Xu Hướng 2/2023 # Hướng Dẫn Nuôi Cá Koi Cho Sinh Sản # Top 9 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Hướng Dẫn Nuôi Cá Koi Cho Sinh Sản # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Hướng Dẫn Nuôi Cá Koi Cho Sinh Sản được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cá koi sinh sản là điềm lành, dự báo điều gì đó như là may mắn, là sinh tài lộc. Người chơi Koi muốn cá sinh sản được cần chuẩn bị thật kĩ các khâu mới bắt đầu tiến hành và cho ra đời những chú cá như “quý nhân” của gia đình.

Người xưa thường có câu: ” Bao giờ cá chép hóa rồng/ Bõ công cha mẹ bế bồng ngày xưa”. Trên thực tế, cá chẳng bao giờ có thể hóa thành rồng mà chỉ có trong những câu truyện truyền thuyết về cá Koi “vượt Vũ Môn hóa rồng” trong lịch sử của Trung Quốc, Nhật Bản. Khi phát triển đến một giai đoạn nhất định, cá ở tuổi trưởng thành, chúng sẽ sinh sản trong điều kiện môi trường thích hợp. Thông thường, sau khi phát triển ổn định ở môi trường nhân tạo 1 năm thi cá Koi có thể sinh sản tốt. Tuy nhiên, nếu xác định nhân giống cá Koi thì nên tạo một hồ nông, thoáng để sau khi cá đẻ có thể bắt cá bố mẹ ra ngoài.

Cá đẻ thường vào sáng sớm, cá trống luôn bám đuổi và thúc vào hông cũng như vùng bụng của cá mái. Cá mái 2- 3 năm tuổi có thể cho 150 đến 200 ngàn trứng/mỗi lần đẻ. Trứng rơi rãi bám lên khắp nơi trong bể: nền, cây thủy sinh, rễ bèo hay lục bình.

1. Chọn cá bố mẹ

Chọn cá bố mẹ là công việc đầu tiên và cực kì quan trọng để có được những giống Koi tốt, khỏe mạnh, sức miễn dịch cao. Chọn cá thuần chủng, không được chọn cá trong cùng một lứa, chỉ chọn cá cái hoặc chỉ chọn cá đực.

Cá đực có gờ nhám ở vây ngực, lỗ sinh dục lõm khi, vuốt nhẹ bụng phía gần lỗ sinh dục thấy có chất dịch màu trắng chảy ra. Cá cái: sờ vây ngực nhẵn, lỗ sinh dục lồi. Cá đực có nhiều núm tròn trên vây ngực, cá cái thì có thân hình tròn hơn.

Cần nuôi vỗ cá bố mẹ: diện tích ao 500 – 1.000 m2 hoặc lớn hơn, độ sâu 1,2 – 1,5 mét. Ao gần nguồn nước để có thể chủ động thay nước, mặt ao thoáng, không bóng cây che, trên bờ không có bụi rậm. Bờ ao cao hơn mực nước thủy triều cao nhất 0,5 m. Nuôi chung cá bố mẹ, mật độ 20 – 25 con/100 m2. Tỉ lệ đực: cái khi nuôi vỗ: 1: 2 hay 1: 3.

2. Thức ăn và chế độ cho ăn

Thức ăn: Thức ăn cho cá sinh sản cần được có chế độ đặc biệt để cung cấp đủ dinh dưỡng cho cá cần nhân giống. Cám có 35 – 40% đạm, bón phân gây màu định kỳ tạo nguồn thức ăn tự nhiên, lượng phân bón tùy vào màu nước, phải dùng phân chuồng đã ủ hoai.

Lượng thức ăn: 5 – 7% tổng trọng lượng đàn, có thể thay đổi tùy vào điều kiện khí hậu môi trường có thuận lợi hay không hoặc tùy vào sức khỏe đàn cá.

3. Cải tạo hồ trước khi thả cá giống:

Cũng giống như việc nuôi dưỡng một số loài cá nước ngọt khác, quy trình cải tạo hồ cá Koi cho sinh sản cũng dựa trên kĩ thuật chung. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở chỗ, cá Koi thích ăn mồi ở tầng đáy. Do đó để nâng cao năng suất nuôi và hiệu quả sử dụng ao hồ cần quan tâm đến việc gây nuôi động vật đáy để làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Bón phân gây màu: phân chuồng đã ủ hoai 25 – 50 kg/100 m2 và phải bón định kỳ (tùy vào màu nước trong ao có thể bón 1 – 2 lần/tháng).

4. Chuẩn bị cho cá đẻ

Cá được khoảng 7-8 tuổi là đến giai đoạn trường thành và phát triển ổn định với môi trường xung quanh. Lựa chọn những con cá tốt nhất trong tổng số cá koi theo từng loại.

Với cá cái: lật ngửa bụng cá, chọn những con bụng to, da bụng mềm đều, lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng, trứng có độ rời cao, nếu vuốt nhẹ bụng cá từ ngực trở xuống cá tiết ra vài trứng.

Với cá đực: chọn những con có tinh dịch màu trắng sữa, kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ phần bụng gần lộ sinh dục. Tuy nhiên, không nên vuốt nhiều lần vì cá sẽ mất nhiều tinh dịch ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh.

5 Chuẩn bị bể đẻ và giá thể

Bể đẻ là hồ xi măng, đáy bằng phẳng và không có vật nhọn. Diện tích 2,5 x 5 x 1,2 m, giăng lưới xung quanh bên trong với mục đích dễ thu gom cá bố mẹ sau khi sinh sản và tiện cho việc theo dõi cá sinh sản. Mực nước cấp vào bể đẻ ban đầu khoảng 0,5 m và phải lấy trước 2 ngày. Cá chép Nhật là loài cá đẻ trứng dính trên cây cỏ thủy sinh nên giá thể là rất cần thiết. Có thể chọn bèo lục bình: vệ sinh sạch sẽ, ngắt bớt phần lá và rễ già để tạo chùm rễ thông thoáng, nên chọn phần rễ 30 cm, phần thân 20 cm là tốt nhất, ngâm vào nước muối 5% để sát trùng, loại bỏ ký sinh trùng khác.

