Xu Hướng 1/2023 # Kỹ Thuật Ương Cá Bột Lên Cá Giống Cá Rô Đồng # Top 4 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Kỹ Thuật Ương Cá Bột Lên Cá Giống Cá Rô Đồng # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Ương Cá Bột Lên Cá Giống Cá Rô Đồng được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Điều kiện bể ương

  • Ao đất

                Cá rô có thể sống và phát triển tốt trong cả điều kiện diện ao nuôi tích lớn hay nhỏ. Nếu sử ao có diện tích quá nhỏ hiệu quả kinh tế kém và khó tạo ổn định môi trường, nhưng ao quá lớn chăm sóc quản lý phức tạp, do đó nên chọn ao ương có diện tích 300 – 1000 m2.

    Ao phải có cống chủ động cấp thoát nước khi cần, chiều sâu mực nước 1,2 – 1,5 m. Mặt ao thoáng để không ngăn cản ánh sáng mặt trời chiếu vào nước để tạo điều kiện cho phiêu sinh vật phát triển, đây là loại thức ăn rất tốt cho sự phát triển của cá con. Trên bờ ao không có các bụi rậm để các loài địch hại như rắn, ếch…không nơi ẩn nấp sát hại cá ương nuôi.

    Trước khi thả cá ương nuôi tiến hành cải tạo ao bằng các biện pháp giống như ao nuôi vỗ cá bố mẹ, nhưng sau khi lấy nước vào 1/3 ao phải tiến hành bón phân tạo màu nước bằng 3 loại phân:

    Phân vô cơ: Sau khi lấy nước vào ao đủ yêu cầu tiến hành bón phân đạm urê và super photphate.

                            Tỷ lệ N/P=2/1

                            Liều lượng 200g/100 m3 nước.

                            Cách bón hòa tan phân vào nước và rải đều khắp ao.

    Phân xanh: Gồm những cây họ đậu hoặc lá cây so đũa.

                            Liều lượng: 10 – 15 kg/100 m2.

                            Cách bón: Sau khi cho nước vào ao đủ yêu cầu, bó lại thành nhiều bó và dùng cây dìm xuống đáy ao không cho nổi lên mặt nước.

    Phân chuồng: Ủ cho hoai mục.

                            Liều lượng 25 – 30 kg/100 m2.

                            Cách bón: Rải đều ở mặt đáy ao. Bón xong phân chuồng mới lấy nước vào. Sau khi bón phân 3 – 5 ngày nước có màu xanh đọt chuối non, tiến hành thả cá ương nuôi và nâng mực nước lên từ từ, sau 5 – 7 ngày mực nước đạt yêu cầu.

  • Bể xi măng

    Có thể dùng bể xi măng hoặc đào hố trên mặt đất có lót nilon để ương cá, diện tích khoảng vài chục mét vuông, phải giữ được nước, không rò rỉ, chiều sâu mực nước 0,5 – 0,7 m.

                Trước khi ương, bể phải được chà rửa sạch phơi nắng 1 ngày sau đó cho nước sạch vào bể, ngày hôm sau có thể cho cá vào ương. Bể ương không cần bón phân do diện tích nhỏ khi cho ăn thức ăn chế biến trong những ngày đầu cá dễ bắt gặp thức ăn nên không bị đói, sau 3 ngày màu nước xanh do thức ăn dư thừa tạo điều kiện cho tảo phát triển.

    Thức ăn

                Thả ương với mật độ 1.500 – 2.000 con/m2 .

    Từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 7 : cho cá bột ăn lòng đỏ trứng vịt (gà) và sữa bột đậu nành với khẩu phần : 3 lòng đỏ trứng + 100 g sữa bột đậu nành cho 10.000 con cá bột/ngày. Lòng đỏ luộc chín nghiền ra thành bột hòa tan trong nước, đậu nành ngâm trong nước 24 giờ xay nhuyễn thành bột. Khi cho ăn hòa tan thức ăn trong nước và rải đều lên mặt ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần, 7 giờ sáng, 11 giờ trưa và 17 giờ chiều.

    Ngày thứ 8 đến ngày thứ 30: Cho ăn cám, tấm + bột cá (hoặc cá tươi) với tỷ lệ 30% cám + 70% bột cá. Khẩu phần ăn 300 – 500 g/10.000 cá/ngày. Thức ăn nấu chín, vò viên và đặt trong sàn ăn. Mỗi ngày cho ăn 2 lần sáng sớm và chiều mát, mỗi lần 1/2 khối lượng.

    Ngày thứ 30 đến ngày thứ 60: Cho cá ăn cám + bột cá (hoặc phế phẩm của nhà máy chế biến thủy sản). Tỷ lệ 40% cám + 60% bột cá. Khẩu phần 3 – 5% so với trọng lượng đàn/ngày. Cách cho ăn giống như giai đoạn ngày thứ 8 đến 30.

                Ngoài ra trong ao ương con có thức ăn tự nhiên gồm phiêu sinh động – thực vật phát triển trong ao do dinh dưỡng của phân bón và thức ăn chế biến bị thất thoát trong quá trình cho ăn. Phiêu sinh vật phù du là nguồn thức ăn tươi sống rất tốt cho sự phát triển của cá do đó trong ao ương luôn duy trì màu nước xanh.

