Xu Hướng 2/2024 # Kỹ Thuật Nuôi Cá Bống Tượng Thương Phẩm (Oxyeleotris Marmoratus Bleeker) # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Nuôi Cá Bống Tượng Thương Phẩm (Oxyeleotris Marmoratus Bleeker) được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kỹ thuật nuôi cá bống tượng

Kỹ thuật nuôi cá bống tượng thương phẩm (Oxyeleotris marmoratus Bleeker)

1. Nuôi CBT ở ao:

a. Chọn ao nuôi CBT:

Có vị trí phải gần nơi có nguồn nước sạch dồi dào, cung suốt thời gian nuôi cá (nước pH 7-8,3, nước không bị nhiễm độc, nước có cây), ao có nước lưu thông tốt thì nuôi mật độ nuôi càng cao. Đất phải giữ được nước, đất không có phèn tiềm tàng. Ao có nước thủy triều lên xuống hàng ngày nuôi cá càng tốt. Ao có diện tích 50-2000m vuông tốt nhất 300-400m vuông, nước sâu trung bình 1,5-1,8m.

b. Cải tạo ao nuôi CBT:

+ Sên vét sình bùn còn đến đáy trơ, nơi không có nước phù sa, đáy ao còn lớp bùn loãng 0,1m.

+ Xâm chặt các hang, mội, tu sửa bờ đập cao hơn mực nước cao nhất hàng năm 0,5m.

+ Ao có bộng, đầu cấp nước vào, đầu thoát nước ra càng tốt. Nếu bộng ở về một phía thì có bộng dưới thoát nước đáy ao ra, bộng trên lấy nước từ mặt sông vào hoặc có thể làm một bộng nhựa ở sát đáy ao có co điều tiết nước theo yêu cầu.

+ Bón vôi bột 7-15kg/100 m vuông ao tùy đất ao phèn nhiều ít, phơi nền đáy ao được 3-7 ngày càng tốt.

c. Giống CBT:

– Chọn giống CBT tốt: cá đều cỡ, cá khỏe mạnh, không thương tật, dị hình, cá không bị chích điện, mắc câu, mắc lưới.

+ Đầu và mình cá cân đối, màu sắc sáng rõ. Cá không có vết trầy, vết do các vật bám, nguyên đuôi và vi, cá còn nguyên nhớt. Bụng và rốn cá không đỏ. Cá không có ký sinh trùng đeo bám. Lật ngửa cá lên thì thấy cá phồng mang, đuôi xòe. Cá đang ở trong nước thì nằm sát đáy. Ngâm cá vào xanh metylen thì không có vết thấm màu.

Chọn giống CBT tốt để nuôi có ý ngĩa rất quan trọng cho thành công nuôi cá, nếu còn cá yếu, cá bệnh sẽ lây lan cả đàn cá nuôi. Khi đem CBT về, không nên thả thẳng vào nơi nuôi mà tiếp tuyển chọn lần cuối: Cho các vào một phạm vi nhỏ một góc ao mương, thời gian 10-15 ngày, cho cá ăn đủ, kiểm tra cá khỏe, tốt thì thả nuôi chung với nhau.

– Cỡ CBT đều cỡ: 50-70g, 80-100g, 110-150g, 160-200g nuôi chung một nơi cá lớn đều hơn.

+ Mật độ cá nuôi 3-10 con/m vuông: Nơi nước lưu thông liên tục 8-10 con/m vuông, nơi nước lưu thông theo thủy triều 4-5 con/m vuông, nơi có nước lưu thông ít 1-2 con/m vuông. Cá trước khi thả vào ao được tắm bằng nước muối 2-3g/ lít 10-15 phút hoặc formol 25ml/m khối nước, thuốc tím 20g/m khối nước 15-30 phút, nếu còn ký sinh trùng gỡ bằng tay.

– Trong ao nuôi CBT còn thả nuôi ghép cá tép làm thức ăn ở tại chỗ cho cá:

+ Ương nuôi tép ở ao nuôi CBT.

+ Ương nuôi cá sặt bướm, cá bảy màu chung với CBT.

+ CBT sống ở đáy, thích ăn các loài cá sống ở đáy: cá trôi Ấn Độ, cá hường. Thả thử 10% cá sống làm thức ăn, sau 5 ngày cá trôi và cá hường không còn, riêng cá mè Vinh còn một phần. Nếu các giống cá trên giá thành sản xuất 5000-7000đ/kg, hệ số thức ăn là 6 thì nuôi CBT vẫn còn lời.

d. Cho CBT ăn:

– Nuôi ghép cá tép tạo thức ăn ở tại cỗ cho CBT.

– CBT thích ăn thức ăn tươi sống, thức ăn ương thối cá không ăn, cá có ướp chất hóa học cá thường bị bệnh, cắt thức ăn vừa cỡ cho cá ăn, bỏ ruột.

– Tùy thực tế mà tăng giảm lượng thức ăn, cho ăn thức ăn vào sàn, kiểm tra sau 1 giờ, cho cá ăn ngày 3 lần sáng, chiều và tối.

– Cỡ cá nhỏ hơn 10g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 8-12.

– Cỡ cá  10-12g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 6-10.

– Cỡ cá 20-50g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 4-8.

– Cỡ cá 50-100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3,5-6.

– Cỡ cá 100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3-5.

e. Quản lý chăm sóc CBT nuôi:

– Thường xuyên thay nước sạch cho CBT, loại bỏ nước dơ: nếu sử dụng nước thủy triều thì khi nước ròng 2/3 sông chênh lệch nước ao và sông lớn, rút bộng ra nước chảy mãnh thải các chất dơ từ đáy ao ra sông. Khi nước lớn 2/3 sông, lấy nước mới vào, nước sông lớn đã hòa loãng giảm độ dơ, lấy nước sạch vào ao, kích thích cá phat triển. CBT nuôi ở nước tốt lớn nhanh hơn nước xấu, nuôi ở nước lưu thông lớn nhanh hơn nước tĩnh 24-29% và nước lưu thông nhiều nuôi mật độ càng cao.

– Đảm bảo chất lượng thức ăn là động vật cho CBT là tươi, không ướp hóa chất, số lượng cho ăn đủ, không để thức ăn dư.

– Tạo điều kiện cho cá bắt mồi liên tục, ngày và đêm: cá thường sống ở đáy làm thức ăn tự nhiên cho cá hoặc đưa cá sống từ đáy ao sang mé ao, bằng tạo mé cỏ tối nước nước dầy ở từng đoạn mương ao (thả lục bình ở nơi yên tĩnh). Khi cá đã sống ở mé ao, cá giảm bệnh, cá tép con ban ngày trú vào rong cỏ sẽ làm mồi ăn trực tiếp cho CBT. Nuôi CBT mà cá không có đớp mồi ban ngày là điều kiện sống ở ao mương chưa tốt.

– CBT là cá dữ nhưng nhát, ban ngày nằm sát đáy ao, hay hốc nên dễ bệnh ký sinh trùng (mỏ neo, rận cá,…) làm cá chậm lớn. Dùng lá xoan bó thành bó treo ở đầu cống nước ra vào hoặc dùng Dipterex (Dipterex la thuoc thu y thuy san da duoc bo thuy san cam su dung trong san xuat kinh doanh thuy san theo quyet dinh 07/2005/QD-BTS ngay 24/02/2005) liều lượng 0,7-10g/m khối nước tắm cá 10-15 phút, sau đó cho nước mới vào, cứ 3 ngày làm một lần đến khi cá hết bệnh.

– Nuôi CBT ở ao nếu tạo điều kiện cho cá ăn và nước tốt, lưu thông thì cá lớn như nuôi ở bè, cá ít bệnh so với bè.

f. Thu hoạch CBT:

– Thu tỉa thì dùng lọp, thả mồi bắt.

– Thu cuối vụ thì tát cạn, CBT thường lặn sâu vào đáy bùn có khi đến 1m, khó bắt. Cần tát cạn vào chiều mát, mò bắt sơ bộ CBT có ở ao, sau đó dùng chuối cây trang ao cho bằng, cho nước vào 5cm, nửa đêm và gần sáng CBT ngóc nằm ở mặt bùn, dùng đèn soi bắt. Có nơi còn dùng dòng nước chảy bắt cá vào đêm.

2. Nuôi CBT ở ao gắn với bè lồng:

Do điều kiện nuôi ở từng nơi, nuôi ở lồng thì vào mùa khô lượng nước ở sông rạch thấp, nước thường bị ô nhiễm, nuôi CBT thường dễ bị bệnh và cá chậm lớn, thời gian này lồng bè thường được sửa chữa và nuôi loại cá khác. CBT thịt được nuôi ở ao vào thời gian này, cá đạt cỡ 200-300g. Khi nước ở sông rạch tốt, đưa cá nuôi từ ao mương ra lồng bè nuôi vỗ béo để cá lớn nhanh, sạch, bán được giá cao. Cần có kết hợp chặt chẽ nuôi CBT ở ao và lồng bè là nâng cao hiệu quả của nuôi CBT. Kỹ thuật như phần nuôi ở ao và ở lồng bè.

