Xu Hướng 11/2022 # Hiệu Quả Từ Mô Hình Nuôi Cá Chạch Bùn Thương Phẩm Tại Huyện Đạ Huoai / 2023 # Top 12 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Hiệu Quả Từ Mô Hình Nuôi Cá Chạch Bùn Thương Phẩm Tại Huyện Đạ Huoai / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Hiệu Quả Từ Mô Hình Nuôi Cá Chạch Bùn Thương Phẩm Tại Huyện Đạ Huoai / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cá chạch bùn (tên khoa học: Misgurnus anguillicaudatus) có thịt thơm ngon, xương mềm nên thị trường nội địa tiêu thụ rất mạnh. Cá chạch bùn còn được gọi là cá chạch sụn vì khi cá đạt trọng lượng 30-40 con/kg thì toàn bộ xương cá (kể cả xương đầu và xương sống) được chuyển hóa thành sụn nên được nhiều người ưa chuộng, có thể sử dụng làm thực phẩm cho cả người già và trẻ nhỏ.

Cá chạch bùn có nguồn gốc từ Đài Loan được đưa về Việt Nam nhân giống, những năm qua được nuôi chủ yếu ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Nhiều bà con nông dân đang đầu tư sản xuất con giống và nuôi cá thịt thương phẩm hướng tới xuất khẩu.

Nhằm nghiên cứu, đưa loài thủy sản mới vào nuôi thử nghiệm trên địa bàn huyện Đạ Huoai. Qua đó, đánh giá tính thích nghi, hiệu quả kinh tế để khuyến cáo nông dân nuôi trồng, phát triển kinh tế. Năm 2014, Trung tâm Nông nghiệp huyện Đạ Huoai triển khai mô hình thử nghiệm nuôi cá chạch bùn thương phẩm tại huyện Đạ Huoai từ nguồn vốn Khoa học – Công nghệ của huyện. Mô hình được triển khai tại 2 hộ của thị trấn Mađaguôi, huyện Đạ Huoai (hộ ông Vũ Đức Biệc, tổ dân phố 2 và hộ ông Trần Minh Ngọc, tổ dân phố 10) với quy mô 200 m2/hộ. Số lượng con giống thả nuôi 9.000 con/điểm/200m2. Kích cỡ con giống thả nuôi khoảng 2 g/con. Sử dụng thức ăn công nghiệp của cá chạch bùn có hàm lượng đạm từ 30-35%.

Sau 3,5 tháng nuôi (từ tháng 8-11/2014), cá đạt trọng lượng trung bình 35 gram/con (28-30 con/kg) tương ứng tốc độ tăng trọng 9,14 gram/con/tháng. Tỷ lệ nuôi sống đạt 89% (lượng cá giống thất thoát không phải do bị bệnh mà chủ yếu là do vận chuyển đường xa cá bị chết và bị chim, cò ăn trong quá trình nuôi). Sản lượng cá thu hoạch đạt 280 kg/200m2, giá bán sỉ 145.000 đồng/kg, doanh thu 40,6 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí 24,93 triệu đồng gồm mua giống, thức ăn công nghiệp, thuốc thú y thủy sản…, nông dân thu lãi 15,67 triệu đồng/200m2/3,5 tháng nuôi (chưa trừ chi phí công lao động).

Qua quá trình theo dõi, cá chạch bùn có nhiều ưu điểm như: Tăng trọng nhanh, chu kỳ nuôi ngắn (3-4 tháng/lứa), sức đề kháng cao, không xuất hiện bệnh tật, thịt cá thơm, ngon, bổ dưỡng, giá bán cao, thị trường tiêu thụ thuận lợi (tư thương đặt hàng mua số lượng lớn)… nên hiệu quả kinh tế cao. Ngày 22/11/2014, Trung tâm Nông nghiệp huyện Đạ Huoai tổ chức mời nông dân tham dự hội thảo, trực tiếp nghe nông hộ thực hiện mô hình báo cáo hiệu quả kinh tế của việc nuôi cá chạch bùn. Đến nay, ngoài 2 hộ thực hiện mô hình tiếp tục nuôi chu kỳ mới thì đã có thêm 2 hộ chủ động đầu tư, nhân rộng mô hình. Hiện nay cá đang sinh trưởng, phát triển rất tốt, tỷ lệ sống cao, tăng trọng nhanh.