    Chăm sóc và quản lý

    Đảm bảo số lượng và chất lượng thức ăn nhằm đáp ứng nhu cầu của cá, nếu thiếu thức ăn cá sẽ phát triển không đồng đều và cá lớn sẽ ăn cá nhỏ làm giảm tỷ lệ sống.

    Trong quá trình ương hạn chế thay nước nếu môi trường không bị ô nhiễm. Tuy nhiên để kích thích sự hoạt động bắt mồi của cá cũng như thay đổi điều kiện sinh thái của môi trường nên định kỳ 10 – 15 ngày thay 1/3 lượng nước trong ao.

    Trên mặt ao, bể thả rau muống 1/10 diện tích nhằm hấp thu một phần chất dinh dưỡng tránh ô nhiễm môi trường và hạn chế sự phát triển quá mức của tảo.

    Hàng ngày trước khi cho cá ăn, phải vệ sinh sàn ăn và kiểm tra nếu cá ăn hết thức ăn thì hôm sau tăng lượng thức ăn, nếu cá ăn thừa thì giảm lượng thức ăn. Đây cũng là biện pháp tránh gây ô nhiễm cho môi trường do thức ăn thừa tạo nên và tiết kiệm thức ăn.

    Thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động của cá để có biện pháp phòng ngừa dịch bệnh và địch hại sát hại cá ương. Dọn sạch cây cỏ trên bờ ao, kiểm tra cống để sửa chữa kịp thời tránh cá cũng như nước thất thoát do cống hư.

    Sau 60 ngày tuổi cá đạt chiều dài 3 – 5 cm và có trọng lượng 1 – 2 g/con. Với các biện pháp kỹ thuật ương nuôi như trên tỷ lệ sống đạt 15 – 30%.

    Kỹ Thuật Ương Nuôi Cá Bột, Cá Hương Lên Cá Giống Đơn Giản

    (Thủy sản Minh Phú) – Để có đàn giống tốt phục vụ cho nuôi thương phẩm cần đặc biệt chú trọng đến khâu ương nuôi từ giai đoạn cá bột cho tới .

    Yêu cầu cơ bản trong kỹ thuật ương nuôi cá giống

    Cá giống có kích thước nhỏ cho nên dù ao ương có diện tích và hình thù như thế nào cũng có thể ương được nhưng bà con nên duy trì diện tích tối thiểu từ 500 – 2.000 m2, thoáng về mùa hè và ấm về mùa đông. Ao ương có hình chữ nhật, với độ sâu từ 1,2 – 1,5m để dễ dàng chăm sóc và đánh bắt khi th hoạch. Ao có đáy bùn pha cát độ dày khoảng 10 – 0 cm là vừa phải, tránh trường hợp lượng bùn quá dày đặc biệt là bùn đen, hôi tích đọng nhiều khí độc sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giống, nếu đáy ao quá trơ cũng sẽ gây khó khăn cho việc gây màu để tạo thức ăn tự nhiên. Đối với ao ương nuôi cá giống cần chủ động được cấp thoát nguồn nước, nguồn nước được cấp vào ao nuôi cần đảm bảo chất lượng về độ pH trong khoảng 6,0 – 8,0 (tốt nhất là 6,5 – 7,5), hàm lượng oxy hòa tan dao động trong khoảng 4 – 8 mg/l và không được chứa khi độc hại như NH3, H2S,..

    Trong quá trình ương nuôi yêu cầu sử dụng loại, cỡ, chất lượng thức ăn và số lầm cho ăn phù hợp với từng loài, từng giai đoạn phát triển của cá. Chế độ bón phân gây màu và cấp nước ao được điều chỉnh theo màu nước, theo nhiệt độ môi trường và sự phát triển của cá. Bên cạnh đó, bà con thường xuyên theo dõi để ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại vào ao ương để tránh hao hụt do địch hại và quan sát để phòng trừ và xử lý bệnh kịp thời.

    Ương cá giống có lãi suất cao do chu kỳ ương nuôi ngắn, tiêu tốn ít thức ăn nếu chúng ta có kỹ thuật tốt, có uy tín và kế hoạch rõ ràng. Trước khi thu hoạch cần luyện dẻo cho cá vì ở giai đoạn này cá còn nhỏ, sức đề kháng yếu, khả năng chống chịu thấp nếu ta không luyện dẻ ch cá thì tỷ lệ cá giống thu hoạch được sẽ hao hụt lớn. Luuyện dẻo cho cá tức là tập cho cá làm quen với môi trường chật hẹp, khắc nghiệt khi đánh bắt, vận chuyển. Trước khi thu hoạch, bà con cần tiến hành xuống ao lùa và khuấy cho ao động để cá tập làm quen với tác động mạnh, duy trì hoạt động đó trong vòng 1 tuần trước khi thu hoạch. Khi thu hoạch cần dự tính tỷ lệ sống, sản lượng để bố trí khách hàng đến mua hết, tăng vòng quay của ao hồ.

