rắc bột sống, người nuôi cá nên thả bèo tấm rồi rắc bột lên bèo. Lượng thức ăn bổ sung (tính khô) cho cá tăng dần từ 0.1- 0.4kg/vạn cá/ngày.

    Đối với cá chép và cá trắm, người ta có thể ương bằng cách không bón phân, dùng sữa đậu tương té trực tiếp xuống ao cho cá, lượng khô tăng dần từ 0,2kg/m2 ao/ngày. Cứ sau mỗi tuần ương, lượng đậu tương tăng 0,1 – 0.15kg/ ngày.

    1.5. Quản lý ao ương cá hương

    Qúa trình ao ương cá bột thành cá hương thường kéo dài 20 – 30 ngày. Khi thu hoạch, cá hương của đa số các loài cá như mè, trôi, trắm, chép đều có chiều dài khoảng 2,5 – 3cm. Quản lý ao ương cá hương phải được tiến hành thường xuyên, tỉ mỉ trong suốt quá trình ương để bảo vệ cá con tránh khỏi tác động xấu của môi trường. Quản lý ao ương bắt đầu từ việc thăm ao (tuần ao) hàng ngày, hàng buổi để phát hiện các hiện tượng bất lợi có thể xảy ra và tím cách xử lý.

    Bảo vệ bờ và cống tháo nước

    Cống tháo nước và bờ ao có thể bị rò rỉ. Tùy theo mức độ rò rỉ mà có thể có các hiện tượng bật lợi xảy ra nhưng ao có thể bị cạn nước, cá con có thể bị ngược dòng ra khỏi ao hay địch hại có thể xâm nhập vào ao… Do vậy, phát hiện và đắp bịt các chỗ rò rỉ ở bờ và cống ao ương phải kịp thời và triệt để.

    Bổ sung nước vào ao ương

    Khi thả cá bột vào ao ương, mức nước trong ao chỉ đạt độ sâu 0,4 – 0,6m. Trong quá trình ương, môi trường ao sẽ trở nên hạn hẹp do cá con phát triển về kích thước cơ thể. Bón phân thường xuyên cùng với các chất thải của cá con làm lượng chất hữu cơ dư thừa tăng lên gây ô nhiễm trong ao. Vì vậy, bổ sung và thay nước thường xuyên để tạo môi trường thuận lợi cho các con phát triển.

    Mực nước sâu thích hợp đối với ao ương cá hương là 0,8 – 1m. Sau khi thả cá bột, có thể bơm bổ sung nước dần dần vào ao đến khi đạt độ sâu cần thiết, mỗi ngày nâng độ sâu 10- 30cm. Đối với ao ương cá con, nên áp dụng biện pháp thay nước dần dần, vừa bơm nước bổ sung nước mới, vừa tháo bỏ nước cũ. Nói chung, việc bơm nước bổ sung và thay nước ao có thể tiến hành định kỳ, tùy theo điều kiện chủ động của nguồn nước, tốt nhất là 1 – 3 ngày một lần.

    Bơm nước bổ sung đột xuất cho ao ương cá hương phải được tiến hành kịp thời trong các trường hợp phát hiện ao bị cạn nước hoặc bị ô nhiễm. Buổi sáng cá có thể bị nổi đầu nhẹ, khi mặt trời lên, cá lại lặn xuống điều đó thể hiện ao đủ dinh dưỡng và không bị ô nhiễm. Những trường hợp cá nổi đầu vào buổi sáng sớm nhưng khi mặt trời lên, cá không lặn thì phải bơm nước bổ sung ngay.

    Khi bơm nước vào ao ương, người nuôi cá nhất thiết phải lưu ý đặt lưới lọc rác và địch hại ở đầu cống cấp nước.

    Phát hiện và diệt các loại địch hại

    Các loại địch hại gây thiệt hại đối với ao ương cá con thường gặp như: cá dữ (cá quả, cá rô đồng…) nòng nọc ếch nhái, bọ gạo, bắp cày, rắn nước, chim bắt cá…

    Khi chuẩn bị ao ương, các loài cá dữ cần phải loại bỏ triệt để. Các đối tượng như rắn nước, chim bắt cá… xuất hiện không nhiều, cần quan sát và xua đuổi là chính.Các loại nòng nọc ếch nhái và bọ gạo, bắp cày thường xuyên xuất hiện trong quá trình ương cá. Để loại bỏ các loại địch hại này, cần có sự phát hiện sớm và diệt kịp thời.

    Nòng nọc thường sống theo đàn ở ven bờ nước và bắt cá con làm thức ăn. Nòng nọc thường xuất hiện sau các trận mưa rào vài ngày. Để loại trừ nòng nọc, cần phát hiện sớm và bớt bỏ các ổ trứng ếch nhái nổi trên mặt nước hay các tổ trứng ễnh ương treo trên các cành cây phí trên mặt ao. Khi phát hiện có nòng nọc trong ao, dùng vợt hoặc lưới cá hương quây bắt.