Nhằm giúp nhiều hộ dân nắm bắt kỹ thuật, nhân rộng mô hình nuôi cá chạch bùn thương phẩm để phát triển kinh tế, Trung tâm Nông nghiệp Đạ Huoai giới thiệu kỹ thuật nuôi cá chạch bùn thương phẩm như sau:

1. Chuẩn bị ao nuôi

Vị trí ao nuôi tốt nhất là gần nguồn cung cấp nước. Nước có thể ra vào thường xuyên, điều kiện thay nước dễ dàng. Chất lượng nước đảm bảo không bị ô nhiễm. Nên chọn ao ở những nơi đất có thành phần cơ giới nặng như đất sét, thịt pha sét.

Vị trí ao ở nơi thoáng mát, nhiều ánh nắng. Bờ ao và mái bờ ao phải chắc chắn không bị sạt lở, không có khe nứt, hang hốc.

Mực nước trung bình từ 60-70 cm, trong ao có thể thả bèo tây để tạo chỗ trú ẩn cho cá tránh nóng, tránh rét và làm sạch môi trường nước.

1.1 Kỹ thuật xử lý, cải tạo ao nuôi

- Đối với những ao đã nuôi: Có hai phương pháp cải tạo ao, đó là cải tạo khô hoặc cải tạo ướt, cũng có thể kết hợp giữa cải tạo khô và cải tạo ướt, tuỳ thuộc vào chất đất, độ pH của đất, điều kiện vùng nuôi để có phương pháp cải tạo ao thích hợp đảm bảo nền đáy ao sạch, chất lượng nước tốt và ổn định.

* Cải tạo ướt: Đối với ao bị nhiễm phèn hoặc không thể phơi đáy. Hút bùn đen ra ngoài ao. Lấy nước vào đầy ao rồi xả, xả 3-4 lần. Lấy nước vào khoảng 30cm rồi đánh CaO (vôi tôi) 15-20 kg/100m2. Ngâm 2-3 ngày sau đó xả bỏ. Lấy nước vào, xả bỏ lại một lần nữa, nên cải thiện đáy ao với men vi sinh xử lý đáy.

Bón vôi CaCO3 (vôi bột), liều lượng vôi dùng để cải tạo cho 1.000 m2 ao.

pH

CaCO3 (Vôi bột)

(Kg)

Ca(OH)2

(Vôi nông nghiệp)

4 – 5

160 – 180

100 – 120

5 – 6

120 – 140

80 – 100

80 – 100

40 – 60

Sau đó, lấy nước vào ao.

* Cải tạo khô: Đối với ao ít hoặc không nhiễm phèn, thì thực hiện:

Tát cạn ao: Có thể tháo, bơm, hoặc tát để ao hết nước.

Dọn ao: Sửa sang bờ, dọn cỏ quanh bờ, chống rò rỉ, dọn sạch và san đáy, vét bùn, sửa sang cống tháo nước vào, ra. Trong điều kiện cho phép có thể cày xới và phơi lớp bùn đáy ao trong 5-10 ngày tạo điều kiện cho oxy thâm nhập vào đáy ao góp phần làm tăng độ màu mỡ của ao. Lớp bùn trong ao nuôi cá nên để từ 20-25cm là tốt nhất.