    Bà con nên chuẩn bị ao ương giống có hình chữ nhật với diện tích từ 1.500 – 2.000 m2, ao có độ sâu mực nuóc dao động từ 1,2 – 1,5 m, bờ ao chắc chắn cao hơn mực nước trong ao từ 0,5 – 0,7 m, bờ được kiên cố bằng bê tông hóa càng tốt, nếu không phải được xử lý hết các bụi rậm um tùm, lấp các lỗ hang tránh nơi trú ẩn của các địch hại và hạn chế độ che phủ lên ao, nếu ao bị che phủ sẽ hạn chế sự chiếu sáng dẫn đến hạn chế độ quang hợp trong ao. Ao cần được tát cạn bắt sạch cá tạp và phơi đáy ao từ 3 – 5 ngày. Độ sâu lớp bùn đáy ao lên duy trì từ 10 – 15 cm là hợp lý. Nếu ao có bùn đáy ao dầy, bùn đen cần được vét bớt, nếu ao ít bùn trơ đáy cần tạo lớp bùn đáy cho phù hợp. Sở dĩ cần chú trọng đến lớp bùn dưới đáy ao là bởi, lớp bùn có vai trò là kho dự trữ dinh dưỡng khi nước ao khi có được cấp nước và cung cấp lại dinh dưỡng cho ao nuôi khi nước ao thiếu dinh dưỡng.

    Trong quá trình chuẩn bị ao ương giống, các hộ nuôi cần chuẩn bị vôi bột để tẩy khử ao chua, diệt cá tạp và các vi khuẩn gây bệnh cho cá. Lượng vôi tẩy ao phụ thuộc vào độ pH bùn đáy ao, nhìn chung lượng vôi bón cho ao ương tù 7 – 10 kg/100m2 ao, đáy ao được trang phẳng tạo điều kiện thuận lợi cho cá hoạt động bắt mồi và đánh bắt khi thu hoạch. Tùy thuộc vào lượng mùn đáy ao nhiều hay ít mà bà con cần bón bổ sung lượng phân chuồng dao động từ 20 – 40 kg/100m2 đáy ao. Trong quá trình chuẩn bị ao lên dùng phân lợn hoặc phân gia cầm đã ủ, không nên bón ao bằng phân trâu bò và tuyệt đối không được để nước tiểu trâu bò chảy xuống ao ương (bởi độ axit trong nước tiểu trâu bò cao và độ dinh dưỡng thấp và chứa nhiều chất xơ nên tạo màu không tốt cho ao ương.

    Trước khi thả cá bột từ 3 – 5 ngày, bà con tiến hành cấp nước vào ao, nước lấy vào ao phải là nguồn nước sạch và được lọc qua lớp lưới nhỏ (1mm) để tránh cặn bẩn và sinh vật phù du vào trong ao dễ gây nguồn bệnh. Nếu nước lấy vào ao quá sớm thức ăn tự nhiên phát triển không được khai thác đúng lúc chúng sẽ già đi không thích hợp với kích cỡ miệng cá bột, hơn nữa khi lấy nước vào ao dễ thu hút ếch nhái đến sinh sản tạo ra nòng nọc, còn nếu vừa mới lấy nước đã thả ngay cá bột khi đó lượng thức ăn tự nhiên có trong ao sẽ không đủ cung cấp cho cá bột, mặt khác nước mới cấp vào ao còn đục sẽ không thích hợp cho sự phát triển của cá bột. Mực nước lấy vào trong ao để ươm cá giống từ 0,6 – 0,8 m, nếu thời tiết quá lạnh có thể nâng mực nước lên 1m, độ trong nước khi thả cá đạt 20 – 30 cm là thích hợp, khi nước ao chuyển màu xanh nõn chuối tức là việc gây màu tạo thức ăn tự nhiên đã thành công.

    Cá bột khi được thả xuống ao uong giống cần tuân thủ đúng ngày tuổi, không quá non và quá già, hoạt động nhanh nhẹn, khỏe mạnh không bị dị hình hay trầy xước trên da, vây và đuôi. Nên thả cá bột vào lúc sáng sớm và chiều tối, khi nhiệt độ ôn hòa, mát mẻ, tránh tròi nắng dễ làm cá sốc nhiệt. Lưu ý nhỏ cho bà con khi thả cá bột xuống ao, cần duy trì cân bằng giữa nhiệt độ nước trong túi cá bột và ngoài ao ương, tránh sự chênh lệch về nhiệt độ cá dễ sốc nhiệt khi thả. Mật độ cá bột được thả trong ao dao động từ 2,5 – 3,5 vạn con/100m2, nếu ương cá chép nên thả thưa hơn một chút để cá có không gian phát triển.

    Trong quá trình ương cá bột lên cá hương, bà con không nên thả ghép các loài cá với nhau bởi vì ở giai đoạn này các loài cá nước ngọt nói chung đểu ăn chung thức ăn là động vật phù du, hơn nữa nuôi ghép giai đoạn cá nhỏ sẽ gặp khó khăn khi đánh bắt thu hoạch và phân loại cá giống. Tuy nhiên, nếu các hộ gia đình ương cá bột lên cá hương để đưa sang ao cá giống cho gia đình mà không thể có nhiều ao để ương nhiều loại cá khác nhau thì có thể tiến hành ương chung nhiều loại cá giống trong cùng một ao, điều này sẽ làm hỗn loạn trong việc thu hoạch cá giống vì mỗi loại có thời gian sinh nở khác nhau trong năm lên việc phân loại cần sự chi tiết, tỉ mỉ hơn.