    Bọ gạo và bắp cày là những loại côn trùng sống trong nước, bắt cá con làm thức ăn nhưng hô hấp bằng khí trời. Chúng có những đám lông không thấm nước trên cơ thể để dự trữ không khí. Mỗi khi chúng sử dụng hết không khí trong đám lông, chúng phải ngoi lên mặt nước để lấy không khí. Lợi dụng đặc điểm này, ta có thể diệt chúng bằng cách lấy dầu hỏa hoặc ma dút phủ một lớp mỏng trên mặt nước, khi bọ gạo và bắp cày ngoi lên gặp lớp dầu, không lấy được không khí chúng sẽ chết. Có 2 cách dùng dầu hỏa để diệt bọ gạo, bắp cày. Khi phát hiện ao có bọ gạo và bắp cày, nếu bạn ngày nắng và có gió, lấy lớp dầu vẩy khắp mặt nước. Để diệt bọ gậy vào ban đêm, làm một khung tre nổi trên mặt nước, đổ dầu vào trong khung chỉ đủ để dầu lan kín khung tạo thành một lớp váng mỏng, treo một bóng điện phía trên khung dầu. Bọ gạo và bắp cày hướng sáng sẽ tập trung trong khu vực khung dầu, chúng ngoi lên khu vực có ánh sáng nhưng không lấy được không khí sẽ chết.

    1.6. Luyện ép cá

    Luyện ép cá là bước kỹ thuật quan trọng nhằm tăng kích thích cá hoạt động và trao đổi chất đồng thời tăng cường sức chịu đựng của cá con trong các điều kiện môi trường xấu. Luyện ép cá con trước khi vận chuyển là vô cùng cần thiết, nhằm nâng cao tỉ lệ sống của cá trong quá trình vận chuyển. Những đàn cá không được luyện ép kỹ, khi vận chuyển thường có hiện tượng ” nhược” hay “sượng”, tỉ lệ hao hụt trong trường hợp này rất lớn.

    Luyện cá hay một số địa phương gọi là “quấy dẻo” thường được tiến hành sau khi thả cá bột 1 tuần. Cứ sau 5 – 6 ngày lại luyện cá 1 lần. Phương pháp luyện cá đơn giản là dùng cành cây thả xuống ao và buộc dây kéo vài lượt cho nước ao đục. Có nơi, người ương cá lùa trâu bò đi vài vòng dưới ao cũng có hiệu quả. Trước khi thu hoạch 4 – 5 ngày, mỗi ngày 1 lần, dùng lưới cá hương kéo dồn cá lại một góc ao rồi lại thả ra, phương pháp này vừa luyện và vừa kiểm tra được cá. Nếu dùng lưới luyện cá quá sớm, cá sẽ bị ” đóng đầu”, do cỡ cá còn nhỏ, nên có thể bị chui lọt đầu vào mắt lưới rồi mắc lại ở đó, nhưng con bị “đóng đầu” đều chết.

    Khi thu hoạch cá hương phải tiến hành ép cá trước khi vận chuyển. Phương pháp đơn giản nhất là cắm giai ngay tại ao ương, thu cá và nhốt cá vào giai trong khoảng nửa ngày đến 1 ngày. Mật độ ép cá trong giai từ 2- 3 vạn cá/m3 nước.

    1.7. Thu hoạch cá hương

    Sau khi thả cá bột 20 – 30 ngày, khi cá đạt kích thước 2,5 – 3cm thì có thể thu hoạch cá hương. Trước khi thu hoạch cá hương, cần ngừng cho cá ăn thức ăn bổ sung và luyện cá.

    Khi thu hoạch cá, rút bớt nước ao, đến độ sâu 60 – 80cm thì có thể dùng lưới cá hương kéo. Có thể thu triệt để trong ngày hoặc thu dần trong một vài ngày. Nên thu cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Trong những ngày nắng gắt, nhiệt độ nước lên cao thì người nuôi cá cần lưu ý bổ sung nước vào ao ngay nếu chưa thu hết cá.

      Ương cá hương thành cá giống

      Trong giai đoạn phát triển từ cá hương thành cá giống, kích thước cơ thể cá đã tăng lên, môi trường sống trong ao ương cá hương trở nên chật hẹp. Mặt khác, ở giai đoạn này, mỗi loài cá có sự biến đổi tính ăn giống như cơ thể trưởng thành. Do vậy, chuyển cá hương sang ao ương cá giống có tác dụng san thưa, tạo môi trường sống rộng rãi hơn cho cá, đồng thời điều chỉnh phương pháp chăm sóc cá cho phù hợp với tính ăn của mỗi loài.

      Qúa trình ương cá giống thường kéo dài khoảng 2 – 3 tháng. Trong khoảng thời gian đó, cá con sẽ phát triển 2 cấp độ cá giống, là cá giống cấp 1 và cá giống cấp 2. Khi thả cá giống đạt kích thước cá giống cấp 1, một số loài cá cần phải san thưa trước khi ương tiếp thành cá giống cấp 2, để đảm bảo đủ môi trường sống cho cá.