6. Bố trí cho cá sinh sản

– Cá bố mẹ đều có màu gấm vàng hay màu gấm bạc cho sinh sản riêng và không phối sinh sản với các màu sắc khác, để có được thế hệ cá con có màu sắc chủ yếu như cá bố mẹ.

– Cá bố mẹ tương đối có hai màu trên thân là đỏ, đen hay trắng, đen hay đỏ, trắng được cho sinh sản chung với cá có ba màu đỏ, đen, trắng.

Mật độ, tỉ lệ đực cái khi tham gia sinh sản:

– Trung bình 0,5 – 1 kg cá cái/m2 bể đẻ (khoảng 2 cá cái/m2 bể đẻ).

– Tỉ lệ đực: cái tham gia sinh sản = 1,5/1 đến 2/1 để đảm bảo chất lượng trứng thụ tinh. Việc lựa chọn cá bố mẹ thường được tiến hành vào buổi sáng: 8 – 9 giờ, khi cá bố mẹ được lựa chọn phù hợp thì cá được đem lên bể đẻ, kích thích dưới ánh sáng mặt trời. Độ chiếu sáng trung bình trên hồ là 8/24 giờ. Đến xế chiều, 16 – 17 giờ cho giá thể vào và tạo dòng nước chảy nhẹ vào hồ. Bố trí hệ thống sục khí để tăng cường oxy. Việc phơi nắng và tạo dòng chảy hay tăng cường oxy là các yếu tố kích thích sự sinh sản của cá.

7. Hoạt động sinh sản của cá

– Cá được đưa lên bể như trên sẽ đẻ trứng ngay vào hôm sau, khoảng 4 – 5 giờ sáng. Nếu cá chưa sinh sản thì phải bố trí lại từ đầu và tiếp tục sử dụng các yếu tố kích thích như ban đầu.

– Tương tự như cá vàng hay cá chép thường, trước khi sinh sản, có hiện tượng cá đực rượt đuổi cá cái. Dưới sự kích thích của nước mới, cá vờn đuổi nhau từ bên ngoài và chui rúc vào ổ đẻ, tốc độ vờn đuổi càng lúc càng tăng thì cá sẽ đẻ dễ dàng. Cá cái quẫy mạnh phun trứng, cá đực sẽ tiến hành thụ tinh nơi trứng vừa được tiết ra. Trong suốt quá trình sinh sản, cá đực luôn bám sát cá cái để hoàn tất quá trình sinh sản.

– Đối với trường hợp cá không sinh sản, cần vớt giá thể ra vào khoảng 9 – 10 giờ sáng hôm sau, hạ bớt một phần nước trong hồ, tiếp tục để cho cá được phơi nắng trong hồ đến xế chiều cho thêm nước mới vào để kích thích cá đẻ tiếp tục và cho giá thể vào. Tạo điều kiện môi trường như lần đầu, hôm sau cá sẽ đẻ lại.

8. Ấp trứng

– Thường xuyên cho nước chảy nhẹ nhàng hoặc thay một phần lượng nước trong thau ấp bằng lượng nước đã dự trữ sẵn. Thau trứng luôn được sục khí liên tục, nhất là trứng sắp nở. Tránh sự chiếu sáng trực tiếp của ánh sáng mặt trời.

– Trứng thụ tinh sau khoảng 24 giờ sẽ thấy hai mắt đen li ti. Quá trình phát triển phôi cần lượng oxy rất cao, nhất là thời điểm trước và sau khi trứng nở, vì cơ thể cá chuyển từ trạng thái phôi bất động sang trạng thái vận động, quá trình trao đổi chất tăng. Mặt khác, các enzym được tiết để phá vỡ mối liên kết màng trứng chỉ hoạt động trong điều kiện giàu oxy, nếu thiếu oxy thì enzym bị ức chế dẫn đến tỉ lệ nở thấp.

– Trong giai đoạn cá mới nở, cá dễ chết hàng loạt nếu trên bề mặt có lớp váng. Do thiếu oxy, vì vậy phải tăng cường sục khí sau khi trứng nở.

9. Ương cá bột

– Cá mới nở tự dưỡng bằng noãn hoàng trong vòng 3 ngày.

– Cá từ 3 ngày tuổi cá ăn phiêu sinh, bột đậu nành pha loãng trong nước. Sau giai đoạn này một số cá sẽ trổ màu nhưng chưa rõ nét.

– Sau 7 – 10 ngày có thể thả cá ra ao. Ao đã được chuẩn bị sẵn và được gây màu thật tốt (bón phân gây màu như đã được trình bày trong phần chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ). Nguồn thức ăn tự nhiên trong ao lúc này đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tỉ lệ sống của cá bột phụ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên này. Ao ương cá bột cần quản lý khắt khe nguồn cá tạp (diệt tạp trước khi thả cá bột, quản lý chặt chẽ nguồn nước ra vào ao thông qua cống, các hang mọi, trời mưa, nước tràn bờ,…).

– Sau khi thả ra ao vài ngày có thể cho cá tập ăn cám hỗn hợp, tăng dần lượng thức ăn.

– Việc chăm sóc trong giai đoạn ương quan trọng nhất là theo dõi và quản lý màu nước. Luôn giữ nước có màu xanh lá non, ao luôn được thông thoáng, mặt ao có gió lùa. Tùy điều kiện có thể thay nước 2 – 3 lần/tháng.

– Để phòng bệnh cho cá cần tuân thủ đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật từ quá trình chuẩn bị ao, bể đẻ, nuôi vỗ cá bố mẹ,… đến khâu quản lý ao ương cá con.