3. Nuôi CBT ở ruộng lúa:

– Ruộng lúa nuôi cá trắng (mè trắng, chép trôi, mè vình, rô phi, hường …) các loại cá này chủ yếu ăn rong cỏ, mùn bả hữu cơ, sinh vật phù du. Chưa có loại cá ăn tép, cá tạp, động vật nhỏ có ở trong nước, khi đó loại cá tép con ngày có ở trong ruộng lúa rất nhiều. Khi chuẩn bị vụ lúa Đông Xuân mỗi ha có từ vài chục đến vài trăm kg cá tép vụn có thể làm thức ăn tốt cho CBT.

– Mật độ thả ghép: 1 con/5-10m vuông ruộng.

– Tạo điều kiện cho CBT ăn mồi tự nhiên ó ở ruộng: từng đoạn mương bao, chọn nơi êm, thả lục bình dầy làm nơi tối nước để CBT sống, cá tép tự nhiên vào cỏ trú, làm mồi ăn tự nhiên cho CBT.

– Cuối vụ thu hoạch cá trắng, có sản lượng cao, giá trị thấp, song giá trị CBT nuôi ghép lại cao hơn hẳn cá trắng nuôi chính.

4. Nuôi CBT ở lồng bè.

a. Chọn nơi nuôi CBT:

– Nước sông rạch, hồ chứa sạch, có dòng chảy đều, nước tốt suốt thời gian nuôi, lưu tốc nước 0,2-1m/giấy. Nơi có đủ nguyên liệu làm thức ăn cho cá.

– Cần tránh: Nơi nước nông cạn, nước không chảy, không có gió. Nơi nước chảy quá mạnh, sóng to, gió lớn, tàu bè qua lại nhiều, có tiếng động mạnh và cản trở giao thông. Nơi có nguồn nước nhiễm bẩn thuộc nông nghiệp, chất thải từ đồng ruộng, công nghiệp, nước phèn, nước đen. Nơi khúc quanh cửa sông, mùn bả hữu cơ tích tụ nhiều. Nơi có quá nhiều rong cỏ. Nơi có quá nhiều lồng bè đặt gần nhau.

b. Thiết kế lồng bè:

– Nuôi CBT nên làm lồng bè loại nhỏ: 1×1,5×1,2m 3x4x1,5m dễ xử lý quá trình nuôi. Nguyên liệu có thể bằng tre gỗ.

– Bè đóng kín 3 mặt: đáy và 2 bên hông, mặt trước và mặt sau đóng lưới hoặc nẹp tre, gỗ có kẽ thưa.

c. Thời vụ thả cá:

– Tùy môi trường nước và giống CBT có ở từng nơi mà thời vụ thả cá nuôi có thay đổi, thông thường từ tháng 6-7 đến tháng 12.

– Cỡ cá theo quy cỡ của sản xuất cá giống hay bắt tự nhiên: 50-70g, 80-100g, 160-200g. Mật độ thả từ 20-80 con/ m vuông, thông thường 25-40 con/ m vuông.

– Chất lượng giống cá trước khi thả phải thật tốt, cá đều cỡ, cá được khử trùng bằng nước muối 3-4%, tắm trong 15-20 phút hoặc Malachite green (thuốc này đã bị cấm sử dụng theo QĐ 20/2003/QĐ-BTS) một phần triệu.

d. Thức ăn:

– Tận dụng thế mạnh thức ăn có ở địa phương: tôm tép, cá nhỏ, trùng, ốc, cua, … cho cá ăn trực tiếp. Thức ăn phải tươi, không được muối hóa chất. Khi nguồn thức ăn này giảm, giá cao, có thể thay một phần bằng thức ăn hỗn hợp.

Công thức 1:

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 55-60%

+ Dầu cá : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Công thức 2:

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 50-60%

+ Trùn đất băm nhỏ : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Lượng thức ăn hàng ngày 5-10% trọng lượng cá nuôi trong bè.

Thời gian cho ăn vào sáng sớm và chiều tối.

Thức ăn cho vào sàn, treo lơ lửng trong lồng bè, cách mặt nước 40-50cm. Mỗi bè lồng có 1-3 sàn ăn.

Có thể nuôi cá sống: cá săt, cá hường, cá trôi, rô phi, cá 7 màu, ốc, nhái làm thức ăn cho CBT.

e. Chăm sóc quản lý:

– Cho cá ăn đủ, đều, không để thức ăn dư thối.

– Hàng tuần cọ rửa lồng bè một lần và cọ vét thức ăn dư rơi vãi, phù sa ở đáy bè.

– Nếu cá bị bệnh trùng mỏ neo, dùng lá xoan bó thành bó để dưới đáy bè, nước lá xoan tiết ra làm trùng rơi khỏi cá.

– Nếu cá bị bệnh tuột nhớt, cuốn nhớt làm cá chết hàng loạt và nhanh chóng: cần chú ý nguồn nước qua bè nuôi chất phải tốt, không làm xây xát cá khi chuyển về bè. Thời kỳ đầu bệnh có vết trắng ở đuôi, sau đó lan dần toàn thân cá. Phòng bệnh không nên nuôi cá mật độ quá dầy, không làm xây xát cá. Dùng vôi bột 1-2kg/ m khối nước treo ở đầu nguồn nước: trị: ngâm cá trong clorua vôi nồng độ 1ppm. Tắm cá bằng Treptomycine 25mg/l trong 30 phút đến 1 giờ. Có thể dùng cao su bịt hai đầu bè cho thuốc vào bè tắm cá.

f. Thu hoạch:

– Cá nuôi sau 5-7 tháng đạt cỡ trên 400g/con thì thuhoạch.

– Hàng tháng nên đánh tỉa cá đạt tiêu chuẩn một lần. cá chưa đat nên tiếp tục nuôi và bổ sung giống.

– Cuối vụ thu hoạch tổng thể, vệ sinh bè lồng, chuẩn bị cho vụ nuôi sau.

Kỹ thuật nuôi thủy đặc sản nước ngọt – Dương Tấn Lộc – NXB TPHCM

Kỹ thuật nuôi cá bông tượng

1. Xây dựng ao:

– Ao nuôi nên đặt gần nguồn nước đế cấp và thoát dễ dàng.

– Vùng đất ít bị nhiễm phèn.

– Gần nhà để dễ quản lý và chăm sóc.

– Diện tích ao thích hợp từ 200-500m2, sâu 1,2-1,5m

2. Cải tạo ao:

– Sên vét bùn đáy, lấp kín hang hốc, lỗ mọi.

– Rào lưới xung quanh bờ ao, phòng tránh cá thoát ra ngoài.

– Bón vôi bung CaO từ 7-10kg/100m2 để nâng pH đất, diệt tạp và mầm bệnh.

– Diệt cá dữ bằng dây thuốc cá với liều lượng 1kg/70m3 nước. Sau đó lấy nước vào qua túi lọc bằng vải KT.

– Kiểm tra pH, khi pH đạt 7-8 thì tiến hành bón phân gây màu bằng:

+ Phân vô cơ: DAP + Urê (tỉ lệ 1:1) với liều lượng 2kg/1.000m2

+ Phân hữu cơ: phân chuồng đã ủ hoai (với 2-3% vôi CaO) liều lượng 80 kg/100m2

Sau khi bón phân khoảng 5-7 ngày thấy nước có màu xanh đọt chuối non (độ trong 40-50cm) thì tiến hành thả giống.

3. Thả giống:

Chọn cá khoẻ mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc tươi sáng, bơi lội linh hoạt, cơ thể không xây xát. Cá giống cỡ 10-12 con/kg, thả mật độ từ  2-3 con/m2.

Nên thả giống lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Cá mới mua về trước khi thả cần tắm qua dung dịch muối có nồng độ 2% trong thời gian 5-10 phút để loại trừ kí sinh và sát trùng vết thương do xay xát trong quá trình đánh bắt và vận chuyển.

4. Chăm sóc và quản lý:

– Thức ăn sử dụng cho cá là thức ăn tươi sống (tôm, tép, cá, thịt, ốc, hến…) được cắt nhỏ để cho cá dễ ăn (thức ăn cần được rửa sạch).

– Cho cá ăn 2 lần/ngày vào lúc sáng sớm (6-7h) và chiều mát (18-19h), lượng thức ăn mỗi ngày bằng 3-5% tổng trọng lượng đàn cá trong ao.

– Dụng cụ cho cá ăn là sàng tre đan thưa, nhẵn hoặc bằng sàng lưới cước được đặt cách mặt nước 40-50cm.

– Sau khi cho cá ăn khoảng 30phút đến 1giờ kiểm tra lại sàng ăn để xem khả năng cá ăn mồi, qua đó điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp ở lần kế tiếp.

– Phải chà rửa sàng ăn mỗi ngày để tránh nấm, sinh vật ký sinh, vi khuẩn bám có thể ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của cá.

– Thường xuyên kiểm tra bờ, cống, chống rò rĩ và mưa tràn bờ thất thoát cá. Cần kiểm tra pH của ao nhất là sau những trận mưa lớn.

– Hàng ngày thăm ao vào lúc sáng sớm quan sát hoạt động của cá và kiểm tra môi trường nước để có biện pháp xử lý kịp thời.

– Thường xuyên thay nước mới để đảm bảo nước tốt. Lượng nước thay khoảng 20% lượng nước có trong ao.