    Phương pháp chăm sóc và quản lý

    Bón phân cho ao ương: Lượng phân bón cho ao phụ thuộc vào màu nước ao ương giống, thời tiết và lượng nước thay đổi trong ao. Thông thường lượng phân chuồng được hòa loãng và té đều khắp ao trong thời điểm 7 – 8h sáng, trung bình cứ 5 – 7 ngày té 1 lần. Nếu lượng phần chuồng không có sẵn, hoặc không đủ, bà con có thể sử dụng phân N-P-K với lượng tù 0,4 – 0,5 kg/100 m2 ao. Trong thời gian ương nuôi, cần thường xuyên kiểm tra, ngăn ngùa và loại bỏ các sinh vật gây hại, phòng trừ dịch bệnh. Đặc biệt, những ngày sau khi thả cá bột, buổi tối thường xuyên phải soi đèn quanh ao để loại bỏ địch hại ếch nhái, rắn nước tập trung quanh bờ ao và sáng sớm cần kiểm tra xem có bè trứng ếch nhái quanh bờ ao không để loại bỏ.

    Để tạo môi trường nước thuận lợi cho sự phát triển của cá giống đồng thời can cứ vào đặc điểm sinh học, tính ăn của loài và điều kiện tự nhiên của từng vùng để điều chính phù hợp về mật độ, phân bón và lượng thức ăn bổ sung cho cá. Ở giai đoạn ương cá bột lên cá hương trong 2 tuần đầu thường dùng thức ăn là đỗ tương ngâm nghiền hoặc thức ăn hỗn hợp được nấu chín hòa loãng té đều quanh bờ ao, ngày lần vào sáng sớm và chiều tối với lượng thức ăn tù 100 – 200g đỗ tuong/1 vạn cá bột. Từ tuần thứ 3trở đi cá hương đã bắt đầu ăn thức ăn đặc trưng của loài, ví dụ như cá trắm cỏ ăn thực vật thủy sinh (bèo tấm, bèo hoa dâu), cá chép bắt đầu ăn động vật đáy,.. Khi đó thức ăn thường dùng là thức ăn hỗn hợp dạng bột, và được điều chỉnh dựa vào thời tiết và màu nước trong ao ương. Cá bột se ăn trực tiếp một phần thức ăn, phần còn lại nuôi thức ăn tự nhiên và cá sẽ dùng thức ăn tự nhiên này trong quá trình sinh trưởng.

    Quản lý nước ao ương: Sau khi ương cá tù 5 – 7 ngày cần thêm nước vào ao để làm loãng nước ao, tạo điều kiện cho thủy sinh vật phát triển tạo thêm thức ăn tự nhiên cho cá và tăng lượng nước để tạo điều kiện cho cá hoạt động, bơi lội và tăng độ thoáng trong ao ương. Bổ sung nước vào ao đảm bảo môi trường diện tích hoạt động phù hợp với khối lượng cá tăng dần trong ao.

    Đối với khi vận chuyển đi tiêu thụ thường xuyên vận chuyển kín bằng cách sử dụng túi nilon sạch có chứa nước, cá và bơm căng khí, túi cá được vận chuyển đi tiêu thụ thường đặt nằm ngang mỗi túi đóng với mật độ 60 – 80 cá hương/lít và vận chuyển trong khoảng 8h ở nhiệt độ 25 độ C. Nếu thời gian vận chuyển ngắn hơn có thể vận chuyển được mật độ cao hơn. Mật độ vận chuyển phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, tình trạng sức khỏe của cá và tùy thuộc vào loài và kích cỡ của cá khi vận chuyển.

    Kỹ thuật ương nuôi cá hương lên cá giống

    Mục đích của việc ương nuôi cá hương lên cá giống cấp độ I, II là để giải quyết nhu cầu con giống có đủ kích thước, khối lượng đưa vào nuôi thả ở các vùng nước làm cá thương phẩm. Giai đoạn này yêu cầu về môi trường hoạt động rộng hơn nên tốt nhất là sủ dụng những ao có kích thước từ 1.000 – 2.000 m2. Công tác chuẩn bị ao ương nuôi cá hương lên cá giống tương tự như giai đoạn ương nuôi cá bột lên cá hương.

    Tuy nhiên mật độ thức ăn, phân bón, thời gian ương nuôi và tỷ lệ hao hụt có sự khác nhau:

    Ví dụ như đối với cá trắm cỏ, khi mà tiến hành kỹ thuật ương nuôi cá hương lên cá giống cấp I, lượng bèo, cỏ non, rau xanh cho cá ăn khoảng 30 – 40 kg/1 vạn cá, từ cá giống cấp I nuôi lên cá giống cấp II lượng bèo, cỏ non tăng lên 60 – 80 kg/1 vạn cá.