Diệt tạp: Tức là diệt các loại sinh vật gây hại cá còn sót lại dưới đáy ao hoặc xung quanh bờ, chủ yếu là các loài cá ăn thịt như lươn, cá rô, cá trê, cá lóc, các loại ấu trùng, côn trùng, cóc, ếch nhái. Dọn ao và diệt tạp thường tiến hành đồng thời và làm trước khi thả cá ra ao từ 10-12 ngày. Nếu làm sớm quá sinh vật hại cá sẽ có điều kiện phát triển trở lại. Nếu làm muộn thì một số chất diệt tạp chưa phân hủy hết sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cá bột. Sử dụng vôi để diệt tạp. Khi vôi tan vào trong nước làm tăng độ pH của nước lên cao (pH = 11) làm cho các loài cá tạp, tôm và các sinh vật có hại khác bị tiêu diệt.

Bón lót: Là biện pháp cần thiết trong khâu chuẩn bị ao ương nhất là với những ao nghèo chất dinh dưỡng. Mục đích của việc bón lót là cung cấp cho ao một lượng phân hữu cơ là nguồn dinh dưỡng tức thời cho các sinh vật làm thức ăn cho cá ngay khi thả xuống ao. Mặt khác do phần lớn lượng phân bón lót phân hủy chậm nên nó sẽ tiếp tục bổ sung dinh dưỡng giúp cho quá trình phát triển sinh vật phù du trong ao được lâu bền trong suốt thời kỳ nuôi cá. Tùy điều kiện từng địa phương, gia đình có thể sử dụng phân lợn, gà đã ủ để bón lót tránh dùng phân có nhiều rác khó phân hủy. Lượng phân bón 20-50 kg/100m2.

Gây màu nước: Sau khi vét bùn đáy, bón vôi khử trùng, bón lót xong ta tiến hành lấy nước vào ao để đạt độ sâu 70 cm rồi tiến hành gây màu nước. Lưu ý khi lấy nước phải dùng lưới lọc ở chỗ lấy nước vào để ngăn các loài địch hại.

Gây màu nước thực chất là tạo môi trường thuận lợi cho tảo phát triển, tảo quang hợp mạnh sẽ cung cấp nhiều oxy cho ao nuôi. Chúng ta nên sử dụng các loại phân vô cơ NPK, phân vi sinh, men vi sinh hoặc chế phẩm sinh học bón xuống ao. Khoảng 7-10 ngày sau khi sử dụng phân bón, tảo trong ao phát triển, màu nước của ao có màu xanh nhạt thì chúng ta tiến hành thả giống. Với cách chuẩn bị như thế, hầu hết các ao nuôi sau khi thả giống một tháng không phải thay nước, chỉ cần giữ mực nước ở ao nuôi với độ sâu tối thiểu từ 1-1,2m.

Cách gây màu nước

+ Nếu dùng phân đã ủ để gây màu thì hòa phân với nước rồi rắc đều khắp ao. Lượng phân dùng khoảng 50-60 kg/100m2.

+ Nếu dùng phân xanh thì phải ngâm xuống ao sớm hơn bón phân chuồng 3-4 ngày. Bó phân xanh thành từng bó khoảng 5-10 kg. Cứ 100m2 rải 3-4 bó đều quanh ao. Cứ như vậy khoảng 7-10 ngày phân xanh phân hủy hết thì vớt đi phần cành cây không phân hủy, rồi lấy tiếp nước cho đạt yêu cầu.

– Đối với những ao mới đào: Nếu ao mới đào chưa nuôi cá, cho nước vào ngâm 2-3 ngày rồi xả hết nước ngâm và tháo rửa như vậy ít nhất 2-3 lần để rửa ao. Sau đó tiến hành các bước cải tạo ao như với ao đã nuôi ở trên.

2. Chọn giống nuôi và thả giống: Giống được mua tại những cơ sở chuyên sản xuất giống nhân tạo cá chạch bùn. Khi mua cần chú ý chọn mua ở những địa chỉ tin cậy, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu như cá khỏe mạnh, cỡ đồng đều 500 con/kg, sáng bóng, không mất nhớt, bơi lội hoạt bát, không bị trầy xước.