5. Phòng bệnh:

Định kỳ 10 ngày dùng vôi bột với liều lượng 5g/m3 hoà nước tạt để ngừa bệnh cho cá.

Thường xuyên bổ sung vitamine C để tăng sức đề kháng cho cá và định kỳ trộn tỏi vào thức ăn với liều lượng 4-5g/kg thức ăn để phòng bệnh đường ruột cho cá.

KS. Nguyễn Thị Thy Nga – Khuyến ngư Kiên Giang, 3/5/2006

Nhấn vào đây để xem các tin kỹ thuật nuôi cá bống tượng

Chọn Giống Cá Bống Tượng (Oxyeleotris Marmoratus Bleeker)

Cá bống tượng là loài lớn nhất trong họ cá bống. Cá sốngnhiều ở các nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm. Ở nước ta cá sinh trưởng và phát triển tốt, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, quanh năm khí hậu nắng nóng và mưa nhiều rất thích hợp với cá bống tượng.

Trước đây người nuôi cá bống tượng thường mua cá giống ở chợ, nguồn cá này được bắt bằng hình thức cào hoặc đặt lợp, vì thế chất lượng không được đảm bảo và số lượng cũng ít, người nuôi cá bống tượng ít khi chọn được nguồn cá giống như ong muốn. Hiện nay, ngành thủy sản đã sản xuất được cá bống tượng giống bằng phương pháp nhân tạo. Xin giới thiệu cách chọn cá bống tượng giống, nhằm giúp bà con nông dân trong nghề nuôi cá bống tương trong ao hoặc trong lồng bè.

Kinh nghiệm chọn đúng giống

Nếu trông bên ngoài, cá bống tương giống với loài cá bống khác, nhất là trong thời kỳ còn nhỏ. Nhưng chúng có đặc điểm không thể lầm lẫn được trong họ nhà bống là dưới đuôi có hình chữ V màu đen.

Kinh nghiệm nhìn bề ngoài

Cần chọn những con cá có kích cỡ đều nhau. Nếu trong đàn cá có kích cỡ khác nhau, chứng tỏ không phải chúng cùng sinh ra một nguồn hoặc chế độ dinh dưỡng không đều. Nếu thả những con cá có kích thước khác nhau thì rất khó cho vấn đề chăm sóc và rất bất lợi cho cạnh tranh thức ăn trong đàn. Trọng lượng trung bình trong đàn cá từ 50-100g/con là thích hợp nhất (không nên quá 5% số lượng cá lớn hơn hoặc nhỏ hơn trọng lượng trung bình đó). Cá giống khi lật ngửa ra thấy vảy bụng và lưng phải đều, các tia vi còn nguyên, cá nhiều nhớt, màu lưng của cá hơi xám, da bóng, mang phùng ra thật to và các tia vi xòe ra hết cỡ, đó là con giống tốt.

Kinh nghiệm theo dõi lúc bơi

Nếu thả cá vào chậu nước sạch, chúng bơi rất nhanh, theo dõi các tia vi hoạt động đều, đó là cá giống khỏe. Cần chú ý những con cá khi bơi lờ đờ, thỉnh thoảng chúng ngưng hoạt động tia vây hoặc nằm ngửa, có thể là cá bị cào điện hoặc bị bệnh, cần phải loại bỏ vì khi thả chúng xuống ao chúng cũng sẽ chết và lây bệnh cho cả đàn. Ngoài ra cũng cần chú ý nhưng con cá khi thả vào chậu, chúng nhào lộn dữ dội, đây có thể là những con cá bị sán lá ký sinh.

Kinh nghiệm theo dõi những vết bệnh

Có thể lấy ngẫu nhiên 100 con trong đàn, rồi thả vào keo thủy tinh chứa nước sạch. Nhìn thật kỹ xem có nhiều con bụng dưới bị sưng đỏ không, có thể là chúng đang bị nhiễm bệnh ghẻ do vi khuẩn Aeromonasssp. Hoặc là do trùng mỏ neo (Lemea) hoặc dưới đuôi có thấy một chùm trắng giống bông gòn, có thể là do nấm thủy mi tấn công. Trùng mỏ neo hoặc nấm thủy mi có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Trung bình trong đàn không được quá 2% số con bệnh thì mới có thể chấp nhận được.

KS. Phương Thanh (Trại cá giống Trà Nóc – TP. Cần Thơ) – KHPT, 9/04/2004

Khi nuôi cá bống tượng, trước hết phải chọn con giống có kích cỡ đều nhau. Nếu không, thời gian nuôi thả giống buộc phải kéo dài, và như vậy sẽ ảnh hưởng đến kết quả thu hoạch cá.

Khi chọn giống cá nên chọn cá có trọng lượng từ 100-120g/con. Nên chọn con giống có đuôi xoè rộng, nhiều nhớt và nhất là không bị trầy xước, bệnh tật. Nếu phát hiện cá có những biểu hiện trên thì loại bỏ ngay. Có thể tắm cho cá bằng nước muối pha với tỉ lệ 2% trong khoảng 4-6 phút. Chỉ nên thả cá trong lồng với mật độ 80-100 con/m2.

Trong thời kỳ đầu, nên cho cá ăn các loại cá nhỏ như cá linh, cá cơm, cá lòng tong cắt nhỏ. Hoặc dùng tép, giun làm thức ăn. Lượng thức ăn hàng ngày nên giữ ở mức 3-5% trọng lượng cá nuôi trong lồng. Thời điểm tốt nhất để cho cá ăn là lúc 6-7 giờ tối. Mỗi ngày chỉ cho ăn một lần.

Hàng tuần, nên cho cá ăn thêm các loại vitamin C, Tetracycline, Premix bằng cách tán nhỏ, trộn vào thức ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho cá nuôi.

Với cá giống cỡ nhỏ từ 50-70g/con, thu hoạch trong thời gian từ 8-10 tháng nuôi. Còn đối với giống cá lớn, từ 100-150g/con có thể thu hoạch sau 7 tháng nuôi.

Đặc biệt cá bống tượng rất nhạy cảm với thời tiết. Những khi thời tiết xấu, mặc dù đến giờ ăn nhưng cá nổi lên rất ít. Ngược lại, khi thời tiết tốt, đến giờ ăn cá nổi lên rất đều.

NTNN 14/4/2004

Nhấn vào đây để xem các tin kỹ thuật nuôi cá bống tượng

Kỹ Thuật Nuôi Thương Phẩm Cá Bống Tượng

I. CHỌN CÁ GIỐNG

1. Kinh nghiệm chọn đúng giống

Nếu trông bên ngoài, cá bống tượng giống với loài cá bống khác, nhất là trong thời kỳ còn nhỏ. Nhưng chúng có đặc điểm không thể lầm lẫn được trong họ nhà bống là dưới đuôi có hình chữ V màu đen.

2. Kinh nghiệm nhìn bề ngoài

Cần chọn những con cá có kích cỡ đều nhau. Nếu trong đàn cá có kích cỡ khác nhau, chứng tỏ không phải chúng cùng sinh ra một nguồn hoặc chế độ dinh dưỡng không đều. Nếu thả những con cá có kích thước khác nhau thì rất khó cho vấn đề chăm sóc và rất bất lợi cho cạnh tranh thức ăn trong đàn. Trọng lượng trung bình trong đàn cá từ 50-100g/con là thích hợp nhất (không nên quá 5% số lượng cá lớn hơn hoặc nhỏ hơn trọng lượng trung bình đó). Cá giống khi lật ngửa ra thấy vảy bụng và lưng phải đều, các tia vi còn nguyên, cá nhiều nhớt, màu lưng của cá hơi xám, da bóng, mang phùng ra thật to và các tia vi xòe ra hết cỡ, đó là con giống tốt.

3. Kinh nghiệm theo dõi lúc bơi

Nếu thả cá vào chậu nước sạch, chúng bơi rất nhanh, theo dõi các tia vi hoạt động đều, đó là cá giống khỏe. Cần chú ý những con cá khi bơi lờ đờ, thỉnh thoảng chúng ngưng hoạt động tia vây hoặc nằm ngửa, có thể là cá bị cào điện hoặc bị bệnh, cần phải loại bỏ vì khi thả chúng xuống ao chúng cũng sẽ chết và lây bệnh cho cả đàn. Ngoài ra cũng cần chú ý nhưng con cá khi thả vào chậu, chúng nhào lộn dữ dội, đây có thể là những con cá bị sán lá ký sinh.

4. Kinh nghiệm theo dõi những vết bệnh

Có thể lấy ngẫu nhiên 100 con trong đàn, rồi thả vào keo thủy tinh chứa nước sạch. Nhìn thật kỹ xem có nhiều con bụng dưới bị sưng đỏ không, có thể là chúng đang bị nhiễm bệnh ghẻ do vi khuẩn Aeromonasssp. Hoặc là do trùng mỏ neo (Lemea) hoặc dưới đuôi có thấy một chùm trắng giống bông gòn, có thể là do nấm thủy mi tấn công. Trùng mỏ neo hoặc nấm thủy mi có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Trung bình trong đàn không được quá 2% số con bệnh thì mới có thể chấp nhận được.