    Đối với cá rô phi hay cá chép, lượng thức ăn hỗn hợp nuôi lên cá giống cấp I tính cho 1 vạn cá như sau: tuần đầu tiên cho ăn 3 kg/1 vạn cá, từ tuần thứ 3 trở đi cho ăn 5 kg/vạn cá. Còn lượng thức ăn hỗn hợp nuôi lên cá giống cấp II tính cho 1 vạn cá được ước lượng như sau: Tuần 5 – 6 là 7 kg, tuần 7 – 8 là 10 kg, tuần 9 – 10 là 12 kg. Đặc biệt đối với cá chép, cá rô phi nên sử dụng loại thức ăn có hàm lượng đạm thô tù 8 – 35%. Đối với cá trắm đen nên dùng thức ăn viên có hàm lượng đạm từ 35 – 40%.

    4. Giaỉ pháp nâng cao tỷ lệ sống của cá giống khi vận chuyển

    Vận chuyển cá giống là một khâu đóng vai trò quan trọng quyết định phần lớn đến hiệu quả kinh tế của nhà nông. Để cá giống có tỷ lệ sống cao trong quá trình vận chuyển, bà con cần lưu ý những điểm sau đây:

    Tuyển chọn cá giống khi vận chuyển

    Đây là khâu có tính quyết định hàng đầu nhằm đảm bảo tỷ lệ sống của cá giống khi vận chuyển. Để chọn được nguồn cá giống có chất lượng tốt ngoài việc chọn mua cá giống ở những cơ sở sản xuất giống có uy tín thì khi mua cá giống vẫn phải đảm bảo các tiêu chí: con giống khỏe mạnh, da trơn bóng, không trầy xước, kích cỡ giữa các con giống phải đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn, đảm bảo nguồn giống không bị nhiễm bệnh và không bị bệnh nổi đẩu.

    Thông thường cá giống được vận chuyển trong điều kiện thời tiết mát mẻ như buổi sáng hoặc chiều tối, đối với mùa hè thường vào ban đêm khi nhiệt độ giảm xuống mức thấp thì mới vận chuyển. Trong điều kiện thời tiết thu đông thì có thể vận chuyển cá giống cả ngày lần đêm. Mục đích của quá trình vận chuyển này là nhằm ổn định nhiệt độ nước, hạn chế tối đa quá trình hoạt động của cá, giảm quá trình hô hấp và trao đổi chất của cá, vì vậy sẽ giảm đuọc quá trình tiêu hoa lượng oxy hòa tan trong nước khi vận chuyển, do đó sẽ làm tăng mật độ và khoảng cách khi vận chuyển.

    Giảm lượng khí Amoniac khi vận chuyển

    Khí amoniac sinh ra trong quá trình phân hủy các chất thải của cá và các chất hữu cơ có sẵn trong nước bởi các vi sinh vật yếm khí, vì vậy khi cá thải phân ra ngoài thì các vi sinh vật này sẽ giảm sử dụng oxy trong nước để phân hủy chất thải, dẫn đến làm giảm nhanh lượng oxy hòa tan trong nước đồng thời làm tăng lượng khí amoniac, do đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống của cá giống khi vận chuyển. Vì vậy cần phải tìm cách làm giảm hàm lượng khí amoniac bằng cách ức chế hoạt động của vi sinh vật yếm khí trong quá trình vận chuyển cá giống bằng một số phương pháp như: sử dụng nguồn nuóc sạch để vận chuyển; trước khi vận chuyển phải luyện cá từ 3 – 5 ngày túc là cho cá nhịn đói và chịu tác động mạnh của “lực nước” để hạn chế tối đa các chất thải của cá khi vận chuyển. Bên cạnh đó, khi nhốt cá trong bồn hoặc túi vận chuyển phải có máy sục khí hoặc tạo dòng nước chảy nhẹ bằng máy bơm để tránh hiện tượng cá chết ngạt do thiếu oxy. Trước khi vận chuyển lên tắm cho cá bằng dung dịch muối ăn với nồng độ từ – 3% trong thời gian từ 5 – 10 phút. Muối ăn có tác dụng ức chế quá trình hoạt động của các vi sinh vật vừa có tác dụng phòng bệnh cho cá.

    Giảm sự xây xát và mất nhớt của cá giống

    Tất cả các khâu từ lúc kéo lưới, cân đo đong đếm, chuyển cá giữa ao, phân loại cá phải thật nhẹ nhàng, nhanh chóng tránh làm xây xát cá. Các công việc này lên làm vào buổi sáng hoặc chiều mát. Cá giống trước khi vận chuyển phải được theo dõi, đánh giá về chất lượng: cá phải khỏe mạnh, bơi lội nhanh thành đàn, toàn thân sáng bóng không có biểu hiện xây xát, không bị mất nhớt, không bị dị hình, không bị bệnh, kích thước con giống phải đồng đều. Tùy theo từng đặc điểm sinh học của cá mà có các cách vận chuyển khác nhau, thông thường có 2 cách vận chuyển như sau: phương pháp vận chuyển kín và phương pháp vận chuyển hở.