3. Mật độ thả nuôi: 45 con/m2 hoặc thả 10-15 kg chạch giống/100m2 ao. Cá nên được thả vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu cá được vận chuyển bằng túi nilong bơm oxi, trước khi thả phải ngâm túi chứa cá vào ao thả từ 15-20 phút để tránh sốc do nhiệt độ và môi trường nước ao thay đổi.

4. Cho ăn và chăm sóc

- Thức ăn: Có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như: khô đậu, cám gạo, nhộng tằm, thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp, cá tạp, ốc xay. Khuyến cáo nên dùng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi dùng cho cá chạch có hàm lượng đạm từ 30-35%.

- Lượng thức ăn: 5-8% trọng lượng thân. Hệ số tiêu tốn thức ăn 1,7kg thức ăn sẽ cho ra 1 kg cá chạch thương phẩm có trọng lượng 25-30 con/kg (trung bình 30-40 g/con).

- Thời gian cho ăn: Cho ăn 1-2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều tối. Tuy nhiên cá có tập tính ăn chủ yếu vào ban đêm, nên lượng thức ăn cho ăn vào chiều tối là chủ yếu.

5. Thu hoạch

Khi cá chạch đạt giá trị thương phẩm, trước khi xuất bán không cho ăn trước 1 ngày, không dùng kháng sinh trước khi xuất bán 15 ngày. Đánh bắt cẩn thận không để xây xát, cho vào thùng xốp, không cho nước, hoặc cho ít nước để không bị khô da.

6. Phòng bệnh và trị bệnh

Phòng bệnh: Cá chạch ít bị bệnh, tuy nhiên nếu để nước ô nhiễm nhiều ngày thì cũng dễ bị bệnh. Cá chạch có thể bị nấm, đốm đỏ lở loét, bệnh đường ruột… Để phòng bệnh nên trộn thêm vitamin C, men tiêu hóa vào thức ăn, định kỳ cho ăn 2 lần/tháng, mỗi lần 3-5 ngày liên tục. Ngoài ra còn phải cho ăn 4 đúng (đúng chất lượng, đúng số lượng, đúng thời gian, đúng vị trí). Chú ý thay nước định kỳ không để nước ô nhiễm.

Trị bệnh: Khi phát hiện cá chạch bị nấm có thể tắm cho bằng các loại hóa chất sau: Nước muối 3%; hoặc KMnO4 liều lượng 20g/m3 nước, thời gian 10-15 phút.

Trộn kháng sinh vào thức ăn cho ăn: Doxycyline 0,2-0,3g/kg thức ăn; Oxytetracyline 2-4g/kg thức ăn, cho ăn 5-7 ngày liên tục.

Nguyễn Thị Thu Thắm

Trung tâm Nông nghiệp huyện Đạ Huoai

Hiệu Quả Từ Nuôi Cá Sặc Rằn Thương Phẩm / 2023

Sau 7- 8 tháng thả nuôi, nông dân có thể đạt lợi nhuận từ 40- 60 triệu đồng/1.000m2 ao nuôi. Đó là hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi cá sặc rằn thương phẩm ở huyện đầu nguồn An Phú. Cá sặc rằn là loài dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao.

Một trong những địa phương nổi tiếng với con cá sặc rằn là xã Khánh An (An Phú). Đây còn là nơi nổi tiếng với đặc sản khô, mỗi năm cung ứng thị trường 300- 350 tấn khô các loại, chủ lực là khô sặc rằn. Trước đây, nguồn nguyên liệu làm khô sặc rằn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung từ Campuchia và Thái Lan.

Gần đây, nguồn cá nguyên liệu ngày càng giảm thì mô hình nuôi cá sặc rằn thương phẩm tại địa phương là giải pháp cung ứng cho các cơ sở chế biến khô sặc rằn ở An Phú. Đầu năm 2011, Phòng Nông nghiệp- Phát triển nông thôn (NN-PTNT) huyện An Phú phối hợp Trung tâm Giống thủy sản An Giang (đơn vị chuyển giao kỹ thuật) đã triển khai dự án “Mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phát triển nuôi cá sặc rằn”.