Thả giống: Cá trước khi thả vào ao được tắm bằng nước muối 2-3g/ lít 10-15 phút hoặc formol 25ml/m khối nước, thuốc tím 20g/m khối nước 15-30 phút, nếu còn ký sinh trùng gỡ bằng tay.

II. NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG TRONG AO ĐẤT

1. Cải tạo ao:

– Sên vét sình bùn còn đến đáy trơ, nơi không có nước phù sa, đáy ao còn lớp bùn loãng 0,1m. – Nên có đầu cấp và thoát nước riêng cầng tốt. – Bón vôi bột 7-15kg/100 m vuông ao tùy đất ao phèn nhiều ít, phơi nền đáy ao được 3-7 ngày càng tốt. – Giữ pH ổn định 7-8,3, mực nước từ 1,5-1,8m.

2. Gây nuôi thức ăn tự nhiên:

Trong ao nuôi cá bống tượng nên thả nuôi ghép cá tép làm thức ăn ở tại chỗ cho cá: + Ương nuôi tép ở ao nuôi cá bống tượng. + Ương nuôi cá sặt bướm, cá bảy màu, cá bạc đầu chung với cá bống tượng.

3. Thả giống:

Cá trước khi thả vào ao được tắm bằng nước muối 2-3g/ lít 10-15 phút hoặc formol 25ml/m khối nước, thuốc tím 20g/m khối nước 15-30 phút, nếu còn ký sinh trùng gỡ bằng tay.

4. Cho ăn:

-  Nuôi ghép cá tép tạo thức ăn ở tại cỗ cho cá bống tượng. -  cá bống tượng thích ăn thức ăn tươi sống, thức ăn ương thối cá không ăn, cá có ướp chất hóa học cá thường bị bệnh, cắt thức ăn vừa cỡ cho cá ăn, bỏ ruột. -  Tùy thực tế mà tăng giảm lượng thức ăn, cho ăn thức ăn vào sàn, kiểm tra sau 1 giờ, cho cá ăn ngày 3 lần sáng, chiều và tối. -  Cỡ cá nhỏ hơn 10g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 8-12. -  Cỡ cá 10-12g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 6-10. -  Cỡ cá 20-50g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 4-8. -  Cỡ cá 50-100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3,5-6. -  Cỡ cá 100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3-5. **  Để đạt hiệu quả kinh tế cao nên nuôi cá mè trắn dùng lam thức ăn cho cá bống tượng. Vì cá mè trắn ăn lọc chủ yếu là tảo nên chi phí sản phẩm rất thấp, chỉ cần có diện tích mặt nước lớn, gây tảo. Gây tảo bằng phân chuồng (heo, gà), phân vi sinh hoặc phân hóa học (N-P-K; Ure…). Ngoài ra nên thả nuôi cá phi vào ao nuôi cá bống tượng hoặc thả riêng để làm ngồn thức ăn có giá thành thấp.

5. Quản lý chăm sóc cá bống tượng nuôi:

-  Thường xuyên thay nước sạch cho cá bống tượng, loại bỏ nước dơ: nếu sử dụng nước thủy triều thì khi nước ròng 2/3 sông chênh lệch nước ao và sông lớn, rút bộng ra nước chảy mãnh thải các chất dơ từ đáy ao ra sông. Khi nước lớn 2/3 sông, lấy nước mới vào, nước sông lớn đã hòa loãng giảm độ dơ, lấy nước sạch vào ao, kích thích cá phat triển. cá bống tượng nuôi ở nước tốt lớn nhanh hơn nước xấu, nuôi ở nước lưu thông lớn nhanh hơn nước tĩnh 24-29% và nước lưu thông nhiều nuôi mật độ càng cao.

-  Đảm bảo chất lượng thức ăn là động vật cho cá bống tượng là tươi, không ướp hóa chất, số lượng cho ăn đủ, không để thức ăn dư.

-  Tạo điều kiện cho cá bắt mồi liên tục, ngày và đêm: cá thường sống ở đáy làm thức ăn tự nhiên cho cá hoặc đưa cá sống từ đáy ao sang mé ao, bằng tạo mé cỏ tối nước nước dầy ở từng đoạn mương ao (thả lục bình ở nơi yên tĩnh). Khi cá đã sống ở mé ao, cá giảm bệnh, cá tép con ban ngày trú vào rong cỏ sẽ làm mồi ăn trực tiếp cho cá bống tượng. Nuôi cá bống tượng mà cá không có đớp mồi ban ngày là điều kiện sống ở ao mương chưa tốt.

-  cá bống tượng là cá dữ nhưng nhát, ban ngày nằm sát đáy ao, hay hốc nên dễ bệnh ký sinh trùng (mỏ neo, rận cá,…) làm cá chậm lớn. Dùng lá xoan bó thành bó treo ở đầu cống nước ra vào hoặc dùng Dipterex liều lượng 0,7-10g/m khối nước tắm cá 10-15 phút, sau đó cho nước mới vào, cứ 3 ngày làm một lần đến khi cá hết bệnh. -  Nuôi cá bống tượng ở ao nếu tạo điều kiện cho cá ăn và nước tốt, lưu thông thì cá lớn như nuôi ở bè, cá ít bệnh so với bè.

III. NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG TRÊN RUỘNG LÚA

 Ruộng lúa nuôi cá trắng (mè trắng, chép trôi, mè vình, rô phi, hường …) các loại cá này chủ yếu ăn rong cỏ, mùn bả hữu cơ, sinh vật phù du. Chưa có loại cá ăn tép, cá tạp, động vật nhỏ có ở trong nước, khi đó loại cá tép con ngày có ở trong ruộng lúa rất nhiều. Khi chuẩn bị vụ lúa Đông Xuân mỗi ha có từ vài chục đến vài trăm kg cá tép vụn có thể làm thức ăn tốt cho cá bống tượng.

-  Mật độ thả ghép: 1 con/5-10m vuông ruộng. -  Tạo điều kiện cho cá bống tượng ăn mồi tự nhiên ó ở ruộng: từng đoạn mương bao, chọn nơi êm, thả lục bình dầy làm nơi tối nước để cá bống tượng sống, cá tép tự nhiên vào cỏ trú, làm mồi ăn tự nhiên cho cá bống tượng. -  Cuối vụ thu hoạch cá trắng, có sản lượng cao, giá trị thấp, song giá trị cá bống tượng nuôi ghép lại cao hơn hẳn cá trắng nuôi chính.

IV. NUÔI CÁ BỐNG TƯỢNG TRONG LỒNG BÈ

1. Chọn nơi nuôi cá bống tượng:

– Nước sông rạch, hồ chứa sạch, có dòng chảy đều, nước tốt suốt thời gian nuôi, lưu tốc nước 0,2-1m/giấy. Nơi có đủ nguyên liệu làm thức ăn cho cá. – Cần tránh: Nơi nước nông cạn, nước không chảy, không có gió. Nơi nước chảy quá mạnh, sóng to, gió lớn, tàu bè qua lại nhiều, có tiếng động mạnh và cản trở giao thông. Nơi có nguồn nước nhiễm bẩn thuộc nông nghiệp, chất thải từ đồng ruộng, công nghiệp, nước phèn, nước đen. Nơi khúc quanh cửa sông, mùn bả hữu cơ tích tụ nhiều. Nơi có quá nhiều rong cỏ. Nơi có quá nhiều lồng bè đặt gần nhau.

2. Thiết kế lồng bè:

-  Nuôi cá bống tượng nên làm lồng bè loại nhỏ: 1×1,5×1,2m 3x4x1,5m dễ xử lý quá trình nuôi. Nguyên liệu có thể bằng tre gỗ. – Bè đóng kín 3 mặt: đáy và 2 bên hông, mặt trước và mặt sau đóng lưới hoặc nẹp tre, gỗ có kẽ thưa.

3. Thời vụ thả cá:

-  Tùy môi trường nước và giống cá bống tượng có ở từng nơi mà thời vụ thả cá nuôi có thay đổi, thông thường từ tháng 6-7 đến tháng 12. -  Cỡ cá theo quy cỡ của sản xuất cá giống hay bắt tự nhiên: 50-70g, 80-100g, 160-200g. Mật độ thả từ 20-80 con/ m vuông, thông thường 25-40 con/ m vuông. -  Chất lượng giống cá trước khi thả phải thật tốt, cá đều cỡ, cá được khử trùng bằng nước muối 3-4%, tắm trong 15-20 phút hoặc Malachite green một phần triệu.

4. Thức ăn:

-  Tận dụng thế mạnh thức ăn có ở địa phương: tôm tép, cá nhỏ, trùng, ốc, cua, … cho cá ăn trực tiếp. Thức ăn phải tươi, không được muối hóa chất. Khi nguồn thức ăn này giảm, giá cao, có thể thay một phần bằng thức ăn hỗn hợp.

Công thức 1: + Bột cá : 30-35% + Cám, bột gạo, mù, bắp: 55-60% + Dầu cá : 7-10% + Bột lá gòn : 3-5%

Công thức 2: + Bột cá : 30-35% + Cám, bột gạo, mù, bắp: 50-60% + Trùn đất băm nhỏ : 7-10% + Bột lá gòn : 3-5%

Lượng thức ăn hàng ngày 5-10% trọng lượng cá nuôi trong bè. Thời gian cho ăn vào sáng sớm và chiều tối. Thức ăn cho vào sàn, treo lơ lửng trong lồng bè, cách mặt nước 40-50cm. Mỗi bè lồng có 1-3 sàn ăn. Có thể nuôi cá sống: cá săt, cá hường, cá trôi, rô phi, cá 7 màu, ốc, nhái làm thức ăn cho cá bống tượng.