– Khi cá được khoảng 4 – 5 tháng tuổi, bắt đầu phát triển kỳ, vây theo kiểu dáng, màu sắc đặc trưng của cá là có thể thu hoạch để bán.

Tuổi trưởng thành của cá chép từ tám tháng đến một năm tuổi. Mùa vụ sinh sản chính là mùa mưa, nhưng hiện nay do cá chép đã được thuần hóa nên có thể sinh sản tốt quanh năm. Cá không chăm sóc trứng và có tập tính ăn trứng sau khi sinh sản. Sức sinh sản tương đối thực tế của cá: 97.000 trứng/ kg trọng lượng cá. Tuy nhiên, sức sinh sản này còn tùy thuộc vào điều kiện nuôi, chế độ dinh dưỡng và các yếu tố môi trường khác như: thời gian phát triển phôi khoảng 8 – 42 giờ ở nhiệt độ nước 26 – 310C. Ngoài tự nhiên: cá đẻ ở vùng nước tù có rễ, cây cỏ thủy sinh, độ sâu khoảng 1 mét. Trong điều kiện nhân tạo: nếu có điều kiện tạo mưa nhân tạo, có giá thể là rễ cây lục bình hoặc xơ nilông, nước trong sạch, mát. Đặc điểm của trứng: trứng dính, hình tròn, đường kính 1,2 – 1,3 mm, màu vàng trong, thời gian phát triển phôi: từ 36 – 40 giờ ở nhiệt độ 28 – 300C. Trong điều kiện nuôi ở nước ta, thời gian tái phát dục của cá đực khoảng 15 ngày, của cá cái khoảng 20 – 30 ngày. Thời gian tái phát dục của cá còn tùy thuộc vào bản thân loài và điều kiện sống, mùa vụ …

Theo: Sinh vật cảnh

Kĩ Thuật Nuôi Cá Koi Cho Sinh Sản

Cá Koi có thể đẻ dể dàng trong môi trường nhân tạo khi thuần thục ở 1 năm tuổi . Thường thì được cho đẻ theo từng nhóm nhỏ cân đối trống mái hoặc cá trống nhiều hơn cá mái. Bể đẻ thường không sâu và khá trống trải để sau khi cá đẻ có thể bắt cá bố mẹ ra ngoài. Cá đẻ thường vào sáng sớm, cá trống luôn bám đuổi và thúc vào hông cũng như vùng bụng của cá mái. Cá mái 2- 3 năm tuổi có thể cho 150 đến 200 ngàn trứng/mỗi lần đẻ. Trứng rơi rãi bám lên khắp nơi trong bể: nền, cây thủy sinh, rễ bèo hay lục bình.

Chọn cá thuần chủng, không lấy cá đực và cái trong cùng một lứa, chỉ chọn hoặc đực hoặc cái. Cá đực có gờ nhám ở vây ngực, lỗ sinh dục lõm khi, vuốt nhẹ bụng phía gần lỗ sinh dục thấy có chất dịch màu trắng chảy ra. Cá cái: sờ vây ngực nhẵn, lỗ sinh dục lồi. Cá đực có nhiều núm tròn trên vây ngực, cá cái thì có thân hình tròn hơn.

Cần nuôi vỗ cá bố mẹ: diện tích ao 500 – 1.000 m2 hoặc lớn hơn, độ sâu 1,2 – 1,5 mét. Ao gần nguồn nước để có thể chủ động thay nước, mặt ao thoáng, không bóng cây che, trên bờ không có bụi rậm. Bờ ao cao hơn mực nước thủy triều cao nhất 0,5 m. Nuôi chung cá bố mẹ, mật độ 20 – 25 con/100 m2. Tỉ lệ đực: cái khi nuôi vỗ: 1: 2 hay 1: 3.

Thức ăn và chế độ cho ăn

– Thức ăn: cám có 35 – 40% đạm, bón phân gây màu định kỳ tạo nguồn thức ăn tự nhiên, lượng phân bón tùy vào màu nước, phải dùng phân chuồng đã ủ hoai. – Lượng thức ăn: 5 – 7% tổng trọng lượng đàn, có thể thay đổi tùy vào điều kiện khí hậu môi trường có thuận lợi hay không hoặc tùy vào sức khỏe đàn cá. – Cá chép Nhật tương đối dễ nuôi, việc chăm sóc cũng như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác. – Cải tạo ao trước khi thả giống: quy trình cải tạo ao trước khi thả giống cũng giống như ao nuôi các loài cá nước ngọt khác. Tuy nhiên cần lưu ý: cá chép nói chung thích ăn mồi ở tầng đáy, chủ yếu là động vật đáy, do đó để nâng cao năng suất nuôi và hiệu quả sử dụng ao hồ cần quan tâm đến việc gây nuôi động vật đáy để làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Bón phân gây màu: phân chuồng đã ủ hoai 25 – 50 kg/100 m2 và phải bón định kỳ (tùy vào màu nước trong ao có thể bón 1 – 2 lần/tháng).

Chuẩn bị cho cá đẻ

Khi cá được 7 – 8 tháng tuổi là đến giai đoạn thành thục. Kiểm tra độ thành thục của cá bố mẹ để chọn cá cho sinh sản. Chọn cá có màu sắc và hình dạng như mong muốn và có độ thành thục tốt như sau: – Đối với cá cái: lật ngửa bụng cá, chọn những con bụng to, da bụng mềm đều, lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng, trứng có độ rời cao, nếu vuốt nhẹ bụng cá từ ngực trở xuống cá tiết ra vài trứng. – Cá đực: chọn những con có tinh dịch màu trắng sữa, kiểm tra bằng cách vuốt nhẹ phần bụng gần lộ sinh dục. Tuy nhiên, không nên vuốt nhiều lần vì cá sẽ mất nhiều tinh dịch ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh.