    Phương pháp vận chuyển hở

    Đây là phương pháp mà cả cá và nước tiếp xúc trực tiếp với môi trường không khí bên ngoài.Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho quãng đường vận chuyển ngắn dưới 20 km, với lượng cá giống ít và chủ yếu để vận chuyển cá bố mẹ. Dụng cụ vận chuyển thường là thùng, chậu, sọt có lót giấy bóng và trang bị hệ thống sụt khí tạo oxy cho cá. Lưu ý nhỏ đối với phương pháp này: Trước khi thả cá giống xuống ao cần ngâm túi cá xuống dưới nước ao khoảng 15 – 20 phút cho cá làm quen với môi trường nước để cá không bị sốc nhiệt do chênh lệch giữa nhiệt độ nước ao và nhiệt độ trong túi nilon khi vận chuyển. Sau đó mở miệng bao cho nước ngoài ao chảy vào túi rồi từ từ cho cá bơi ra ngoài ao. Vào thời gian mùa hè, nên thả cá lúc trời mát vào buổi sáng sớm từ 6 – 7h hoặc buổi chiều tối tù 17 – 18h hoặc thả cá vào ban đêm.

    Lưu ý đối với cách vận chuyển này: Phương pháp vận chuyển hở thòi gian vận chuyển không được quá 7h đồng hồ, nếu vận chuyển quãng đường xa trên 10h thì cần bảo quản bao chứa cá bằng thùng xốp đậy kín và duy trì nhiệt độ nước từ 22 – 25 độ C trong suốt quá trình vận chuyển hoặc có thể sử dụng xe bảo ôn để vận chuyển cá.

    5. Cách thả cá giống đạt tỷ lệ sống cao

    Thời vụ thả cá tốt nhất là tháng 3 tháng 4 hàng năm, nên mùa giống cá ở những cơ sở sản xuất lớn có uy tín nhiều năm trong nghề và vận chuyển trong điều kiện thời tiết mát mẻ. Khi thả cá giống, bà con nên ngâm túi nilon đựng cá vào trong nước ao hồ định nuôi khoảng 10 – 15 phút, nhằm mục đích để nhiệt độ trong túi nilon và nhiệt độ môi trường nuôi cân bằng nhau, tạo điều kiện cho cá làm quen với môi trường sống mới, tránh hiện tượng stress làm cá bị sốc dẫn đến chết. Một lưu ý nhỏ trước khi thả cá xuống ao nuôi cần cho cá tắm qua nước muối để khử trùng trên người cá. Sau đó mở một đầu túi ra, cho nước chảy tù từ vào để cá bơi tự nhiên ra, khi cá ra khỏi bao ½ – /3 số con mới dốc túi cho cá ra hết. Nếu có điều kiện lên quây lưới mắt nhỏ vào 1 góc ao hồ, thả cá giống vào đó, chăm sóc chu đáo khoảng 20 – 30 ngày, bồi dưỡng cho cá giống tăng cường sức khỏe, làm quen với môi trường sống mới thì tỷ lệ sống của cá sẽ cao hơn.

    Kỹ Thuật Ương Nuôi Cá Chép Từ Cá Bột Lên Cá Hương

    Tuy nhiên trong quá trình ương cá chép từ cá bột (cỡ 0,6 – 0,8cm) lên cá hương (cỡ 2,5 – 3cm) đạt tỷ lệ cá sống cao người nuôi cần lưu ý một số vấn đề sau:

    1. Điều kiện ao ương

    – Diện tích ao từ 300 – 1.000m2 là phù hợp và dễ cho công tác chăm sóc và quản lý.

    – Độ sâu mực nước ao: từ 1,0 – 1,2m; độ dày lớp bùn 15 – 20cm.

    – Có nguồn nước không bị ô nhiễm, thuận tiện cho việc cấp và thay nước.

    – Bờ ao chắc chắn không bị rò rỉ. Vì khi rò rỉ hình thành dòng nước chảy, cá tập trung nhiều vào đó không kiếm được mồi sẽ gầy yếu, đồng thời cá dữ cũng theo nước chảy lọt vào ao. Những ao bị rò rỉ không chủ động điều tiết mực nước, mất chất màu mỡ, cá sinh trưởng kém và tỷ lệ hao hụt cao.

    – Ao cần thoáng để có ánh sáng đầy đủ là điều kiện thuận lợi cho sinh vật phù dù phát triển tạo nguồn thức ăn tốt cho ương cá bột lên cá hương.

    2. Chuẩn bị ao ương

    – Tát cạn, tạt vôi cho ao nuôi từ 7 – 10 kg vôi bột để tả cho 100m2 diện tích ao nuôi hoặc 30 – 35kg cho 1 sào ao bắc bộ. Tẩy vôi vào những ngày nắng sẽ có tác dụng: Diệt trừ cá dữ, trứng ếch nhái hoặc nòng nọc, một số loại côn trùng có hại, các ký sinh trùng gây bệnh; giải phóng một số chất khoáng bị giữ lại trong bùn; giảm độ chua của ao; giữ độ pH trong ao ổn định.

    – Phơi đáy ao 3 – 5 ngày tùy thuộc điều kiện thời tiết.