5. Chăm sóc quản lý:

-  Cho cá ăn đủ, đều, không để thức ăn dư thối. -  Hàng tuần cọ rửa lồng bè một lần và cọ vét thức ăn dư rơi vãi, phù sa ở đáy bè. -  Nếu cá bị bệnh trùng mỏ neo, dùng lá xoan bó thành bó để dưới đáy bè, nước lá xoan tiết ra làm trùng rơi khỏi cá. -  Nếu cá bị bệnh tuột nhớt, cuốn nhớt làm cá chết hàng loạt và nhanh chóng: cần chú ý nguồn nước qua bè nuôi chất phải tốt, không làm xây xát cá khi chuyển về bè. Thời kỳ đầu bệnh có vết trắng ở đuôi, sau đó lan dần toàn thân cá. Phòng bệnh không nên nuôi cá mật độ quá dầy, không làm xây xát cá. Dùng vôi bột 1-2kg/ m khối nước treo ở đầu nguồn nước: trị: ngâm cá trong clorua vôi nồng độ 1ppm. Tắm cá bằng Treptomycine 25mg/l trong 30 phút đến 1 giờ. Có thể dùng cao su bịt hai đầu bè cho thuốc vào bè tắm cá.

V. NUÔI THÂM CANH CÁ BỐNG TƯỢNG

1. Chuẩn bị:

Ao nuôi Diện tích chúng tôi được thiết kế hình vuông, chữ nhật, sâu từ 1.2-1.5m có cống cấp và thoát nước chủ động, bờ ao cao 60cm, chắc chắn, không rò rỉ. Ao được cải tạo: đáy ao được đào nghiêng về phía cống thoát (Nếu sử dụng ao cũ, nên nạo vét chỉ dữ lại lớp bùn từ 20-30cm) rải vôi cải tạo 10-15kg/100m2 phơi đáy ao vài ngày trước khi thả cá. Lấy nườc từ ao lắng đã qua xử lý. Bố trí quạt nước 3-4 cái.

2. Chăm sóc

Sau khi đã chuẩn bị xong ao hồ, lấy nước vào ao đến mức quy định (1,2-1,5m) tiến hành thả cá, cá giống được thả vào sáng sớm hoặc chiều mát. Đêm đến từ 22h cho vận hành máy quạt đến rạng 7h hôm sau, để cung cấp oxy và kích thích cá ăn mồi.

Mặc dầu cá Bống Tượng là loài cá có cơ quan hô hấp phụ, chịu đựng được nơi có lượng oxy hoà tan thấp. Nhưng ao nuôi có sử dụng hệ thống quạt, ngoài việc cấp oxy còn tạo ra dòng nước chảy nhẹ cho ao cá. Một điều thật là lý thú! Khi ta quan sát đàn cá nuôi trong ao, khi có dòng chảy nhẹ từ máy quạt, tất cả cá nuôi đều hướng vào dòng chảy, con thì bắt mồi, con thì xoè cả kì vi tỏ ra hưng phấn, con thì phóng mình bơi ngang, bơi dọc tỏ ra rất thích thú.

Chúng tôi theo dõi và so sánh hai ao nuôi có cùng mật độ, một diện tích như nhau, sau bốn tháng nuôi, ao trang bị máy quạt có đàn cá tăng trọng gấp hai lần ao không có máy quạt? Tại sao lại xảy ra bí ẩn về tăng trọng giữa hai đàn cá. Được biết, cá Bống Tượng là loài cá sống và bắt mồi, lấy thức ăn ở tầng đáy (xem đặc điểm). Vì vậy điều kiện đáy ao có ảnh hưởng rất  lớn đến loài cá này tăng trọng. Để nói thêm tác dụng của máy quạt oxy, đối với nền đáy ao nuôi cá Bống Tượng như đã nêu trên phần đặc điểm, tập tính tự nhiên của loài cá Bống Tượng là ít khi bơi lội, năng động như các loài cá khác. Nhưng chúng hầu như lúc nào cũng nằm bất động dưới đáy ao rình bắt mồi, lấy thức ăn.

Để cá nhanh lớn trong quá trình nuôi Bống, không còn cách nào khác hơn là tạo điều khiện tối ưu cho cá,  nên ứng dụng công nghệ nuôi tuần hoàn. Sử dụng máy quạt oxy để duy trì nền đáy ao tốt, không chỉ là làm cho chất thải gom lại ở giữa ao trong suốt vụ nuôi, hoặc có điều kiện thì hút chất thải gom lại ở giữa ao theo định kỳ.

Bằng ngược lại ta nuôi bình thường, không có biện pháp vệ sinh, lâu ngày đáy ao có những vùng tích tụ chất cặn bã (thức ăn thừa, phân các loài vật?) sẽ gây bất lợi cho cá vì nhiều lý do:

– Sự tích lũy chất lắng tụ này sẽ làm  tiêu hao oxy, chúng lại còn sinh ra nhiều NH3 và H2S. Nếu ao nuôi không còn chỗ nào sạch. Buộc lòng cá phải sống và bắt mồi ở vùng bị tích tụ chất thải. Như vậy chúng phải chịu sự tổn thương cục bộ, và nguy cơ xâm nhập của nhiều tác nhân gây bệnh, đồng thời làm cá mất đi hứng thú bắt mồi, trong khi cá đang đói ăn, thậm chí không ăn, gầy còm đi? ảnh hưởng tăng trọng và mất đi đề kháng, cá dễ nhiễm bệnh cũng do nguyên nhân ao quá ô nhiễm gây nên! – Một khi môi trường nước ao và đáy ao nuôi được cải thiện, cá nuôi có thể tự hình thành hệ thống miễn dịch tự nhiên và tăng trưởng tích cực (có sự so sánh nhiều lần trong thực tiễn).

Với quy trình nuôi cá Bống Tượng ứng dụng công nghệ cao với cá giống sản xuất nhân tạo khâu chăm sóc được chia ra làm hai giai đoạn như sau:

GIAI ĐOẠN I:

Cá giống thả mật độ hợp lý, kích cỡ từ 3-4 cm, thời gian đầu thức ăn sử dụng cho cá là trùng chỉ, cá, ốc xay. Thức ăn bỏ vào sàn ăn, nếu ao diện tích 1000 m2 cần 6-8 sàn ăn. Lượng thức ăn được ăn hàng ngày từ 10 -12% trọng lượng cá. Nên thay từ 20-25% lượng nước trong ao/ngày. Kiểm tra thức ăn thừa, thiếu, loại bỏ thức ăn dư thừa, chùi giữa sàn ăn, nên ta dễ dàng kiểm tra và cân đong.

Trong quá trình nuôi như ta đã nêu trên, ta nên duy trì nguồn nước ao luôn sạch, thức ăn nên nấu chín, hoặc rửa sạch bằng dung dịch muối ăn tự nhiên cho cá nuôi (nuôi ghép các loại như :cá KILLY, tép rong ,lòng tong,cá trâm?). Khi chế biến thức ăn nên lưu ý thức ăn sao cho vừa miệng cá, khi cá tăng trọng không xay hay băm nhỏ thức ăn khi cá đã lớn và ngược lại. Sau 3-4 tháng nuôi cá đã đạt trọng lượng từ 40-70g/ con (dài từ 10-12). Giai đoạn nay:nếu ao nuôi co nuôi ghépcá mồi,nhất là loại mang đẻ như:trân châu,bình tích-vì loài cá nay đẻ con,nên cung cấp thức ăn trực tiếp cho cá con bống tưọng rất tốt,tang trọng nhanh

GIAI ĐOẠN II:

Khi cá đạt được kích cỡ từ 10-12 cm cá rất phàm ăn và nhanh lớn, lúc này ta tiến hành để thu hoạch để phân đàn cá trong ao. Nên để cá mới thu hoạch ?khỏe lại? (ít nhất là 6 giờ). Sau đó lọc, phân cỡ, tắm xử lý, để thả nuôi tiếp (xem mục xử lý con giống).

Thức ăn giai đoạn II của cá Bống Tượng vẫn là cá tép, ốc còn tươi sống, được chế biến hoặc xay nhuyễn (lưu ý kích cỡ vừa miệng cá). Khẩu phần ăn hàng ngày 7-10% tổng hợp trọng lượng đàn cá. Cho ăn ngày 2 lần  sáng ? lượng thức ăn trong ngày. Chiều ăn hết phần còn lại. Thức ăn hàng ngày được trộn thêm Premix 1-2% và chất dẫn dụ, để cá bắt mồi tích cực.

Hằng ngày cho cá ăn đầy đủ lượng chất theo dõi mức ăn của cá để điều chỉnh cho phù hợp. Định kỳ vệ sinh đàn cá và môi trường (như giai đoạn I). Hằng ngày thường xuyên theo dõi hoạt động của cá. Khi cá có biểu hiện bất thường thì nên xem xét cẩn thận lại toàn bộ quá trình chăm sóc quản lý, kiểm tra bằng cách bắt vài con (5 đến 10 con) để quan sát và kiểm tra lại toàn bộ các khâu xác định lại chính xác các nguyên nhân và biện pháp xử lý đúng và kịp thời. Một trong những biểu hiện bất thường của cá.