Chuẩn bị bể đẻ và giá thể

Bể đẻ là hồ xi măng, đáy bằng phẳng và không có vật nhọn. Diện tích 2,5 x 5 x 1,2 m, giăng lưới xung quanh bên trong với mục đích dễ thu gom cá bố mẹ sau khi sinh sản và tiện cho việc theo dõi cá sinh sản. Mực nước cấp vào bể đẻ ban đầu khoảng 0,5 m và phải lấy trước 2 ngày. Cá chép Nhật là loài cá đẻ trứng dính trên cây cỏ thủy sinh nên giá thể là rất cần thiết. Có thể chọn bèo lục bình: vệ sinh sạch sẽ, ngắt bớt phần lá và rễ già để tạo chùm rễ thông thoáng, nên chọn phần rễ 30 cm, phần thân 20 cm là tốt nhất, ngâm vào nước muối 5% để sát trùng, loại bỏ ký sinh trùng khác.

Bố trí cho cá sinh sản

Phối màu: màu sắc không nên phối hợp một cách tùy tiện và theo các hướng tương đối sau: – Cá bố mẹ đều có màu gấm vàng hay màu gấm bạc cho sinh sản riêng và không phối sinh sản với các màu sắc khác, để có được thế hệ cá con có màu sắc chủ yếu như cá bố mẹ. – Cá bố mẹ tương đối có hai màu trên thân là đỏ, đen hay trắng, đen hay đỏ, trắng được cho sinh sản chung với cá có ba màu đỏ, đen, trắng. Mật độ, tỉ lệ đực cái tham gia sinh sản. – Trung bình 0,5 – 1 kg cá cái/m2 bể đẻ (khoảng 2 cá cái/m2 bể đẻ). – Tỉ lệ đực: cái tham gia sinh sản = 1,5/1 đến 2/1 để đảm bảo chất lượng trứng thụ tinh. Việc lựa chọn cá bố mẹ thường được tiến hành vào buổi sáng: 8 – 9 giờ, khi cá bố mẹ được lựa chọn phù hợp thì cá được đem lên bể đẻ, kích thích dưới ánh sáng mặt trời. Độ chiếu sáng trung bình trên hồ là 8/24 giờ. Đến xế chiều, 16 – 17 giờ cho giá thể vào và tạo dòng nước chảy nhẹ vào hồ. Bố trí hệ thống sục khí để tăng cường oxy. Việc phơi nắng và tạo dòng chảy hay tăng cường oxy là các yếu tố kích thích sự sinh sản của cá.

Hoạt động sinh sản của cá

– Cá được đưa lên bể như trên sẽ đẻ trứng ngay vào hôm sau, khoảng 4 – 5 giờ sáng. Nếu cá chưa sinh sản thì phải bố trí lại từ đầu và tiếp tục sử dụng các yếu tố kích thích như ban đầu. – Tương tự như cá vàng hay cá chép thường, trước khi sinh sản, có hiện tượng cá đực rượt đuổi cá cái. Dưới sự kích thích của nước mới, cá vờn đuổi nhau từ bên ngoài và chui rúc vào ổ đẻ, tốc độ vờn đuổi càng lúc càng tăng thì cá sẽ đẻ dễ dàng. Cá cái quẫy mạnh phun trứng, cá đực sẽ tiến hành thụ tinh nơi trứng vừa được tiết ra. Trong suốt quá trình sinh sản, cá đực luôn bám sát cá cái để hoàn tất quá trình sinh sản. – Đối với trường hợp cá không sinh sản, cần vớt giá thể ra vào khoảng 9 – 10 giờ sáng hôm sau, hạ bớt một phần nước trong hồ, tiếp tục để cho cá được phơi nắng trong hồ đến xế chiều cho thêm nước mới vào để kích thích cá đẻ tiếp tục và cho giá thể vào. Tạo điều kiện môi trường như lần đầu, hôm sau cá sẽ đẻ lại.

Ấp trứng

– Thường xuyên cho nước chảy nhẹ nhàng hoặc thay một phần lượng nước trong thau ấp bằng lượng nước đã dự trữ sẵn. Thau trứng luôn được sục khí liên tục, nhất là trứng sắp nở. Tránh sự chiếu sáng trực tiếp của ánh sáng mặt trời. – Trứng thụ tinh sau khoảng 24 giờ sẽ thấy hai mắt đen li ti. Quá trình phát triển phôi cần lượng oxy rất cao, nhất là thời điểm trước và sau khi trứng nở, vì cơ thể cá chuyển từ trạng thái phôi bất động sang trạng thái vận động, quá trình trao đổi chất tăng. Mặt khác, các enzym được tiết để phá vỡ mối liên kết màng trứng chỉ hoạt động trong điều kiện giàu oxy, nếu thiếu oxy thì enzym bị ức chế dẫn đến tỉ lệ nở thấp. – Trong giai đoạn cá mới nở, cá dễ chết hàng loạt nếu trên bề mặt có lớp váng. Do thiếu oxy, vì vậy phải tăng cường sục khí sau khi trứng nở.