    – Bón phân: sau khi phơi đáy ao, tiến hành bón phân: phân chuồng cần được ủ với 10 – 15% vôi bột trong thời gian 1 tháng. Liều lượng đối với phân chuồng bón bằng cách rải đều khắp ao từ 20 – 30 kg phân còn đối với phân xanh là 50 kg cho 100 mét vuông (loại lá cây thân mềm để làm phân xanh, không dùng những cây có tính đắng, cay…). Việc bón phân nhằm mục đích tăng cường các chất dinh dưỡng cho đáy ao, gây nuôi các loại sinh vật nổi có kích thước nhỏ bé phát triển làm thức ăn cho cá để sau khi thả là cá đã có sẵn thức ăn ngay. Thời gian bón lót thích hợp nhất là 6 – 7 ngày trước khi thả cá. Bón sớm quá các loại địch hại có thời gian sinh sản phát triển.

    – Lấy nước vào ao ngập từ 0,3 – 0,4 mét giúp cho quá trình phân hủy phân bón nhanh hơn, ngâm 2 đến 3 ngày, vớt hết bã xác phân xanh, lấy nước tiếp vào ao đạt độ sâu 1,0 – 1,2 m. Khi màu nước đạt màu vỏ đậu xanh là có thể tiến hành thả cá bột để ương. Lưu ý khi lấy nước vào ao cần lọc qua lưới lọc có kích thước mắt lưới nhỏ để loại bỏ cá tạp, cá dữ đặc biệt là cá rô phi con hoặc các loài địch gây hại cá giống.

    3. Mật độ cá thả: 80 – 140con/m2 4. Chăm sóc và quản lý 4.1. Chăm sóc

    – Trong quá trình nuôi tiến hành bón phân gây màu nước tạo thức ăn tự nhiên trong ao nuôi: Dùng phân chuồng ủ hoai với 10% vôi, mỗi tuần bón 2lần, mỗi lần bón 6 – 7kg/100 m2 ao. Phân xanh bón 1 tuần 1 lần, mỗi lần khoảng 20 – 25kg/100 m2 ao. Việc bón thêm phân cần căn cứ vào màu nước ao, nếu ao có màu xanh đậm cần giảm lượng phân, nếu ao mất màu cần tăng thêm lượng phân bón và chỉ duy trì lượng phân bón như trên khi nước có màu vỏ đậu xanh.

    – Về thức ăn tinh: thường dùng bột mì, bột gạo nghiền, cám nghiền nhỏ, bột đậu tương và lượng thức ăn cụ thể như sau:

    + Từ tuần 1 – 2: lượng thức ăn tinh từ 0,3kg/1vạn cá/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn từ 2 – 3 lần, trước khi cho cá ăn thì thức ăn phải được hòa loãng té khắp ao.

    + Tuần thứ 3 – 4: cho ăn 0,4 – 0,5kg/1vạn cá/ngày, thức ăn ở dạng bột khô rải đều khắp ao, mỗi ngày cũng cho cá ăn hai lần vào 8h, 16h.

    Lưu ý lượng thức ăn cần phải điều chỉnh phù hợp theo biến đổi của thời tiết, khả năng vận động và bắt mồi của cá.

    4.2. Quản lý ao ương

    – Hàng ngày phải thăm ao vào sáng sớm, để quan sát hoạt động của cá trong ao, màu nước, bệnh cá, địch hại để xử lý kịp thời.

    + Đối với màu nước: màu nước ao thường xuyên duy trì màu vỏ đậu xanh là tốt nhất. Nếu ao có màu xanh đậm cần giảm lượng phân bón, cấp thêm nước mới.

    + Cá bơi lờ đơ, tách đàn là có hiện tượng bị bệnh cần trộn tỏi hoặc kháng sinh cho cá ăn phòng.

    + Vào sáng sơm cá có hiện tượng nổi đầu khi có tiếng động như vỗ tay cá không lặn chứng tỏ cá thiếu oxy cần chạy máy tạo oxy hoặc bổ sung thêm nước mới.

    – Đối với giai đoạn ương từ cá bột lên cá hương thì một trong những yếu tố quyết định đến tỷ lệ sống của cá là địch hại như bọ gạo, nòng nọc, bắp cày và cá dữ sót lại trong ao. Chính vì vậy cần có biện pháp diệt như sau:

    + Đối với bọ gạo: do bọ gạo có đặc tính lấy oxy từ khí trời nên diệt bằng cách dùng cây tre hoặc cấy nứa đóng thành khung 4 – 6m2, trong khung đổ dầu hỏa, sau 5 – 10 phút được dịch chuyển 1 lần, khung được dịch chuyển cho đến hết bề mặt ao. Vì khi bọ gạo nhao lên đớp phải dầu hỏa sau thời gian ngắn sẽ chết.

    + Đối với nòng nọc: Hàng ngày kiểm tra quanh bờ ao nếu thấy trứng của ếch, cóc, nhái xuất hiện dùng vợt cá bột vớt hết trứng lên bờ. Dùng lưới cá hương để bắt nòng nọc hoặc dùng dòng nước chảy nhẹ trong ao để hướng nòng nọc tập trung lại rồi vớt bỏ.

    + Đối với cá dữ cần tẩy dọn và phơi ao thật kỹ.