-  Nổi đầu một vài con ở ao nuôi. -  Cá ăn mồi chậm và thức ăn của cá giảm 30% lượng thức ăn trong điều kiện bình thường. -  Cá bỏ ăn (ăn rất ít) đột ngột. -  Trong ao có hiện tượng cá chết dù chỉ một vài con. Thông thường cá mới nhiễm bệnh thì có một trong nhiều biểu hiện như trên. Nên xử lý ngay thời điểm này, vì hiện nay bệnh trên cá Bống Tượng rất đa dạng và phức tạp. Mặt khác rất khó xử lý trong trường hợp cá chết nhiều, trong trường hợp này nếu có xử lý thì hiệu quả không cao và tốn kém nhiều. Vì cá mất khả năng đề kháng (Hội chứng bệnh) (Xem trang phòng trị).

3. Thức ăn:

Thức ăn nuôi Bống Tượng chủ yếu là động vật tươi sống. Nhưng nhờ ứng dụng và đưa các hệ thống kích thích (máy quạt, dung dịch dẫn dụ?) cá nuôi vẫn ăn các thức ăn chế biến. Điều quan trọng là thức ăn phải đủ chất lượng để cá sinh trưởng tốt.

CÔNG THỨC I (Phân vi sinh hữu cơ).

CÔNG THỨC II                                          Cá các loại                                          Ốc bươu vàng

CÔNG THỨC III Cám tổng hợp cao cấp + Dung dịch dẫn dụ = Bống Tượng Chọn thức ăn lý tưởng để nuôi cá Bống Tượng có ưu điểm như: sẵn có, rẻ tiền, có chất lượng dinh dưỡng, hấp dẫn cá ăn mồi, là đã có tính toán và cũng là tiền đề cho sự thành công.

Kỹ Thuật Nuôi Cá Bống Tượng Thương Phẩm

a. Chọn ao nuôi cá bống tượng:

Có vị trí phải gần nơi có nguồn nước sạch dồi dào, cung suốt thời gian nuôi cá (nước pH 7-8,3, nước không bị nhiễm độc, nước có cây), ao có nước lưu thông tốt thì nuôi mật độ nuôi càng cao. Đất phải giữ được nước, đất không có phèn tiềm tàng. Ao có nước thủy triều lên xuống hàng ngày nuôi cá càng tốt. Ao có diện tích 50-2000m vuông tốt nhất 300-400m vuông, nước sâu trung bình 1,5-1,8m.

b. Cải tạo ao nuôi cá bống tượng:

+ Sên vét sình bùn còn đến đáy trơ, nơi không có nước phù sa, đáy ao còn lớp bùn loãng 0,1m.

+ Xâm chặt các hang, mội, tu sửa bờ đập cao hơn mực nước cao nhất hàng năm 0,5m.

+ Ao có bộng, đầu cấp nước vào, đầu thoát nước ra càng tốt. Nếu bộng ở về một phía thì có bộng dưới thoát nước đáy ao ra, bộng trên lấy nước từ mặt sông vào hoặc có thể làm một bộng nhựa ở sát đáy ao có co điều tiết nước theo yêu cầu.

+ Bón vôi bột 7-15kg/100 m vuông ao tùy đất ao phèn nhiều ít, phơi nền đáy ao được 3-7 ngày càng tốt.

c. Giống cá bống tượng:

– Chọn giống cá bống tượng tốt: cá đều cỡ, cá khỏe mạnh, không thương tật, dị hình, cá không bị chích điện, mắc câu, mắc lưới.

+ Đầu và mình cá cân đối, màu sắc sáng rõ. Cá không có vết trầy, vết do các vật bám, nguyên đuôi và vi, cá còn nguyên nhớt. Bụng và rốn cá không đỏ. Cá không có ký sinh trùng đeo bám. Lật ngửa cá lên thì thấy cá phồng mang, đuôi xòe. Cá đang ở trong nước thì nằm sát đáy. Ngâm cá vào xanh metylen thì không có vết thấm màu.

Chọn giống cá bống tượng tốt để nuôi có ý ngĩa rất quan trọng cho thành công nuôi cá, nếu còn cá yếu, cá bệnh sẽ lây lan cả đàn cá nuôi. Khi đem CBT về, không nên thả thẳng vào nơi nuôi mà tiếp tuyển chọn lần cuối: Cho các vào một phạm vi nhỏ một góc ao mương, thời gian 10-15 ngày, cho cá ăn đủ, kiểm tra cá khỏe, tốt thì thả nuôi chung với nhau.

– Cỡ cá bống tượng đều cỡ: 50-70g, 80-100g, 110-150g, 160-200g nuôi chung một nơi cá lớn đều hơn.

+ Mật độ cá nuôi 3-10 con/m vuông: Nơi nước lưu thông liên tục 8-10 con/m vuông, nơi nước lưu thông theo thủy triều 4-5 con/m vuông, nơi có nước lưu thông ít 1-2 con/m vuông. Cá trước khi thả vào ao được tắm bằng nước muối 2-3g/ lít 10-15 phút hoặc formol 25ml/m khối nước, thuốc tím 20g/m khối nước 15-30 phút, nếu còn ký sinh trùng gỡ bằng tay.

– Trong ao nuôi cá bống tượng còn thả nuôi ghép cá tép làm thức ăn ở tại chỗ cho cá:

+ Ương nuôi tép ở ao nuôi cá bống tượng.

+ Ương nuôi cá sặt bướm, cá bảy màu chung với cá bống tượng.

+ Cá bống tượng sống ở đáy, thích ăn các loài cá sống ở đáy: cá trôi Ấn Độ, cá hường. Thả thử 10% cá sống làm thức ăn, sau 5 ngày cá trôi và cá hường không còn, riêng cá mè Vinh còn một phần. Nếu các giống cá trên giá thành sản xuất 5000-7000đ/kg, hệ số thức ăn là 6 thì nuôi CBT vẫn còn lời.

d. Cho cá bống tượng ăn:

– Nuôi ghép cá tép tạo thức ăn ở tại cỗ cho CBT.

– Cá bống tượng thích ăn thức ăn tươi sống, thức ăn ương thối cá không ăn, cá có ướp chất hóa học cá thường bị bệnh, cắt thức ăn vừa cỡ cho cá ăn, bỏ ruột.

– Tùy thực tế mà tăng giảm lượng thức ăn, cho ăn thức ăn vào sàn, kiểm tra sau 1 giờ, cho cá ăn ngày 3 lần sáng, chiều và tối.

– Cỡ cá nhỏ hơn 10g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 8-12.

– Cỡ cá 10-12g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 6-10.

– Cỡ cá 20-50g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 4-8.

– Cỡ cá 50-100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3,5-6.

– Cỡ cá 100g/con, tỷ lệ % thức ăn so với trọng lượng cá 3-5.

e. Quản lý chăm sóc cá bống tượng nuôi:

– Thường xuyên thay nước sạch cho cá bống tượng, loại bỏ nước dơ: nếu sử dụng nước thủy triều thì khi nước ròng 2/3 sông chênh lệch nước ao và sông lớn, rút bộng ra nước chảy mãnh thải các chất dơ từ đáy ao ra sông. Khi nước lớn 2/3 sông, lấy nước mới vào, nước sông lớn đã hòa loãng giảm độ dơ, lấy nước sạch vào ao, kích thích cá phat triển. CBT nuôi ở nước tốt lớn nhanh hơn nước xấu, nuôi ở nước lưu thông lớn nhanh hơn nước tĩnh 24-29% và nước lưu thông nhiều nuôi mật độ càng cao.

– Đảm bảo chất lượng thức ăn là động vật cho cá bống tượng là tươi, không ướp hóa chất, số lượng cho ăn đủ, không để thức ăn dư.

– Tạo điều kiện cho cá bắt mồi liên tục, ngày và đêm: cá thường sống ở đáy làm thức ăn tự nhiên cho cá hoặc đưa cá sống từ đáy ao sang mé ao, bằng tạo mé cỏ tối nước nước dầy ở từng đoạn mương ao (thả lục bình ở nơi yên tĩnh). Khi cá đã sống ở mé ao, cá giảm bệnh, cá tép con ban ngày trú vào rong cỏ sẽ làm mồi ăn trực tiếp cho CBT. Nuôi CBT mà cá không có đớp mồi ban ngày là điều kiện sống ở ao mương chưa tốt.

– Nuôi cá bống tượng ở ao nếu tạo điều kiện cho cá ăn và nước tốt, lưu thông thì cá lớn như nuôi ở bè, cá ít bệnh so với bè.

f. Thu hoạch cá bống tượng:

– Thu tỉa thì dùng lọp, thả mồi bắt.

– Thu cuối vụ thì tát cạn, cá bống tượng thường lặn sâu vào đáy bùn có khi đến 1m, khó bắt. Cần tát cạn vào chiều mát, mò bắt sơ bộ CBT có ở ao, sau đó dùng chuối cây trang ao cho bằng, cho nước vào 5cm, nửa đêm và gần sáng cá bống tượng ngóc nằm ở mặt bùn, dùng đèn soi bắt. Có nơi còn dùng dòng nước chảy bắt cá vào đêm.