Ương cá bột

– Cá mới nở tự dưỡng bằng noãn hoàng trong vòng 3 ngày. – Cá từ 3 ngày tuổi cá ăn phiêu sinh, bột đậu nành pha loãng trong nước. Sau giai đoạn này một số cá sẽ trổ màu nhưng chưa rõ nét. – Sau 7 – 10 ngày có thể thả cá ra ao. Ao đã được chuẩn bị sẵn và được gây màu thật tốt (bón phân gây màu như đã được trình bày trong phần chuẩn bị ao nuôi vỗ cá bố mẹ). Nguồn thức ăn tự nhiên trong ao lúc này đóng vai trò vô cùng quan trọng. Tỉ lệ sống của cá bột phụ thuộc nhiều vào nguồn thức ăn tự nhiên này. Ao ương cá bột cần quản lý khắt khe nguồn cá tạp (diệt tạp trước khi thả cá bột, quản lý chặt chẽ nguồn nước ra vào ao thông qua cống, các hang mọi, trời mưa, nước tràn bờ,…). – Sau khi thả ra ao vài ngày có thể cho cá tập ăn cám hỗn hợp, tăng dần lượng thức ăn. – Việc chăm sóc trong giai đoạn ương quan trọng nhất là theo dõi và quản lý màu nước. Luôn giữ nước có màu xanh lá non, ao luôn được thông thoáng, mặt ao có gió lùa. Tùy điều kiện có thể thay nước 2 – 3 lần/tháng. – Để phòng bệnh cho cá cần tuân thủ đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật từ quá trình chuẩn bị ao, bể đẻ, nuôi vỗ cá bố mẹ,… đến khâu quản lý ao ương cá con. – Khi cá được khoảng 4 – 5 tháng tuổi, bắt đầu phát triển kỳ, vây theo kiểu dáng, màu sắc đặc trưng của cá là có thể thu hoạch để bán

Tuổi thành thục của cá chép từ tám tháng đến một năm tuổi. Mùa vụ sinh sản chính là mùa mưa, nhưng hiện nay do cá chép đã được thuần hóa nên có thể sinh sản tốt quanh năm. Cá không chăm sóc trứng và có tập tính ăn trứng sau khi sinh sản. Sức sinh sản tương đối thực tế của cá: 97.000 trứng/ kg trọng lượng cá. Tuy nhiên, sức sinh sản này còn tùy thuộc vào điều kiện nuôi, chế độ dinh dưỡng và các yếu tố môi trường khác như: thời gian phát triển phôi khoảng 8 – 42 giờ ở nhiệt độ nước 26 – 310C. Ngoài tự nhiên: cá đẻ ở vùng nước tù có rễ, cây cỏ thủy sinh, độ sâu khoảng 1 mét. Trong điều kiện nhân tạo: nếu có điều kiện tạo mưa nhân tạo, có giá thể là rễ cây lục bình hoặc xơ nilông, nước trong sạch, mát. Đặc điểm của trứng: trứng dính, hình tròn, đường kính 1,2 – 1,3 mm, màu vàng trong, thời gian phát triển phôi: từ 36 – 40 giờ ở nhiệt độ 28 – 300C. Trong điều kiện nuôi ở nước ta, thời gian tái phát dục của cá đực khoảng 15 ngày, của cá cái khoảng 20 – 30 ngày. Thời gian tái phát dục của cá còn tùy thuộc vào bản thân loài và điều kiện sống, mùa vụ …

Hướng Dẫn Nuôi Cá Rồng Trong Hồ Thủy Sinh

1. Cây thủy sinh thích hợp nuôi chung trong bể cá rồng không ?

Java moss , java fern và Anubias là các loại cây thủy sinh rất khỏe, cần ít ánh sáng, không cần chăm sóc nhiều, không cần bơm khí CO2 vào bể mà chúng vẩn sống phây phây, và chúng sống và phát triển trong hầu hết các độ pH. Cả ba loại cây thủy sinh vừa nêu trên, bạn có lơ là không cho chúng ăn uống thêm chi, ngoài các chất thải của cá rồng, chúng vẩn sống và phát triển tốt.

Cây java moss, java fern và anubias là loài cây thủy sinh có thể sống bám vào vào đá và cây thủy mộc (chúng vẫn có thể sống bằng cách gieo xuống nền sỏi), chúng hoàn toàn không cần nền, bạn sẽ đỡ mất nhiều công sức khi thay nước bể và không lo cá rồng dễ bị bệnh vì các chất dơ tích tụ vào nền.

Chăm sóc cá rồng đã nhiều công phu, nếu thêm cây thủy sinh cũng đòi hỏi tương tư, thì chắc là rất phê, còn gì là thú tiêu khiển nữa. Lúc ấy chắc phải gọi là nô lệ.

Anubias là loại cây thủy sinh lá rất dày và cứng, phát triển chậm. Mỗi bụi chi vi 20cm có giá 70k. Loại này bám rễ vào lũa (gỗ). Cây anubias phát triển rất chậm trong môi trường nước. Anubias cũng có thể sống trên cạn trong đất, khi ở môi trường như thế chúng phát triển nhanh hơn.

Trong môi trường nước, muốn Anubias phát triển nhanh, thì chúng cần sự hổ trợ thêm của khí CO2. Nhưng như bạn đã băng khoăn, bơm khí CO2 sẽ không tốt cho cá rồng, vì thế bạn có thể chấp nhận sự phát triển chậm của chúng trong môi trường ít CO2 (thật ra cũng có, vì cá rồng thải khí CO2 ra mang), hay khắc phục bằng cách mua thêm nhiều cây anubias để bỏ vào bể, để lấy số nhiều.

Anubias là một trong những loại cây thủy sinh có cả được cái đặc thù mà cả người mới chơi hay kinh nghiệm dày dặn về bể thủy sinh đều thích là anubias rất trâu bò. Tuy phát triển rất chậm, nhưng được cái là lì, rất khó để bạn làm cho cây anubias chết. Theo gót chân của anubias là java moss va java fern, bọn này cũng rất lì và chì. Cho bọn này vào bể cá rồng thì chẳng chạy vào đâu được.