Sau 24 tháng thực hiện, mô hình được Sở Khoa học- Công nghệ nghiệm thu với kết quả cao. Triển khai dự án này, nông dân và kỹ thuật viên được học tập các mô hình nuôi cá sặc rằn hiệu quả và tập huấn ứng dụng thành thạo kỹ thuật sản xuất giống, nuôi thương phẩm cá sặc rằn.

Dự án còn xây dựng thành công 7 mô hình ương giống và xây dựng 9 mô hình nuôi cá sặc rằn thương phẩm. Thành công lớn của dự án là cải tiến được quy trình kỹ thuật trong khâu tuyển chọn con giống và sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm cao (30%), rút ngắn chu kỳ nuôi (từ 3 – 5 tháng so với trước) và tăng vòng vốn sản xuất.

Anh Cường, một trong những người tham gia mô hình nuôi cá sặc rằn đầu tiên ở xã Khánh An, cho biết: “Nhờ theo dõi sát các buổi tập huấn và được kỹ thuật viên thủy sản hướng dẫn tận tình nên tỷ lệ hao hụt rất ít, cá nuôi phát triển tốt”.

Vụ nuôi vừa rồi, anh Cường trúng lớn. Với diện tích 6.000m2, sau 7- 8 tháng nuôi, thu hoạch bình quân 2,2 tấn/1.000m2, trừ chi phí anh Cường còn lãi hơn 300 triệu đồng…

Chủ động được nguồn nguyên liệu sẽ giúp thương hiệu khô cá sặc rằn Khánh An (An Phú) vươn ra thị trường trong, ngoài nước.

Năm 2013, Sở NN-PTNT An Giang cũng đã triển khai dự án “Chuỗi giá trị sản xuất cá sặc rằn” với mô hình 2 héc-ta và 1 cơ sở chế biến khô công suất 200- 250 tấn thành phẩm/năm. Mục tiêu nhằm xây dựng vùng nuôi cá sặc rằn công nghệ cao và cung ứng nguyên liệu cho cơ sở chế biến khô cá sặc rằn xã Khánh An (An Phú).

Đây còn nhằm tổ chức mô hình chuỗi liên kết sản xuất từ sản xuất con giống, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm khô cá sặc rằn Khánh An. Đồng thời, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào cơ sở chế biến khô cá sặc rằn để nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, thực hiện công bố hợp quy…

Cá sặc rằn là đối tượng thủy sản dễ nuôi, nhu cầu thị trường lớn và ổn định, người nuôi có thể nuôi quảng canh hoặc thâm canh để tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên của địa phương, góp phần tăng thu nhập, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi. Với hiệu quả cao và đầu ra ổn định, cá sặc rằn sẽ là mô hình có tiềm năng phát triển trong thời gian tới.

Cá sặc rằn (còn gọi là cá rô tía da rắn hay cá rô tía Xiêm) là loài phân bố nhiều ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), như: An Giang, Kiên Giang, Cà Mau… Đây là loài cá dễ nuôi, khả năng thích nghi rộng, có thể nuôi thâm canh hoặc nuôi quảng canh trong ao hầm, mương vườn, ruộng lúa. Thức ăn chủ yếu của cá sặc rằn là thực vật thủy sinh và mùn bã hữu cơ. Những năm gần đây, nghề nuôi cá sặc rằn được nhiều nông dân quan tâm đầu tư, mang lại hiệu quả cao.

Theo AGO

Hiệu Quả Kinh Tế Từ Nuôi Cá Rô Đầu Vuông Thương Phẩm / 2023

Trung tâm Khuyến nông (Sở NN-PTNT) vừa tổng kết mô hình Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm tại các huyện Phú Hòa, Đông Hòa. Mô hình này giúp người dân khai thác hiệu quả diện tích mặt nước ngọt tại địa phương, mang lại hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập.