    – Trong quá trình ương cá nếu có điều kiện cứ 3 – 5 ngày bổ sung thêm 20 – 30cm nước mới và thay 1 – 2 lần nước cũ, mỗi lần thay 1/3 lượng nước trong ao.

    * Sau khi ương nuôi 20 – 25 ngày cá đạt kích cỡ cá hương 2,5 – 3cm. Lúc này có thể tiến hành san ao để nuôi từ cá hương lên cá giống. Tuy nhiên trước khi san cá hoặc xuất bán thì thời gian nuôi ở tuần thứ 5 cần tiến hành đùa luyện cá 2 – 3 lần bằng cách dùng lưới kéo cá sau lại nhả cá ra. Mục đích của luyện cá giúp cá quen với điều kiện môi trường thiếu oxy, kích thích cá hoạt động làm cho khả năng chịu đựng của cá dẻo dai, xáo trộn chất dinh dưỡng giữa tầng mặt và tầng đáy tạo điều kiện cho sinh vật làm thức ăn cho cá phát triển.

    Tags: nuoi ca chep, ca bot, ca huong, nuoi trong thuy san

    Quy Trình Ương Cá Tra Giống: Từ Cá Bột Lên Cá Hương

    Hoạt động ương nuôi cá tra giống là một mắt xích quan trọng trong ngành công nghiệp nuôi cá tra.

    Phơi đáy ao 1- 2 ngày. Lấy nước qua lưới lọc trước khi thả bột 2- 3 ngày, mực nước đạt 0.8 – 1,2 m. Khi nước đạt độ sâu 0,8- 1,0 m tiến hành bón vôi CaCO3: 20- 30 kg/1.000m2 ao nuôi.

    Gây thức ăn tự nhiên trong ao. Với độ sâu nước từ 1,0- 1,2m, có thể chọn một trong hai cách sau:

    + Thức ăn 40% Protein: 1- 3 kg/1.000 m2 kết hợp với men vi sinh 60- 100 gr/1.000 m2 (ngâm 12- 24 giờ trước khi sử dụng).

    + Super benthos 5- 10 kg/1.000 m2 (không sử dụng thức ăn và men vi sinh)

    Cuối cùng, để lắng nước 1- 2 ngày trước khi tiến hành thả cá bột và xử lý yuca trước khi thả cá bột 1- 3 tiếng với liều sử dụng 0,1- 0,15 lít/1.000 m3.

    Thả cá bột:

    Thời gian tốt nhất trong ngày vào lúc 6- 9h hoặc từ 19- 22h với mật độ nuôi từ 400- 600 con/m2. Đặc biệt cần ngâm bao từ 10- 15 phút trước khi thả cá để cân bằng nhiệt độ trong và ngoài bao, tránh cá bột bị sốc nhiệt dẫn đến cá yếu và chết.

    Ngoài ra, bà con cũng cần chú ý tới vị trí thả cá bột:

    + Thả trên gió, gần nơi cấp nước giúp cá phân tán điều ao, oxy nhiều.

    + Thả tập trung vào chỗ đáy ao ít bùn nhất; nên thả trên tấm nilon kích thước 4x6m, đặt căng cách đáy 20- 30 cm, sục khí trên tấm nilon.

    + Thả cá từ trên ghe. Nếu đứng thả dưới ao thì hạn chế đi lại.

    Đánh giá chất lượng cá bột:

    Trước khi thả cần quan sát góc bao chứa cá xem có cá chết nhiều không; Cá bơi lội hoạt động mạnh hay không? Ngoài ra, bà con cũng có thể cho cá vào thau quan sát xem cá bơi mạnh sau 5 phút không? Cá bơi lội theo chiều thẳng đứng không?

    Sau khi thả cá bột 1 ngày thì vớt cá ở đầu, giữa, cuối ao cách đáy 10 cm theo hướng từ đỉnh xuống đáy và vòng lên. Nếu vợt có đường kính 40 cm thì trung bình vớt được 100 con/lần; Nếu vợt có đường kính 30 cm, trung bình vớt được 30- 40 con/lần.

    2 ngày sau khi thả cần chú ý xem màu sắc bụng cá vô mồi hay chưa; Kích cỡ và hoạt động của cá so với ngày đầu thay đổi như thế nào?

    Sau 3- 4 ngày, xem bụng cá có thức ăn điều hay không bằng cách vớt xem sinh khối trứng nước trong ao để điều chỉnh lượng thức ăn hàng ngày cho phù hợp.

    Ghi chép và phân tích dữ liệu ao nuôi

    – Ghi chép đầy đủ các chỉ tiêu theo dõi trong nhật ký nuôi cá như: Môi trường, tình trạng sức khỏe cá, thức ăn, thuốc xử lý vào sổ nhật ký nuôi cá.

    – Phân tích các số liệu kỹ thuật dựa trên sổ nhật ký nuôi cá để có các giải pháp xử lý kịp thời trong quá trình nuôi cũng như đúc kết kinh nghiệm cho vụ nuôi kế tiếp.

    – Tổng hợp kết quả ao nuôi để đánh giá các định mức kỹ thuật, chi phí nuôi cá và hiệu quả kinh tế của từng ao.

    pv

    Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Ương Cá Bột Lên Cá Giống Cá Rô Đồng trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!