Cây thủy sinh java fern cho bể cá rồng

Các cây thủy sinh trong bể là anubias, java fern, java moss và lucky bamboo. Ngoại trừ lucky bamboo phải gieo vào một lọ vì rể không thể bám vào gổ lũa, 3 loại cây thủy sinh lúc mới đầu được cột vào gổ lũa với giây cước câu cá, sau một thời gian khi rể đã bám vào gổ lũa, giây cước đã được cắt bỏ, để tránh những rủi ro như cá bị kẹt vào, nhất là khi cá còn bé . Có một lần, cách đây hơn 2 năm, một chú QB khoảng 22cm bị kẹt vào giữa đám giây cước bị tuột ra vì mấy con cá hút bụi phá, ăn rong trên gổ lũa . Sau một đêm bị kẹt và vùng vẩy, giây cước cắt sâu vào thịt, nhìn rất thảm. Bạn nào muốn kết hợp hồ thủy sinh với cá rồng nên lưu ý chuyện này, nhất là khi có nuôi thêm cá hút bụi để chúng xử lý rong rêu (lá và thân cây của 4 loại cây thủy sinh trên, cá hút bụi nó chê, không đụng vào, không như một số lớn cây thủy sinh khác mà cá hút bụi rất thích và sẽ “xơi tái” chúng, nhất là vào lúc ban đêm. Âu đây cũng là một lý do nữa để chọn các loại cây thủy sinh kể trên, để chống cá hut bụi. Cá hút bụi phá lắm, lần con QB bị thương nặng nêu trên, tôi thiếu điều muốn nổi điên với 2 con cá hút bụi, nhưng vì nuôi chúng đã lâu từ bé, nên không nỡ.

2. Loại cây thủy sinh nào thích hợp cho hồ cá rồng, tại sao cây thủy sinh đẹp vậy mà nhiều người không thích có chúng trong bể thủy sinh?

Nếu có điều kiện chăm nom, bể thủy sinh với cá rồng lúc nào nhìn cũng đẹp và bắt mắt cả. Hơn thế nữa, bể cá rồng với các cây thủy sinh lúc nào cũng sung sức hơn, vì cá rồng và các loại cây thủy sinh có tác dụng hỗ trợ cho nhau. Cây thủy sinh sẽ tiêu thụ các độ đố và các chất thải từ cá rồng, thanh lọc nước bể và chuyển hóa phẩm chất nước bể từ xấu trở nên tốt và tinh khiết hơn, cá rồng sẽ có môi trường sống giống tự nhiên hơn và có vẻ chúng vui hơn và màu sẽ đẹp hơn. Cá rồng bạn sẽ nhờ cây thủy sinh khỏe và đẹp hơn về cả dáng dấp bề ngoại cũng như bên trong cơ thể (cái này gọi là trong uống ngoài thoa đây) cá rồng bạn sẽ thầm cám ơn bạn vì nếu nói được, cá rồng sẽ hét lên là chúng tôi muốn có cây thủy sinh trong môi trường sống. Chắc chắn là như vậy vì định luật muôn đời là vẫn là chim muông cần rừng rú, và cá cần cây thủy sinh.

Cá rồng trong bể thủy sinh lên màu rất tốt, háu ăn, ít bệnh, sung sức vì cây thủy sinh là hệ thống lọc nước hữu hiệu nhất, đồng thời bạn không phải thay nước thường xuyên. Như đã có đề cập đôi lần, ammonia, nitrite và nitrate là 3 độc tố làm người chơi cá rồng phải băn khoăng không ít, và mất nhiều thời gian và công sức để loại bỏ chúng ra khỏi bể cá rồng. Cây thủy sinh là cách giải pháp hữu hiệu và đạt hiêu quả cao nhất. Tuy nhiên, nếu cây thủy sinh có tác dụng tốt như thế, tại sao nhiều người chơi cá rồng không ứng dụng chúng trong các bể cá rồng?

3. Một số nhân tố từ bể thủy sinh của bạn có thể gây bất lợi lên cá rồng:

Phân nền bể thủy sinh làm cá rồng dễ bị bệnh, một số cây thủy sinh cần sục khí CO2 sẽ gây bất lợi đến cá rồng. Khi muốn kết hợp bể cá rồng với cây thủy sinh, bạn nên chọn các loại cây thủy sinh có khả năng mọc bám trên đá, và các loại gỗ thủy mộc (driftwood/bogwood) như cây java moss, java fern vàanubias.

Phân nền và sỏi là một điều không nên, vì đặc tính khi ăn mồi của cá rồng là xé nát con mồi, tạo nên rất nhiều thức ăn vụn li ti, công thêm phân thải ra từ cá rồng, sẽ tích tụ và lắng đọng xuống nền bể. Phẩm chất của nước bể sẽ vì thế không được tốt cho bằng nếu bạn tạo điều kiện cho Java moss leo và bám vào driftwoods, cộng thêm nếu có nền bạn phải mất nhiều công sức khì thay nước, vì phải hút các chất thải ra, mà đôi lúc cũng không làm sạch hết được chúng . Bạn muốn được vẹn toàn cả đôi ba bề cho cá rồng, cho cây thủy sinh, đẹp mắt, và không mất nhiều công sức thì không nên xử dụng nền phân trong bể cá rồng.

Kết hợp cá rồng với bể thủy sinh có phân nền không phải là bất khả khi, nhưng sẽ cực trần ai trong việc thay nước bể, và phẩm chất của nước bể sẻ từ từ mà xuống dốc dài dài. Nhưng nếu bạn nào có thời gian và không lười biếng như tôi, thì xin mời. Thời gian thay nước bể cá rồng/thủy sinh, và hút các chất dơ v.v.v., theo tôi nên dùng để ngắm/thưởng ngoạn cá rồng thì tốt hơn.

4. Các cây thủy sinh cần nhiều ánh sáng không thích hợp cho bể cá rồng

Các loại cây bèo và lục bình cần nhiều ánh sáng, nếu muốn trồng trong bể cá rồng, tôi vẫn có thể tăng đèn để giúp cho chúng phát triển, nhưng đã loại bỏ khả năng đó, vì không muốn ảnh hưởng đến sức khỏe cá rồng. Nhưng nếu bạn đọc kỹ, tôi không nói là không thể kết hợp thành công, mà chỉ là không nên vì những ảnh hưởng đến sức khỏe(stress), bỏ ăn và thị giác của cá rồng về lâu, về dài nếu xử dụng đèn quá nhiều để đảm bảo sư phát triển của các loài cây thủy sinh này, vì chúng cần rất nhiều ánh sáng, mà tôi thikhông muốn quá nhiều ánh sáng chói chan trong bể để có thể có những ảnh hưởng phụ đến cá rồng.