2. Nuôi cá bống tượng ở ao gắn với bè lồng:

Do điều kiện nuôi ở từng nơi, nuôi ở lồng thì vào mùa khô lượng nước ở sông rạch thấp, nước thường bị ô nhiễm, nuôi bống tượng thường dễ bị bệnh và cá chậm lớn, thời gian này lồng bè thường được sửa chữa và nuôi loại cá khác. Cá bống tượng thịt được nuôi ở ao vào thời gian này, cá đạt cỡ 200-300g. Khi nước ở sông rạch tốt, đưa cá nuôi từ ao mương ra lồng bè nuôi vỗ béo để cá lớn nhanh, sạch, bán được giá cao. Cần có kết hợp chặt chẽ nuôi cá bống tượng ở ao và lồng bè là nâng cao hiệu quả của nuôi CBT. Kỹ thuật như phần nuôi ở ao và ở lồng bè.

3. Nuôi cá bống tượng ở ruộng lúa:

– Ruộng lúa nuôi cá trắng (mè trắng, chép trôi, mè vình, rô phi, hường …) các loại cá này chủ yếu ăn rong cỏ, mùn bả hữu cơ, sinh vật phù du. Chưa có loại cá ăn tép, cá tạp, động vật nhỏ có ở trong nước, khi đó loại cá tép con ngày có ở trong ruộng lúa rất nhiều. Khi chuẩn bị vụ lúa Đông Xuân mỗi ha có từ vài chục đến vài trăm kg cá tép vụn có thể làm thức ăn tốt cho CBT.

– Mật độ thả ghép: 1 con/5-10m vuông ruộng.

– Tạo điều kiện cho CBT ăn mồi tự nhiên ó ở ruộng: từng đoạn mương bao, chọn nơi êm, thả lục bình dầy làm nơi tối nước để CBT sống, cá tép tự nhiên vào cỏ trú, làm mồi ăn tự nhiên cho CBT.

– Cuối vụ thu hoạch cá trắng, có sản lượng cao, giá trị thấp, song giá trị CBT nuôi ghép lại cao hơn hẳn cá trắng nuôi chính.

4. Nuôi cá bống tượng ở lồng bè. a. Chọn nơi nuôi cá bống tượng:

– Nước sông rạch, hồ chứa sạch, có dòng chảy đều, nước tốt suốt thời gian nuôi, lưu tốc nước 0,2-1m/giấy. Nơi có đủ nguyên liệu làm thức ăn cho cá.

– Cần tránh: Nơi nước nông cạn, nước không chảy, không có gió. Nơi nước chảy quá mạnh, sóng to, gió lớn, tàu bè qua lại nhiều, có tiếng động mạnh và cản trở giao thông. Nơi có nguồn nước nhiễm bẩn thuộc nông nghiệp, chất thải từ đồng ruộng, công nghiệp, nước phèn, nước đen. Nơi khúc quanh cửa sông, mùn bả hữu cơ tích tụ nhiều. Nơi có quá nhiều rong cỏ. Nơi có quá nhiều lồng bè đặt gần nhau.

b. Thiết kế lồng bè:

– Nuôi cá bống tượng nên làm lồng bè loại nhỏ: 1×1,5×1,2m 3x4x1,5m dễ xử lý quá trình nuôi. Nguyên liệu có thể bằng tre gỗ.

– Bè đóng kín 3 mặt: đáy và 2 bên hông, mặt trước và mặt sau đóng lưới hoặc nẹp tre, gỗ có kẽ thưa.

c. Thời vụ thả cá:

– Tùy môi trường nước và giống CBT có ở từng nơi mà thời vụ thả cá nuôi có thay đổi, thông thường từ tháng 6-7 đến tháng 12.

– Cỡ cá theo quy cỡ của sản xuất cá giống hay bắt tự nhiên: 50-70g, 80-100g, 160-200g. Mật độ thả từ 20-80 con/ m vuông, thông thường 25-40 con/ m vuông.

d. Thức ăn:

– Tận dụng thế mạnh thức ăn có ở địa phương: tôm tép, cá nhỏ, trùng, ốc, cua, … cho cá ăn trực tiếp. Thức ăn phải tươi, không được muối hóa chất. Khi nguồn thức ăn này giảm, giá cao, có thể thay một phần bằng thức ăn hỗn hợp.

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 55-60%

+ Dầu cá : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Công thức 2:

+ Bột cá : 30-35%

+ Cám, bột gạo, mù, bắp: 50-60%

+ Trùn đất băm nhỏ : 7-10%

+ Bột lá gòn : 3-5%

Lượng thức ăn hàng ngày 5-10% trọng lượng cá nuôi trong bè.

Thời gian cho ăn vào sáng sớm và chiều tối.

Thức ăn cho vào sàn, treo lơ lửng trong lồng bè, cách mặt nước 40-50cm. Mỗi bè lồng có 1-3 sàn ăn.

Có thể nuôi cá sống: cá săt, cá hường, cá trôi, rô phi, cá 7 màu, ốc, nhái làm thức ăn cho CBT.

e. Chăm sóc quản lý:

– Cho cá ăn đủ, đều, không để thức ăn dư thối.

– Hàng tuần cọ rửa lồng bè một lần và cọ vét thức ăn dư rơi vãi, phù sa ở đáy bè.

– Nếu cá bị bệnh trùng mỏ neo, dùng lá xoan bó thành bó để dưới đáy bè, nước lá xoan tiết ra làm trùng rơi khỏi cá.

– Nếu cá bị bệnh tuột nhớt, cuốn nhớt làm cá chết hàng loạt và nhanh chóng: cần chú ý nguồn nước qua bè nuôi chất phải tốt, không làm xây xát cá khi chuyển về bè. Thời kỳ đầu bệnh có vết trắng ở đuôi, sau đó lan dần toàn thân cá. Phòng bệnh không nên nuôi cá mật độ quá dầy, không làm xây xát cá. Dùng vôi bột 1-2kg/ m khối nước treo ở đầu nguồn nước: trị: ngâm cá trong clorua vôi nồng độ 1ppm. Tắm cá bằng Treptomycine 25mg/l trong 30 phút đến 1 giờ. Có thể dùng cao su bịt hai đầu bè cho thuốc vào bè tắm cá.

f. Thu hoạch:

– Cá nuôi sau 5-7 tháng đạt cỡ trên 400g/con thì thuhoạch.

– Hàng tháng nên đánh tỉa cá đạt tiêu chuẩn một lần. cá chưa đat nên tiếp tục nuôi và bổ sung giống.

– Cuối vụ thu hoạch tổng thể, vệ sinh bè lồng, chuẩn bị cho vụ nuôi sau.

Kỹ Thuật Nuôi Cá Tai Tượng Thương Phẩm

1. Chuẩn bị ao:

Nơi có nguồn nước tốt, dồi dào không bị ô nhiễm, có thể cung cấp suốt thời gian nuôi. Cải tạo ao; dọn sạch bùn, cây cỏ mục, lấp các hang cua mọi, tu sửa bờ ruộng có lưới chắc chắn, bờ cao hơn mực nước cao nhất 0,5m, chặt bỏ cây để không che quá 25% diện tích mặt nước.

Có thể sử dụng mương vườn, liếp rẫy có mặt nước từ 100 đến vài ngàn mét vuông để nuôi cá. Mức nước sâu hợp lư từ 1-2m. Sau khi đă vét bùn, bón vôi bột 10- 15kg/100m2 ao. Nếu c̣n cá tạp, dùng dây thuốc cá đập dập lấy nước, rải theo tỷ lệ 4kg/100m2 mặt nước, phơi khô 5-7 ngày, bón phân lợn, phân ḅ: 20-30 kg/100m2, phân gà: 10-15 kg/100 m2, rải đều ao. Cho nước vào ao khoảng 40cm, sau 1 tuần, khi nước có màu xanh đọt lá chuối non, cho thêm nước vào tới 0,8-1m.

2. Thả cá và cho cá ăn:

a) Giống cá: Chọn cá đều cỡ khoẻ mạnh, không bị xây xát, bị dị tật hoặc mang bệnh. Mật độ nuôi: 3-10 con/m2; nếu thả ghép tai tượng với cá mè trắng, cá hường th́ mật độ 1 con/1m2 (để tận dụng thức ăn rơi văi và làm sạch môi trường nước).

b) Thức ăn cho cá: sau 1 tháng ương cá tai tượng lớn thành cá giống và chuyển dần sang ăn thực vật là chính, giai đoạn đầu ta cho ăn thực vật nhỏ như; bèo cám, hoa đậu lá cải, lá rau muống, lá ḿ (sắn). Cá lớn hơn ăn hầu hết các loại rau, thực vật thủy sinh, phế phẩm nhà bếp. Cá ăn rau sẽ lớn chậm (2-3 năm đạt trên 1 kg); nếu có thức ăn tinh kèm theo rau, cá sẽ lớn nhanh hơn (1 năm đạt trên 1 kg). Tỷ lệ cho ăn rau khoảng 2-5% trọng lượng cá. Ngoài ra ta c̣n thả rau xanh trên mặt nước cho cá ăn:

Thức ăn tinh (bột cá, đầu tôm, cá biển tươi, ruột ốc, cá con 30% + cám, xác đậu nành 30% + tấm, bắp 7% + bột lá g̣n 3%) + rau xanh 30%.