      3.1. Thả cá hương

      Bên cạnh các kỹ thuật thả cá như thời gian, địa điểm và cách thả giống…được áp dụng như khi thả cá bột lên cá hương, người nuôi cá có thể tham khảo một số số liệu về mật độ thả cá để ương cá giống sau:

      3.2. Chăm sóc cá ương

      Đối với đa số các loài cá nuôi ở giai đoạn ương cá giống, thức ăn quan trọng nhất vẫn là thức ăn tự nhiên. Giải quyết thức ăn tự nhiên cho cá con bằng cách bón phân gây màu nước. Cơ bản cần quan sát màu nước ao để quyết định lượng dùng các loại phân hữu cơ bón cho ao. Đối với các ao cá mè, chéo, rô hu, mrigal, bón 10 – 15kg phân chuồng ủ hoai và 15 – 20kg phân xanh cho 100m2 ao. Đối với ao ương riêng cá trắm cỏ giống, không cần thiết phải bón phân.

      Ngoài việc bón phân gây màu nước, cần phải bổ sung các loại thức ăn trực tiếp cho cá. Đối với ao ương cá mè, bổ sung các loại bột như bột gạo, cám gạo…với lượng 200 – 400gam/100m2 ao/ngày. Đối với ao ương cá chép, rô hu, mrigal lượng bột ngô, cám gạo…bổ sung theo từng giai đoạn. Tuần thứ nhất và tuần thứ 2 sau khi thả cá hương, bổ sung 2,5 – 3kg/vạn cá/ngày. Sau đó, cứ mỗi tuần, nâng dần lượng thức ăn thêm 1kg/vạn cá/ngày.

      Đối với ao ương cá trắm cỏ giống, việc bón phân không cần thiết, nhưng phải giải quyết đủ các loại thức ăn xanh cho cá. Các loại thức ăn mà cá trắm con có thể sử dụng được như bèo tấm, bèo dâu, các loại rau thái nhỏ và thức ăn tinh. Giai đoạn cá trắm cỏ ương thành cá giống cấp 1, lượng thức ăn hàng ngày là 30 – 35kg thức ăn xanh và 1 -1,5kg thức ăn tinh cho 1 vạn cá. Giai đoạn ương cá trắm cỏ thành cá giống cấp 2, lượng thức ăn hàng ngày là 50 – 70kg thức ăn xanh và 3 – 4kg thức ăn tinh cho 1 vạn cá.

      Camnangnuoitrong.com

      Chia Sẻ Cách Nuôi Cá Koi Trong Ao Bùn Đúng Kỹ Thuật

      Cập nhật vào 30/12

      Kích thước và vị trí ao bùn nuôi cá koi

      Để nuôi cá chép koi số lượng lớn có thể chọn ao nuôi diện tích lớn 500 – 1.000 m2. Tốt nhất là ao nuôi nên ở nơi thoáng đãng và ánh sáng mặt trời đầy đủ. Dọn dẹp các bụi cây quanh ao và chặt bỏ các cành cây lớn xung quanh, có tán xòe xuống ao. Điều này đảm bảo việc ao nuôi đón ánh nắng được ít nhất 8 giờ/ngày.

      Theo khuyến cáo của Trung tâm khuyến nông chúng tôi độ sâu chuẩn nhất của ao nằm trong khoảng 1,2 – 1,5 m. Trước hết, chúng ta làm khô ao, loại bỏ lớp đất bùn dưới đáy. Vì lớp đất này là nguyên nhân sản sinh ra khí độc. Thêm một lớp cát vào đáy ao vì cát sẽ giúp giữ cho đáy ao sạch hơn, hạn chế sản sinh ra bùn đáy.

      Để có thước đo đánh giá về độ chuẩn của cá koi mini, bạn có thể tham khảo ngay các tiêu chuẩn của cá koi mini tại mục cá koi Nhật mini của chúng tôi – trại cá koi lớn nhất tại miền Bắc.

      Chọn loại cá koi nuôi trong ao bùn

      Có 2 giống koi thường được lựa chọn để nuôi nhiều nhất là koi Thái và koi Deshi. Cá koi Thai thường có thêm những vết đen trên lưng, ngoại hình của chúng thường đẹp hơn koi Deshi.

      Thức ăn cho cá koi khi nuôi trong ao bùn

      Người nuôi có thể cho cá koi ăn thức ăn thô hoặc thức ăn công nghiệp đều được. Với mỗi loại, liều lượng thức ăn khác nhau:

      Với kiểu thức ăn thô:

      Thức ăn thô chủ yếu các loại côn trùng, cá con, bột bánh, bánh, bột cám… Tỷ lệ tốt nhất có thể trộn như sau: 25% bột cá, 30% bột gạo, 25% bánh và 20% các loại thức ăn thô.

      Với kiểu thức ăn công nghiệp:

      Người nuôi cần cung cấp đủ lượng thức ăn viên chất lượng cao để có được sản lượng mong muốn. Thức ăn viên này nên chứa khoảng 30-35% protein. Nếu không có sẵn thì tôm càng và thức ăn nuôi tôm cũng có thể được sử dụng cho cá Koi. Cách thức chế biến như sau:

      Thức ăn cho cá: 25% – Giá trị protein 13.75%

      Xương và thức ăn có thịt: 8% – Giá trị protein 3.5%

      Thức ăn có máu: 7% – Giá trị protein 4.9%

      Bánh mù tạt: 20% – Giá trị protein 6.6%

      Bột gạo: 17%- Giá trị Protein 2.1%

      Thân bắp 10% – Giá trị protein 1.7%

      Bột: 5% – Giá trị protein 0.9%

      Rỉ khô :5% – Giá trị protein 0.8%

      Ngoài ra, nuôi công nghiệp đòi hỏi lượng thức ăn rất cao trong những ngày đầu tiên. Lượng này sẽ giảm dần theo thời gian, cho ăn 2 lần/ ngày. Cụ thể lượng thức ăn tính theo trọng lượng cá như sau:

      Chất lượng nước nuôi cá koi

      Chất lượng nước là yếu tố quyết định tới sự thành công của mô hình nuôi cá koi. Người nuôi cần duy trì pH ổn định. Loại bỏ sinh vật phù du ra khỏi nước trong ao. Đồng thời có các biện pháp gia cố bờ ao cẩn thận, tránh cá tẩu thoát ra ngoài. Hàng ngày phải quan sát hoạt động của đàn cá và tiến hành cho ăn đúng phương pháp. Chỉ cho ăn thức ăn tươi mới và vớt thức ăn thừa nếu cá ăn không hết.

      Nếu bạn muốn nuôi cá koi theo đúng tiêu chuẩn của Nhật, bạn có thể tham khảo ngay bài viết hồ cá koi Nhật để biết cách thiết kế hồ koi đúng kỹ thuật.

      Phòng bệnh cá koi nuôi ao bùn

      Để góp phần hạn chế thiệt hại có thể xảy ra do cá bệnh người nuôi cần thực hiện theo một số yêu cầu kỹ thuật sau:

      Quan sát cá hàng ngày, nếu thấy dấu hiệu bất thường, phải kiểm tra và xử lý kịp thời. Nếu có thể, cách ly chúng ra một hồ riêng, tránh lây cho những con khác trong ao

      Khử trùng ao nuôi bằng cách dùng vôi nông nghiệp hòa với nước tạt đều khắp ao.

      Theo dõi màu nước, mức nước thường xuyên để kịp thời điều chỉnh nếu bất thường. Dọn sạch cành cây, rác thải xung quanh ao để chúng không rơi xuống ao.

      Chọn giống nghiêm ngặt, đảm bảo không bị bệnh dịch. Không thả quá dày, dễ sinh sôi bệnh dịch và lây lan nhanh chóng.

      Thức ăn cho cá phải tươi sạch và qua sát trùng, không để cá bị đói. Cần rửa sạch sàng ăn và thường xuyên khử trùng địa điểm cho ăn.

      Tăng cường sức đề kháng cho cá bằng cách bổ sung vitamin C trộn vào thức ăn cho cá ăn hàng ngày hoặc sử dụng chế phẩm sinh học probiotic và enzyme tổng hợp để cải thiện khả năng tiêu hóa và bảo vệ tốt đường ruột cho cá. Liều lượng và cách sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

      Thông tin được chia sẻ với Askoi Farm, nếu bạn có nhu cầu mua cá koi – thiết kế hồ koi – cải tạo vệ sinh hồ koi – chữa bệnh cho cá koi, bạn có thể liên hệ theo thông tin sau:

      Trang trại cá koi Askoi Farm

      Địa chỉ: Số 1 ngõ 22 Khuyến Lương, Trần Phú, Hoàng Mai, Hà Nội

      Số điện thoại: 094 343 9922 – 0966 864 864

      Website: askoi.vn

      Kỹ Thuật Ương Và Nuôi Cá Sặc Rằn Thương Phẩm

      KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ SẶC RẰN:

      1/Điều kiện ao đìa:

      – Nguồn nước: Phải dồi dào, có điều kiện cấp thoát nước cho ao khi cần thiết. Ao không bị khô cạn hoặc ngập úng. Nước phải có chất lượng tốt không bị phèn (pH = 7 là tốt nhất, không nên sử dụng ao có pH < 6). Nước không bị nhiễm bẩn, không bị nhiễm độc (chủ yếu độc do thuốc trừ sâu).

      – Diện tích: Tùy thuộc qui mô sản xuất, điều kiện sẵn có và khả năng của từng gia đình. Có thể tận dụng các kênh mương sẵn có để ương cá. Tuy nhiên không nên sử dụng những kênh mương quá dài để tiện cho việc chăm sóc quản lý. Nếu kênh quá dài thì có thể chặn ngăn thành từng đoạn ngắn.

      – Với phạm vi gia đình và tùy tình hình hiện nay ở khu vực, ao ương cá sặc rằn nếu có diện tích vài trăm m2 là thích hợp. Tùy theo yêu cầu lượng cá giống thả mà có thể có ít hay nhiều ao.

      – Độ sâu ao: Độ sâu dùng ương nuôi cá sặc rằn có thể biến động, nhưng để tiện cho chăm sóc quản lý và hoạt động của cá con, ao có độ sâu 0,8 – 1m là hợp lý nhất.

      – Chất đáy: Không sử dụng ao đất phèn để ương cá. Đáy ao là bùn hoặc bùn pha cát là tốt nhất. Độ dày bùn đáy ao thích hợp cho ương cá sặc rằn là 20 – 25 cm, không nên dùng ao có đáy quá trơ ít bùn (thường là ao mới đào) hoặc ao có đáy bùn quá dày (thường là ao lâu ngày không sên vét).