Thích nghi cao

Phú Yên có diện tích mặt nước ao, hồ thủy lợi, thủy điện, sông… tương đối lớn, rất thuận lợi để phát triển nghề nuôi thủy sản nước ngọt. Tuy nhiên, trong thời gian qua, người dân các địa phương chưa khai thác hết lợi thế và tiềm năng mặt nước ngọt. Trước thực trạng này, Trung tâm Khuyến nông đã triển khai mô hình Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm tại các huyện Đông Hòa, Phú Hòa.

Theo Trung tâm Khuyến nông, mô hình Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm được triển khai từ tháng 12/2015-8/2016 tại 4 hộ dân ở huyện Phú Hòa và Đông Hòa với diện tích 0,95ha mặt nước. Khi tham gia mô hình, các hộ nuôi được hỗ trợ 100% chi phí con giống, 30% chi phí thức ăn và được hướng dẫn kỹ thuật, quy trình nuôi từ lúc thả giống đến khi thu hoạch. Cá rô đầu vuông có kích cỡ 220 con/kg, mật độ thả 15 con/m2 mặt nước. Cá giống đảm bảo đồng cỡ, không bị dị hình, bơi lội nhanh nhẹn, màu sáng và đã được kiểm dịch.

Ông Ngô Phi Tâm ở xã Hòa Thành (huyện Đông Hòa), cho biết: Ao nuôi của gia đình tôi rộng 9 sào (4.500m2), lâu nay thường nuôi cá rô phi vì loại cá này dễ sống, sinh trưởng nhanh. Tuy nhiên giá bán lại khá bấp bênh, dao động từ 10.000-15.000 đồng/kg, hiệu quả kinh tế không cao. Từ khi được Trung tâm Khuyến nông giới thiệu mô hình Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm, tôi liền hưởng ứng. Tham gia mô hình này, gia đình được trung tâm hỗ trợ 67.000 con cá giống, khoảng 1,5 tấn thức ăn công nghiệp và hướng dẫn kỹ thuật nuôi. Theo ông Tâm, đây là giống cá mới, tại địa phương chưa có hộ nào nuôi vì thế cũng chưa có kinh nghiệm. Nhờ được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn tận tình nên ông đã dần biết cách chăm sóc. Cá rô đầu vuông là loài ăn tạp, thức ăn nuôi cá có thể dùng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các loại phế phẩm trong chế biến thủy sản hay cám gạo… So với giống cá rô đồng bản địa thì loại cá rô này có hình thể lớn hơn, lúc còn nhỏ thì khá giống, nhưng sau 3 tháng nuôi cá bắt đầu lớn rất nhanh, đầu to và hơi vuông. Định kỳ khoảng 10 ngày, ông Tâm thay nước ao nuôi một lần, mỗi lần thay khoảng 30% lượng nước trong ao, nhờ vậy cá ăn rất mạnh và mau lớn.

Còn ông Trần Nguyên Lãm ở thị trấn Phú Hòa (huyện Phú Hòa), cho hay: Tuy đây là lần đầu tôi nuôi giống cá rô đầu vuông nhưng nhờ loại cá này dễ sống, thích nghi cao với điều kiện tự nhiên tại địa phương nên tỉ lệ hao hụt thấp, chỉ khoảng 15%. Trong khi đó, tốc độ sinh trưởng của cá rất nhanh, nếu thâm canh đúng kỹ thuật thì sau 6 tháng nuôi, cá có kích cỡ từ 10-11 con/kg, đạt trọng lượng thu hoạch. Vừa qua, gia đình tôi đã thu được 2,8 tấn cá, bán với giá 35.000 đồng/kg, thu được 98 triệu đồng.

Tiếp tục nhân rộng

Theo Trung tâm Khuyến nông, qua tổng kết, mô hình Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm cho kết quả khả quan, tổng sản lượng cá thu hoạch gần 11 tấn, cá đạt kích cỡ khoảng 10 con/kg, giá bán 35.000 đồng/kg. Sau khi trừ các loại chi phí, mô hình cho lợi nhuận hơn 146 triệu đồng/0,95ha, tương đương với lợi nhuận khoảng 154 triệu đồng/ha mặt nước. Nếu người dân mở rộng quy mô nuôi thì hiệu quả kinh tế sẽ khá cao.