Thức ăn tinh (50% cám + 15% bột cá + 25% bánh dầu) và 10% rau muống.

Chế biến thức ăn: Rau muống, lá ḿ, rau lang thái nhỏ. Ốc, cá, cua nghiền nhỏ. Nấu cháo tấm với cá, cua, ốc, sau đó cho rau muống vào kết hợp với bột lá g̣n, xác đậu nành nấu riêng rồi trộn chung, để nguội trộn cám vừa đặt dính cho vào máng ép viên.

Cho cá ăn: Thời gian đầu cá c̣n nhỏ dùng sàn cho cá ăn, ngày 2 lần. Khi cá lớn dần ta phân đàn, rải đều thức ăn để cá lớn nhỏ đều ăn được.

3. Chăm sóc và quản lư cá nuôi:

Nếu trong thời gian nuôi mà cá lớn không đều ta kéo lưới, tuyển chọn cá lớn nuôi riêng để đạt cỡ thương phẩm, cá c̣n lại trong ao đều cỡ sẽ mạnh và lớn nhanh hơn. Cách 45 ngày ta tuyển chọn cá 1 lần.

Cá có thể ăn phân gà, phân lợn. Cần thay nước thường xuyên. Vứt bỏ rau xanh mà cá ăn dư, cho rau mới vào. Nước được thay hàng tuần, tối thiểu nửa tháng/lần, nước phải sạch, tốt, có màu xanh lá chuối non. Giữ mức nước ổn định ở ao nuôi từ 1,2-1,5m.

Hàng ngày kiểm tra hoạt động của cá để xử lư kịp thời, kiểm tra bọng bờ, chống trộm cá.

4. Thu hoạch cá:

Chặn từng khúc mương hoặc từng phần ao, kéo lưới nhẹ nhàng, bắt cá bằng vợt, cho cá vào thùng chứa nước hay cho vào dèo (giai) chứa. Tuyệt đối không để cá bị khô.

Cá Bống Tượng: Kỹ Thuật Nuôi Cá Bống Tượng.

Cá bống tượng là một trong các loài cá nước ngọt phổ biến ở Việt Nam, phân bố tại lưu vực các sông Mê Kông,sông Đồng Nai, sông Vàm Cỏ, sông Cửu Long.

Khu vực Sông Cửu Long có nắng nóng và mưa quanh năm nên thích hợp cho sự phát triển của cá bống tượng,

Ngoài ra, cá bống tượng còn được nuôi tại tỉnh Quảng Nam.

Dọc biên giới các nước Malaysia, Indonesia, Singapore là nơi ở ưa thích của cá bống tượng.

Đặc điểm : cá bống tượng có kích thước lớn nhất trong họ cá bống nước ngọt và có thân hình thoi tròn.

Cá bống tượng có hàm răng khá sắc nhọn của các loài cá ăn động vật. Thân cá có nhiều màu đen và điểm một chút vằn nâu, đầu cá to hơn so với thân. Đuôi cá có hình chữ V màu đen.

Trọng lượng trung bình của cá bống tượng là từ 50-100g lúc nhỏ. Khi chúng trưởng thành , trọng lượng lên tới vài kg. Khi thu hoạch,cá bống tượng khỏe mạnh, thịt dày và ngon. Khi chế biến thì thịt cá có màu trắng như thịt gà, có độ dai và vị ngọt.

Tập tính của cá bống tượng

Cá bống tượng có tập tính sống tại sông ngòi, kênh rạch, ao hồ, .. Việc di chuyển của chúng diễn ra theo cặp đôi, ít khi đi lẻ. Địa điểm cá bống tượng sinh sản là khu vực có nước chảy, chúng có khả năng sinh sống ở vùng nhiễm phèn, độ pH= 5,5 và độ mặn dưới 13%. Nhiệt độ thích hợp để cá bống tượng phát triển tốt là 26- 30 độ C.

Cá bống tượng thích sống ở môi trường đáy nước, ban ngày vùi mình xuống bùn và hang hốc, khi gặp nguy hiểm có thể vùi mình xuống sâu 1m, ở đó hàng chục tiếng đồng hồ. Cá bống tượng có tập tính sống ở tầng đáy, môi trường nước yên tĩnh, có cây thủy sinh làm giá đỡ.

Hoạt động tích cực vào ban đềm, ban ngày cá bống tượng có xu hướng vùi mình dưới bùn.

Ngoài ra, cá bống tượng còn là loài cá dữ điển hình, thích ăn các động vật nhỏ hơn như cá con, tép, cua, ốc tươi sống. Tập tính săn mồi của cá bống tượng rất đặc biệt ở cách săn mồi, chúng không hề rượt đuổi, chỉ nằm rình rập bắt mồi. Khi được nuôi trong ao, trong bè, cá bống tượng được cho ăn một số loại thức ăn thủy sản như thức ăn chế biến và thức ăn dạng viên.

Với cá bống tượng, nuôi trong bồn sẽ thuận lợi hơn trong ao hồ.

Khác với, được nhà thủy sản khuyến khích nuôi ở bồn, phát triển tốt và mang lại năng suất cao hơn.

Ưu điểm khi nuôi cá bống tượng trong bồn:

Quản lý môi trườn nuôi và quản lý cá dễ dàng hơn nuôi ao.

Giúp người nuôi chủ động địa điểm và quy mô nuôi cá bống tượng.

Chủ động mùa vụ thả nuôi vì không bị phụ thuộc vào thời tiết.

Mực nước khi nuôi bồn sẽ thấp hơn nuôi ao, dễ dàng quan sát quá trình cá sinh trưởng và cho cá ăn.

Khi nuôi cá bống tượng bằng bồn sử dụng lượng nước ít hơn nên sẽ thải ra lượng nước ít, hạn chế được ô nhiễm môi trường. Chi phí nuôi, chi phí lao động thấp hơn nuôi ao.

Thiết kế bể nuôi cá mồi cung cấp cho cá bống tượng

Cá mồi là thức ăn bổ sung cho cá bống tượng. Có thể sử dụng túi ni-lông làm bể nuôi cá bống tượng. Người nuôi cá có thể tận dụng nguồn nước thải từ bốn nuôi cá bống để nuôi cá mồi và đặt bể nuôi cá mồi ở nơi có ánh sáng tiếp xúc để tảo quang hợp lấy oxy vào ao. Bể nuôi cá mồi có thể sử dụng sục khí để tạo thêm oxy. Các loại cá kiểng bố mẹ ăn thức ăn viên công nghiệp kích cỡ nhỏ và có hàm lượng đạm cao.

Chuẩn bị bồn nuôi cá bống tượng như thế nào?

Bồn nuôi cá bống tượng cần có diện tích 200 m2, đủ rộng rãi để thả nuôi cá. Vốn cá bống tựơng là loài cá dữ, khi điều kiện sống bất lợi, cá lớn sẽ tấn công cá nhỏ, cần chia bồn thành 3-4 phần để dễ quản lý cá. Mỗi ngăn của bồn đều có lỗ thoát nước riêng. Đặt những ống nhựa, ống tre xuôi theo đường nước thoát. Người nuôi có thể sử dụng thân cây chuối vì nó có khả năng hút đi chất vẩn và vi sinh vật làm cho nước sạch. Khi bẹ chuối xẹp xuống và cá không chui vào được thì cần thay mới.

Bồn nuôi cá bống tượng cần được cấp thoát nước như thế nào?

Tùy vào điều kiện của từng người nuôi, có thể sử dụng mái che hoặc không.

Hình thức cấp nước: phun mưa. Pha một ít muối ăn trong mỗi lần cấp nước nhằm phòng bệnh lở loét cho cá.Thay nước định kỳ tùy vào lượng chất thải của cá.

Mật độ thả cá nuôi

Người nuôi nên thả cá với mật độ 15-40 con/m2 tùy kích cỡ cá giống. Khi cá có kích thước 4-5 cm thì thả 40 con/m2. Những chú cá khỏe thường có màu sáng, không có mầm bệnh. Nguồn giống có thể từ sinh sản nhân tạo hoặc mua gom từ khai thác tự nhiên.

Chăm sóc cá đúng cách

Phòng và trị bệnh cho cá.

Kiểm soát nguồn nước, nguồn thức ăn.

Thức ăn thủy sản cho cá bống tượng; các loại giun, tép sống, cá nhỏ,..

Thức ăn được xay nhuyễn và cắt nhỏ vừa miệng cá.

Hiện nay, có nhiều hộ đã nuôi cá bống tượng và làm giàu nhờ loài cá này. Doanh thu từ nuôi trồng cá bống tường có thể đạt 400 triệu đồng 1 năm.

Gía bán cá bống tượng loại 1 : 290.000 đồng/kg. Cá bống tượng loại 2 210.000 đồng/ kg.

Thức ăn thủy sản. Thị trường và năng suất.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Nuôi Cá Bống Tượng Thương Phẩm (Oxyeleotris Marmoratus Bleeker) trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!