      – Trường hợp dùng ao có đáy bùn dày thì trước khi thả cá nuôi, ao cần được tát cạn, sên vét bớt bùn đáy, chỉ để lại 20 -25 cm.

      – Điều kiện chiếu sáng: Ao ương cá con cần đủ ánh sáng mặt trời. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng. Nếu sử dụng những ao thiếu ánh sáng thì kết quả ương nuôi sẽ thấp, ít khi thành công. Vì vậy không nên để bóng cây che trên mặt ao.

      – Mặt nước ao cần thoáng, cần loại bỏ hết rong, cỏ nước, bèo ở trên mặt ao.

      2/ Chuẩn bị ao trước khi thả cá nuôi:

      – Tát cạn ao:

      – Bón vôi: Thường dùng là vôi bột, bón 10kg/100m2

      – Tu sửa bờ: chống ngập úng, chống rò rỉ, chống mất nước, chống cá khác (đặc biệt là cá lóc) vào ao.

      – Phơi đáy ao: Nếu gặp trời nắng mà phơi được đáy ao vài ngày thì tốt nhất. Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.

      – Bón phân: Có thể dùng phân gà, phân heo hoặc phân xanh (các loại lá xanh, tốt nhất là lá điên điển) để bón lót cho ao từ 15 -20kg/ 100m2 ao.

      – Lấy nước cho ao: Nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để tránh cá khác, tép vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết từ 0,8 – 1m.

      – Diệt trừ dịch hại trước khi thả cá: Có nhiều loại dịch hại đối với cá. Nhưng thường quan tâm để diệt nhất là trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trứng ếch nhái cần rào lưới xung quanh bờ ao. Để diệt bọ gạo, sử dụng dầu lửa 1lít/1.000m2ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống một ngày thì có thể thả cá bột.

      3/ Thả cá bột xuống ao:

      – Thời gian thả cá: Thích hợp nhất là từ 8 – 9 giờ sáng và những lúc trời không có mưa lớn. Tránh thả cá vào những khi nhiệt độ nước quá cao.

      – Mật độ thả: 400- 500 con/m2 là thích hợp.

      4/ Cho ăn chăm sóc:

      – Sau khi bón phân lần đầu tiên (bón lót) lúc ao còn cạn nước, thì sau một tuần lấy nước vào ao, cần bón thêm một lần phân. Lần thứ 2 này chỉ bón 10kg/100m2 tức là chỉ 1/2 lần đầu.

      – Cho ăn: Sau khi thả cá bột xuống ao, tiến hành cho ăn ngay.

      * Trong tuần lễ đầu tiên: Mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 2 lòng đỏ trứng gà (vịt) luộc + 1 kg bột đậu nành/1.000m2 (pha nước vào thức ăn cho loãng, tạt đều khắp ao).

      * Tuần lễ thứ 2: Mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 1 kg cám mịn + 0,5 kg bột cá/1.000m2 ao (cũng pha nước như tuần đầu).

      * Tuần lễ thứ 3: Tùy theo mức độ ăn của cá mà tăng thêm lượng thức ăn cho phù hợp.

      – Quản lý cá: Thường xuyên quan sát ao cá, tránh bị mọi, tràn bờ, kịp thời phát hiện bệnh dịch hại (ếch, nhái, rắn…) để diệt trừ. Đồng thời quan sát hoạt động của cá (ăn mạnh hay yếu, có thiếu Oxy hay không…) để kịp thời xử lý.

      – Giảm mật độ cá: Sau khi ương cá sặc rằn khoảng 1 tháng, cá đã lớn không còn đủ sức chứa lượng cá con. Cần phải san thưa sang ao khác để giảm mật độ. Thông thường từ một ao ban đầu cần thêm 1 ao nữa để đưa cá hương qua nuôi. Có như vậy thì cá mới tiếp tục lớn khỏe và mạnh. Ao thứ 2 dùng để đưa cá qua, cũng cần được chuẩn bị như ao đầu tiên để thả cá bột (tát cạn, bón vôi…)

      5/ Luyện cá trước khi xuất ao:

      Trước khi đưa cá ra khỏi ao cần được luyện trước một tuần bằng cách hằng ngày lội xuống ao xua đuổi cá, mỗi ngày 1 lần trong tuần.

      Khi cá ương được 60 ngày tuổi mới thu hoạch, nếu thu sớm dễ xay xát sẽ hao hụt nhiều khi vận chuyển.

      Dùng lưới kích thước mắt nhỏ.

      Chứa cá trong bể xi măng hay bể đất lót nylon, nước trong bể phải xanh.

      Cá phải được chứa trên bể ít nhất 2 ngày mới xuất đi

      Ks. Nguyễn Mạnh Hà-TTGNN, Bản tin Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long (số 25, tháng 10/2003)

      Kỹ thuật ươm nuôi cá sặc rằn

      …Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp 25 – 35 độ C cá đạt trọng lượng khoảng 140 g/con sau 2 năm (ở ĐBSCL, quan sát cá đực và cá cái cùng kích thước, thường cá đực có trọng lượng nhỏ hơn…

      KỸ THUẬT ƯƠNG NUÔI CÁ SẶC RẰN

      1. Điều kiện ao

      – Nguồn nước: phải dồi dào, có điều kiện cấp thoát nước cho ao khi cần thiết. Ao không bị khô cạn hoặc ngập úng. Nước phải có chất lượng tốt không bị phèn (pH = 7 là tốt nhất, không nên sử dụng ao có pH nhỏ hơn 6). Nước không bị nhiễm bẩn, không bị nhiễm độc (chủ yếu độc do thuốc trừ sâu).