Ông Nguyễn Quang Luận ở thị trấn Phú Hòa (huyện Phú Hòa), một trong những hộ tham gia mô hình, cho biết: Sau 6 tháng nuôi, gia đình tôi đã thu hoạch được hơn 1,6 tấn cá rô đầu vuông thương phẩm, cho lãi gần 20 triệu đồng. So với các loại cá trê, tràu thì nuôi cá rô đầu vuông hiệu quả hơn vì tỉ lệ sống cao, ít bệnh, lớn nhanh. Tôi đang tính mở rộng diện tích nuôi lên 5 sào cho vụ sau, đồng thời chuyển từ nuôi thức ăn công nghiệp ròng sang cho cá ăn xen kẽ với các loại phụ phẩm nông nghiệp để giảm giá thành, tăng lợi nhuận.

Còn hộ bà Lê Thị Tuyền ở xã Hòa Thành (huyện Đông Hòa), trước nay chỉ nuôi cá trê, loại cá này ăn tạp nhưng lại hay bị bệnh nên tỉ lệ hao hụt và chi phí khá tốn kém. Vừa qua, được tham quan mô hình Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm do Trung tâm Khuyến nông triển khai, bà rất thích. “Gia đình tôi đang tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm để nuôi thêm giống cá mới này. So với cá trê thì cá rô đầu vuông có giá bán tương đương nhưng loại cá này ít bệnh, tỉ lệ hao hụt thấp nên hiệu quả kinh tế sẽ vượt trội hơn”, bà Tuyền nói. Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Đông Hòa Đỗ Kim Đồng cho hay: Từ hiệu quả của mô hình Nuôi cá rô đầu vuông thương phẩm, vừa qua địa phương đã nhân rộng mô hình này cho 5 hộ dân khác trên địa bàn, đến nay, cá nuôi trong mô hình phát triển rất tốt.

Theo Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Nguyễn Khắc Tân, qua mô hình cho thấy cá rô đầu vuông có nhiều đặc điểm vượt trội, có giá trị kinh tế, đây sẽ loài nuôi mới góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi nước ngọt. Hiện nay, giống cá rô đầu vuông được các cơ sở trong tỉnh sản xuất và cung ứng tại chỗ nên người nuôi có thể chủ động được nguồn giống.

Mô Hình Và Kỹ Thuật Nuôi Cá Lóc Thương Phẩm / 2023

Cá lóc thích sống vùng nước đục, nhiều rong cỏ. Có thể sống ở các khu vực nước chảy hay các ao tù do có cơ quan hô hấp phụ. Đây là loài cá dữ, ăn động vật như: cá, tôm, nòng nọc, côn trùng… Cá lóc có thể đẻ 5 lần/năm khi đạt 1 – 2 tuổi. Mùa vụ sinh sản từ tháng 4 – 8 nhưng tập trung vào tháng 4 – 5.

Kỹ thuật nuôi cá lóc trong ao đất

Chọn ao và chuẩn bị ao nuôi

Diện tích trung bình từ 500m2 – 1000m2

Độ sâu mực nước từ 1,2m – 1,5m. Đáy ao nghiêng về cống thoát nước để đảm bảo thoát hết nước trong ao

Bờ ao chắc chắn, không rò rỉ. Đỉnh bờ ao cao hơn mực nước từ 0,5m – 0,7m. Xung quanh ao có lưới bao cao khoảng 0,5m. Có hệ thống cấp và thoát nước

Tát cạn ao, vét bùn đáy, diệt cá tạp. Xử lý vôi CaCO3 từ 7 – 10kg/100m2. Phơi ao từ 2 – 3 ngày

Cấp nước vào ao qua lưới lọc, diệt khuẩn môi trường nước, bón phân gây màu nước. Sau 3 – 5 ngày khi nước có màu xanh đọt chuối thì thả giống.