Đối với tôi cá rồng là chính, các cây thủy sinh trong bể là phương tiện để tôi nâng cao sự phát triển của cá rồng. Nếu trong quá trình thực hiện ý định của tôi, cây thủy sinh có làm cho bể đẹp hơn, hữu tình hơn, thì đó là một một công hai chuyện vây. Tất cả những rủi ro mà tôi biết chắc là sẽ sảy ra cho cá rồng như đã nêu trên nếu sống dưới một lượng đèn quá nhiều và quá mạnh, đó là lý do tôi đã chuyển qua các loại cây không đòi hỏi nhiều về anh sáng, khí CO2, phân bón v. v..

Dĩ nhiên có các loại cây thủy sinh khác thích hợp cho cá rồng, nhưng 3 loại tôi nêu trên là tiêu biểu vì đặc tính “lì”, “khó chết”, không cần bơm CO2, không cần nhiều ánh sáng, không cần nhiều sự chăm nom mà vẩn đẹp và phát triển tuy chậm. Với bể cá rồng bạn nên chọn các loại cây thủy sinh có đặc tính vừa liệt kê là ổn thỏa ngay.

5. Hóa ra cá rồng có thể sống hòa bình trong bể thủy sinh được.

Cá rồng tuy là loại cá ăn mồi thuộc loại có kích thước lớn, khi săn mồi thường rất mạnh bạo với một tốc độ cao, nhưng không kém phần chính xác . Khi cần để nhẹ nhàng, uyển chuyển ngoam nhẹ các mồi thức ăn trong các thân cây/lá thủy sinh, cá rồng rất khéo léo. Khả năng tăng và ngưng tốc độ trong trong tích tắc, độ chính xác và nhẹ nhàng khi cần thiết của cá rồng là một trong những lý do tai sao chúng lôi cuốn và mê hoặc người thưởng ngoạn. Các bạn đang nuôi cá rồng biết rất rỏ về điều này. Bạn không phải lo khi săn mồi cá rồng sẽ tớp/đớp thân cây hay lá cây thủy sinh trong bể.

Nếu bạn muốn kết hợp cá rồng với bể thủy sinh, thì không cần phải mua lại cá nhỏ đâu. Cá rồng tuy là cá săn mồi và to xác, nhưng không phải là loài cá phá phách. Chúng rất hiếm khi hủy hoại các loại cây thủy sinh trong bể, tuy nhiên bạn nên chọn các loại cây thủy sinh ít đòi hỏi vê cách chăm nom, và lì, nếu không muốn nói là ” trâu bò”. 3 loại cây tôi góp ý , đều thỏa mản các tiêu chuẩn mà tôi vừa đề cập.

Bạn chỉ cần thay đổi điều chỉnh vài chi tiết nhỏ như thay vì gieo xuống nền phân thì cho cây thủy sinh bám vào đá/gổ lua, và thay đôi về cách chăm sóc cây như không bơm khí CO2, thỉnh thoảng cho thức ăn của cây bằng dạng dung dịch, thay vì phân bón v.v… Nếu làm thế, bạn và các người thưởng ngoạn sẽ cảm thấy thich thú hơn khi ngắm xem một bể cá rồng với cây thủy sinh. Cá rồng bạn sẽ nhờ cây thủy sinh khỏe và đẹp hơn về cả dáng dấp bề ngoại cũng như bên trong cơ thể (cái này gọi là trong uống ngoài thoa đây ) cá rồng bạn sẽ thầm cám ơn bạn vì nếu nói được, cá rồng sẽ hét lên là chúng tôi muốn có cây thủy sinh trong môi trường sống. Chắc chắn là như vậy vì định luật muôn đời là vẫn là chim muông cần rừng rú, và cá cần cây thủy sinh.

Thêm một điểm nữa là bể cây thủy sinh có tác dụng thư giản rất hiệu nghiệm. Sau một ngày làm việc, thả hồn chìm lẫn trước một bể thủy sinh đẹp, cộng thêm dáng dấp bơi lội khoan thai, từ tốn của cá rồng lướt, len lỏi giũa các tàng cây/lá như ” cỏ cây chen lá, cá chen cây” của Hồ Xuân Hương ( mình đổi lại tí cho phù hợp), hòa lẫn với tiếng nước róc rách đổ xuống từ máy lọc, với tôi đó là một sự thư giản, tĩnh mịch kỳ thú và là niềm hạnh phúc. Bạn còn chần chờ chi nữa mà không bắt tay vào việc kết hợp hài hòa này.

6. Cuối cùng là việc chọn lũa thủy sinh cho bể cá rồng

Lúc lựa chọn các gỗ thủy mộc, bạn không nên chọn các loại có cạnh nhọn và có độ chiều cao, vì cá rồng có thể đâm vào chúng mà bị thương. Hảy tưởng tượng trong bể cá rồng, với các drifwoods được bao phủ với java moss, xen kẻ với cây java fern làm phong ( vì chúng thấp), và anubias được cột/bám vào đằng sau ( vì chúng cao), bạn sẽ có ngay một bức tranh thủy mạc rất hửu tình, lại tạo cho bể cá rồng có một cái nhìn rất thiên nhiên và tư nhiên, đồng thời người thưởng ngoạn sẽ có cảm tưởng hồ cá cá rồng nhìn không trơ trọi, mà lại là một bể cá rất lâu đời.