      – Diện tích: tùy thuộc qui mô sản xuất, điều kiện sẵn có và khả năng từng gia đình. Có thể tận dụng các kênh mương sẵn có để ương cá. Tuy nhiên, không nên sử dụng những kênh mương quá dài để tiện cho việc chăm sóc quản lý. Nếu kênh quá dài thì có thể chặn ngăn thành từng đoạn ngắn.

      – Với phạm vi gia đình và tình hình hiện nay ở khu vực, ao ương cá sặc rằn nên có diện tích vài trăm m2 là thích hợp. Tùy theo yêu cầu lượng cá giống thả mà có thể có ít hay nhiều ao.

      – Độ sâu: độ sâu ao dùng ương nuôi cá sặc rằn có thể biến động, nhưng để tiện cho chăm sóc quản lý và hoạt động của cá con, ao có độ sâu 0,8 – 1 m là thích hợp nhất.

      – Chất đáy: không sử dụng ao đất phèn để ương cá, đáy ao là bùn hoặc bùn pha cát là tốt nhất. Độ dày bùn đáy ao thích hợp cho ương cá sặc rằn là 20 – 25 cm, không nên dùng ao có đáy quá trơ ít bùn (thường là ao mới đào) hoặc ao có đáy bùn quá dày (thường là ao lâu ngày không sên vét).

      – Trường hợp dùng ao có đáy bùn dày thì trước khi thả cá nuôi, ao cần được tát cạn, sên vét bớt bùn đáy, chỉ để lại 20 – 25 cm.

      – Điều kiện ánh sáng: Ao ương cá con cần đủ ánh sáng mặt trời. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng. Nếu sử dụng những ao thiếu ánh sáng thì kết quả ương nuôi cá sẽ thấp, ít khi thành công. Vì vậy, không nên để bóng cây che trên mặt ao.

      2. Chuẩn bị ao trước khi thả cá nuôi

      – Tát cạn ao.

      – Bón vôi: thường dùng là vôi bột, bón 10 kg/100 m 2 ao. Những ao hơi bị phèn thì bón tăng hơn có thể tới 15 kg/100 m 2 .

      – Tu sửa bờ, lấp lỗ mọi, chống ngập úng, chống rò rỉ, mất nước, chống cá khác (đặc biệt là cá lóc) vào ao.

      – Phơi đáy ao: nếu gặp trời nắng mà phơi được đáy ao vài ngày thì tốt nhất. Nhưng lưu ý là những vùng đất bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu.

      – Bón phân: có thể dùng phân gà, phân heo, hoặc phân xanh (các loại lá xanh, tốt nhất là lá điên điển) để bón lót cho ao từ 15 – 20 kg/100 m 2 ao.

      – Lấy nước cho ao: nước cần được lọc qua lưới dày trước khi đưa vào ao để tránh tép, cá khác vào ao. Nước cấp cho ao đủ độ sâu cần thiết từ 0,8 – 1 m.

      – Diệt trừ địch hại trước khi thả cá, nhất là trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trứng ếch nhái cần có sự kiên trì, tỉ mỉ, vào mỗi buổi sáng đi quanh ao vớt bỏ trứng ếch nhái. Để diệt bọ gạo, sử dụng dầu lửa 1 lít/100 m2 ao, dầu lửa được rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống ao được một ngày thì có thể thả cá bột.

      3. Thả cá bột xuống ao

      – Thời gian thả cá: thích hợp nhất là từ 8 – 9 giờ sáng và những lúc trời không có mưa lớn. Tránh thả cá vào những khi nhiệt độ nước quá cao.

      – Mật độ thả : 400 – 500 con/m 2 là thích hợp

      4. Cho ăn chăm sóc

      – Sau khi bón phân lần đầu tiên (bón lót) lúc ao còn cạn nước, thì sau 1 tuần lấy nước vào ao, cần bón thêm một lần phân. Lần thứ hai này chỉ bón 10 kg/100 m 2 tức là chỉ bằng 1/2 lần đầu.

      – Cho ăn: sau khi thả cá bột xuống ao, tiến hành cho ăn ngay:

      + Trong tuần lễ đầu tiên: mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 2 lòng đỏ trứng gà (vịt) luộc + 0,5 kg bột đậu nành.

      + Tuần lễ thứ 2: mỗi ngày cho ăn 2 lần, mỗi lần 1 kg cám mịn + 0,5 kg bột cá/100 m 2 ao.

      + Từ tuần lễ thứ 3: tùy theo mức độ ăn của cá mà tăng thêm lượng thức ăn cho phù hợp. Thông thường mỗi ngày khoảng 3 kg (bột cá + cám) cho 100 m2 ao là phù hợp.

      – Quản lý cá: thường xuyên quan sát ao cá, tránh bị mọi, tràn bờ, kịp thời phát hiện địch hại (ếch nhái, rắn,…) để diệt trừ. Đồng thời quan sát hoạt động của cá (ăn mạnh hay yếu, có bị thiếu oxy hay không,…) để xử lý kịp thời.

      – Giảm mật độ cá: sau khi ương cá sặc rằn khoảng 1 tháng, cá đã lớn, ao không còn đủ sức chứa hết lượng cá con. Cần phải san thưa sang ao khác để giảm mật độ. Thông thường từ 1 ao ban đầu cần thêm 1 ao nữa để đưa cá bột qua nuôi. Có như vậy thì cá mới tiếp tục lớn và khoẻ mạnh. Ao thứ hai dùng để san cá qua, cũng cần được chuẩn bị như ao lần đầu tiên để thả cá bột (tát cạn bón vôi).

      5. Luyện cá trước khi xuất ao: Trước khi đưa cá xuất bán ra khỏi ao, cần được luyện trước 1 tuần bằng cách hàng ngày lội xuống ao xua đuổi cá, mỗi ngày 1 lần trong 1 tuần.

      KỸ THUẬT NUÔI CÁ THƯƠNG PHẨM

      1. Kỹ thuật nuôi ao

      a. Điều kiện ao nuôi

      – Diện tích: 200 – 1000 m 2 , có thể nuôi ở diện tích lớn hơn tùy theo từng hộ nuôi.

      – Độ sâu từ 1 – 1,5 m.

      – Ao gần nơi có nguồn nước sạch và có cống cấp thoát nước chủ động.

      – Bờ ao phải cao hơn mực nước lũ cao nhất là 0,5 m và cải tạo ao.

      b. Cải tạo ao

      – Tát cạn sên vét bùn đáy ao chỉ còn lại 10 – 20 cm.

      – Bón vôi 7 – 10 kg/100 m 2 .

      – Phơi nắng 2 – 3 ngày.

      – Bón phân chuồng ủ hoai 30 – 40 kg/100 m 2 ao.

      – Lấy nước vào 30 – 40 cm.

      – Sau 2 – 3 ngày cho phân chuồng phân hủy rồi lấy nước vào cho đủ rồi thả cá.

      c. Cá giống

      – Mật độ thả 15 – 20 con/m 2

      – Kích cỡ cá 4 – 6 cm/con

      – Cá khỏe không xây xát, không dị hình, đồng cỡ.

      – Thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát để tránh sốc nhiệt độ.

      d. Thức ăn

      – Cho cá sặc rằn ăn gồm: cám, bột cá (loại cá tươi hoặc phụ phẩm của nhà máy) xay nhỏ cho cá ăn.

      – Thành phần: cám 60% + bột cá 40%.

      – Khẩu phần thức ăn : 5 – 7% trọng lượng cá/ngày.

      – Làm sàn thả thức ăn để dễ kiểm tra lượng thức ăn hàng ngày.

      – Cho ăn ngày 2 lần.

      – Có thể bón phân chuồng bổ sung 2 tuần/lần 30 – 40 kg/100 m 2 ao để tăng thức ăn tự nhiên cho cá.

      – Hàng ngày kiểm tra hoạt động của cá.

      – Sau 8 – 10 tháng cá đạt trọng lượng 100 – 150 g/con thì có thể thu hoạch được.

      2. Kỹ thuật nuôi trong ruộng lúa

      a. Chuẩn bị ruộng

      – Chọn ruộng có bờ bao cao hơn đỉnh lũ 0,5 m.

      – Có diện tích mương bao 10 – 15% diện tích ruộng.

      – Mương bao có bề ngang 2 -3 m sâu 1 – 1,5 m chạy dài xung quanh ruộng.

      – Có vị trí gần kênh rạch để cấp thoát nước. b. Cải tạo (như cải tạo ao)

      c. Cá giống

      – Mật độ thả 2 – 3 con/m 2

      – Kích cỡ cá giống 4 – 6 cm/con

      – Cá khỏe không xây xát, không dị hình, đồng cỡ.

      – Thả cá vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

      – Cá giống được thả ở mương bao sau đó cho nước ngập ruộng để cá tự kiếm ăn thêm.

      d. Thức ăn gồm

      – Cám + bột cá

      – Ngày cho ăn 2 lần

      – Lượng thức ăn 5 – 7% trọng lượng cá/ngày.

      – Có thể 2 tuần/lần bón 20 – 30 kg phân chuồng, vừa làm thức ăn cho cá vừa giúp lúa phát triển tốt.

      – Hàng ngày kiểm tra hoạt động của cá.

      – Sau 8 – 10 tháng nuôi cá đạt cỡ 80 – 120 g/con có thể thu hoạch được.

      Theo Khuyến Ngư Kiên Giang

      Nhấn vào đây để xem tất cả các thông tin kỹ thuật nuôi cá sặc rằn

      Kỹ Thuật Ương Cá Bột Thành Cá Giống:kỹ Thuật Ương Cá Bột Thành Cá Giống

      Để việc ương cá giống đạt kết quả cao, người nuôi cần lưu ý thực hiện tốt những điều sau:

      Chuẩn bị ao ương

      Tốt nhất từ 500-1.000m. Ao sâu từ 1-1,5m, đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Ao phải chủ động cấp thoát nước khi cần, mặt ao thoáng, bờ ao chắc chắn không có cây rậm.