Muốn kết hợp cá rồng với cây thủy sinh xử dụng gỗ lũa hay đá, bạn có thể chọn các loại dài, to lớn nhưng không có các cạnh sắc bén và chiều cao không quá độ để tránh rủi ro. Vả lại khi java moss đã phát triển và bám đều (hay bạn cột chúng đều và nhiều từ lúc ban đầu cấy giống, chúng sẽ là bộ đệm ở những cạnh sắc nhọn). Nếu bạn GHT kết hợp java moss và chen vào đó vài cụm cay anubias hay java fern trên và chung quanh khúc cây gỗ lua, thì đây là một cách khéo léo để tránh sư rủi ro cho cá rồng khi va cham, vì các khía cạnh có khả năng gây thương tích cho cá rồng đã được đệm bởi những cây thủy sinh này.

Bảo đảm sau 1 tháng có cây thủy sinh trong bể cá rồng, bạn sẽ nhận thấy ngay sự thay đổi về phẩm chất của nước bể, dáng dấp bơi lội của cá rồng, nếu cá có nhát, sẽ không còn nhát nữa, vì bạn cho chúng một môi trường gân giống như thiên nhiên, cá sẽ ăn và lên màu như điên. Mối lo ngại hàng đầu cho dân chơi cá rồng là cá đôi lúc nhịn ăn. Bạn sẽ không phải lo lắng nữa, vì cây thủy sinh sẽ lo và đảm bảo từ A-Z.

Đây là những chia sẽ kinh nghiệm từ Lâm Kim Chi, sẽ cập nhật tiếp vào các bài viết sau.

Hướng Dẫn Cách Nuôi Cá Koi Cơ Bản

Cá Koi ( cá chép Nhật Bản) theo tiếng nhật là Nishikigoi, được người Nhật lai tạo giống hơn 200 năm trước và luôn là đề tài sôi nổi ở các diễn đàn cá cảnh trên khắp thế giới hiện này. Tùy theo màu sắc đặc tính mà người ta còn có nhiều tên gọi cho các con cá:

Con cá có màu nền trắng pha màu đỏ gọi là Kohaku. Cá màu nền trắng pha màu đỏ và thêm một chút màu đen gọi Showa sanke- Cá có màu xám bạc hai bên mang có màu đỏ pha trắng gọi là Asagi và Shusui. Ngoài ra còn có nhiều tên khác nữa như Kohaku, Sanke, Showa, Ogon, Kin- Showa, Kujaku, Hi-Utsuri, Shusui, Komonryu, Koromo, Showa Sanshoku.

Cá Koi là loài cá cảnh có thể sống tới cả trăm năm tuổi, nuôi trong hồ nhân tạo nó cũng thể sống tới 25 – 45 năm. Người Trung Hoa có truyền thuyết “cá chép hoá rồng” hay “cá vượt vũ môn”, tức là con cá chép khi sống trăm năm tuổi có thể lột xác biến thành Rồng để đạp mây vờn gió khỏi phải sống một số phận lặn hụp dưới nước.

Về thiết kế hồ nuôi cá Koi

Độ sâu của hồ: hồ không nên sâu quá 1,5m. Nên thiết kế hồ cá koi theo hình bậc thang, tạo nên khoảng sâu khác nhau. Chỗ cạn nhất không nên dưới 0,4m.

Hồ cá hình vuông, tròn, chữ nhật, bán nguyệt, uốn cong, bầu dục… là những kiểu hình dáng thông dụng mà bạn có thể lựa chọn.

Hồ cá koinên được thiết kế lửng hoặc ở dạng âm xuống đất. Mức nước trong hồ nên ngang bằng mặt đất, như thế bạn sẽ dễ dàng thưởng thức, chơi đùa với Koi.

Thành của hồ cá nên có màu sẫm hoặc tối.

Khi xây xong hồ nên ngâm nước và xả khoảng 2-3 lần, sau đó mới thả cá.

Nên dùng WUNMID liều 100 g/ 200m3 nước để sát trùng trước khi thả cá. Sau 24 giờ có sục khí, bạn tiến hành cấy vi sinh vật có lợi. Sau đó một ngày, bạn có thể thả cá vào bể.

Về môi trường nước trong hồ nuôi cá koi

Để cá phát triển tốt, môi trường nước phải đảm bảo các điều kiện sau:

– Độ pH: 7-7.5.

– Ngưỡng pH: 4-9.

– Nhiệt độ 20-27 độ C.

– Hàm lượng O2 tối thiểu: 2,5mg/l.

Về việc chọn giống để nuôi cá koi

– Bạn sẽ thành công 50% khi bạn chọn con giống khỏe mạnh, màu rõ nét, dáng bơi thẳng, sức khỏe tốt.

– Về hình dáng của Koi giống: cân đối, không xây xát, không dị hình, màu tươi sáng, rõ nét, khỏe mạnh, bơi lội, phản ứng nhanh, dễ thích nghi với môi trường nước mới.

– Vận chuyển cá giống về thả cần phải nhẹ nhàng, không làm cá bị trầy xước. Không nên vận chuyển cá với mật độ dày để cá được khỏe mạnh và hạn chế nhiễm bệnh sau khi thả. Nên thả cá vào buổi sáng hoặc chiều mát, tránh lúc trưa nắng gắt.

– Trước khi cho cá vào môi trường nước mới, nên để bao chứa cá ở hồ khoảng 15-20 phút để thuần nhiệt độ, sau đó mới mở miệng bao thả cá. Điều này sẽ giúp cá không bị sốc khi tiếp xúc với môi trường mới.

Incoming search terms:

cach nuoi ca koi

nuoi ca koi

kỹ thuật nuôi cá koi

cách nuôi cá chép koi

hồ cá chép Koi

ca coi

hướng dẫn nuôi cá koi

nuôi cá chép koi

Cập nhật thông tin chi tiết về Hướng Dẫn Nuôi Cá Koi Cho Sinh Sản trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!