      Trước khi thả cá ương phải sên vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn đáy quá dày. Rào lưới xung quanh ao để ngăn ngừa dịch hại của cá có thể đi vào ao ương. Bón vôi khắp ao, liều lượng từ 10-15 kg/100m để diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá và cải tạo nền đáy. Nếu có điều kiện nên đào rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh chất bẩn hay phèn bị rửa trôi xuống ao khi trời mưa. Phơi đáy ao từ 3-5 ngày (vùng phèn không nên phơi đáy ao).

      Đối với các ao không có điều kiện tháo cạn nước hoặc muốn diệt hết cá tạp, cá dữ còn trong lớp bùn đáy, dùng rễ dây thuốc cá ngâm một đêm và đập kỹ vắt lấy nước pha loãng tạt đều khắp ao (1kg rễ cho 100m nước). Nên thuốc cá vào buổi trưa, vì lúc này nước được nung nóng, cá dễ bị nhiễm độc hơn. Có thể dùng chế phẩm dạng bột có chứa Rotenon được đóng gói sẵn để diệt cá tạp. Lượng dùng theo chỉ dẫn trên bao bì.

      Khâu lấy nước vào ao ương phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn, có thể để thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Kiểm tra pH nước khoảng 6,5-8,5 là có thể thả cá nuôi.

      Cho cá sặt rằn giống ăn.

      Cách thả cá bột

      Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những địch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày, …) chưa kịp phát triển. Sau đó thức ăn dư thừa của cá bột (bột đậu, cám…) sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng giúp tảo phát triển gây màu cho ao. Trường hợp sau khi lấy nước vào hơn 2 ngày vẫn chưa thả cá bột thì nên tháo cạn nước, cải tạo lại từ đầu. Thả cá bột xuống ao với mật độ từ 300-500 con/m. Thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

      Trước khi thả, nên ngâm túi cá trong nước từ 10-15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt, sau đó từ từ thả cá ra ngoài ao. Nếu cá bột chứa trong bao nylon: Thả bao cá xuống ao từ 10-15 phút cho cân bằng nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao, sau đó mở miệng bao, người thả cá đi lui về phía sau cho cá ra từ từ đến khi hết cá trong bao.

      Nếu cá bột chứa trong dụng cụ hở (thau, thùng) thì thêm từ từ nước ngoài ao vào dụng cụ chứa cá làm vài lần cho cá quen với nước ao mới, sau 10-15 phút chuyển thùng xuống ao, từ từ nghiêng thùng và đi lùi về phía sau cho cá ra ngoài đến khi hết cá trong thùng.

      Thức ăn

      Trong 10 ngày đầu cho cá ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá bột/ngày: 5 lòng đỏ trứng + 600g bột đậu nành. Cách cho ăn: Lòng đỏ trứng luộc chín bóp nhuyễn hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Tạt đều thức ăn khắp ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ sáng, 11 giờ trưa, 5 giờ chiều.

      Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20 cho cá ăn bột cá, cám và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá/ngày: 300g đậu nành + 300g cám + 300g bột cá. Cách cho ăn: Trộn đều 3 loại thức ăn trên, sau đó rải đều trên mặt ao. Ngày cho ăn 3 lần.

      Từ ngày thứ 21 trở đi giảm bột đậu nành, chỉ cho ăn bột cá và cám, trộn cám và bột cá với tỷ lệ bằng nhau, cho cá ăn mỗi ngày từ 2-3 lần, lượng thức ăn chiếm khoảng 15-20 % trọng lượng cá nuôi. Cho ăn như thế đến khi cá đạt kích cỡ giống khoảng 300-500 con/kg.

      Chú ý: Thức ăn nên trộn thêm Vitamin C liều lượng từ 30-40 mg/kg thức ăn. Sau khoảng 15-20 ngày, có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp loại viên nhỏ mảnh có hàm lượng đạm trên 30%.

      Chăm sóc, quản lý ao ương

      Trong quá trình ương hạn chế thay nước, tuy nhiên khi thấy nước ao dơ hoặc có điều kiện nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Hàng ngày trước khi cho ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng, giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ sát hại lẫn nhau.

      Thu hoạch

      Sau khi ương từ 45-60 ngày, cá đạt kích cỡ khoảng 300-700con/kg (tùy loại cá) thì tiến hành thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 tuần, hàng ngày phải luyện cá bằng cách giảm bớt lượng thức ăn (chỉ còn 1/2-1/3 so với bình thường) hay cho cá nhịn đói và làm đục nước ao bằng cách dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ kéo cá, để tránh cá bị xây xát và kéo lưới dồn cá lại một góc ao trong 10-15 phút vào lúc 9-10 giờ sáng, làm liên tục 2-4 ngày và nhốt trong vèo trước khi xuất bán cho người nuôi cá thịt.

      Trong quá trình thu hoạch các thao tác phải thật nhanh và nhẹ nhàng, tránh làm cá mệt, nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển.

      KS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG

      Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Ương Nuôi Cá Con Ao Nước Tĩnh Chuẩn, Đúng Khoa Học trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!