Thả cá giống

Chọn cá giống khỏe, kích cỡ đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn, không dị tật hay xây xát

Kích cỡ cá thả từ 300 – 1.000 con/kg. Mật độ thả 10 – 20 con/m2, có thể thả mật độ cao 30 con/m2. Trong khi vận chuyển, cần hạ thấp nhiệt độ để hạn chế tỉ lệ hao hụt

Trước khi thả cần xử lý muối ăn NaCl 2% (2kg muối ăn/100 lít nước) trong 2 – 3 phút để diệt ký sinh, sát khuẩn cá và loại bỏ cá yếu, cá bị xây xát. Để bao cá xuống nước ao từ 15 – 20 phút mới thả cá ra bên ngoài nhằm để cá thích nghi dần nhiệt độ. Thả cá vào buổi sáng hay chiều mát.

Chăm sóc và quản lý ao nuôi

Có rất nhiều loại thức ăn cho các lóc mà người nuôi có thể sử dụng, tùy vào từng giai đoạn phát triển của cá mà lựa chọn loại thức ăn phù hợp.

Thức ăn tươi sống: cá biển, cá tạp, tôm, tép, cua, ốc…

Thức ăn chế biến hay còn gọi là thức ăn công nghiệp có bán trên thị trường với nhiều kích cỡ và chủng loại. Ví dụ như thức ăn dành cho cá lóc 9001 của tập đoàn De Heus

Cho cá ăn 2 lần/ngày vào buổi sáng và chiều mát. Khẩu phần như sau:

Cá < 10g: cho ăn từ 10 – 12% khối lượng thân

Cá từ 11 – 100g: cho ăn 5 – 10% khối lượng thân

Khẩu phần ăn còn phụ thuộc vào từng thời điểm, điều kiện môi trường, thời tiết và tình hình dịch bệnh

Thường xuyên kiểm tra sức khỏe của cá, theo dõi nhu cầu thức ăn tránh cho ăn quá nhiều hay quá ít. Thay nước hàng ngày khoảng 30% đối với cá lớn, cá nhỏ sau 2 – 3 ngày thì thay nước 1 lần

Định kỳ bổ sung các loại vitamin, khoáng, men tiêu hóa 10 – 15 ngày/lần nhằm tăng sức đề kháng với mầm bệnh, giảm stress, hấp thu thức ăn tốt hơn và cá đồng cỡ hơn. Sát khuẩn môi trường nước thường xuyên 7 – 10 ngày/lần trong mùa có dịch bệnh hay từ 12 – 15 ngày/lần trong điều kiện bình thường.

Thu hoạch

Sau 4 – 5 tháng nuôi cá đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 500 – 800g.

Kỹ thuật nuôi cá lóc trên bể lót bạt

Mô hình nuôi cá lóc trên bể lót bạt giống với nuôi cá lóc trong ao đất nhưng có vài đặc điểm khác như sau:

Vị trí đặt bể: gần sông, ao, hồ… nơi thuận tiện cho việc thay nước

Chi phí lắp bể thấp, dễ làm, tận dụng những nơi trống xung quanh nhà và có thể chuyển đổi qua nuôi các đối tượng khác. Bể xây dựng theo hình chữ nhật, cao 1,2m. Dùng các cây trụ cắm xung quanh, rào bằng bố tre hay đắp đất xung quanh. Trải bạt dưới đáy, rào lưới quanh bể tránh cá nhảy ra ngoài. Đáy bể nghiêng về phía thoát nước, đặt cống thoát sát đáy bể nhằm xả hết chất bẩn và có lưới lọc để tránh cá thất thoát. Mực nước trong bể từ 0,8m – 1m. Có máy bơm nước để việc cấp nước được dễ dàng và nhanh chóng hơn

Cập nhật thông tin chi tiết về Hiệu Quả Từ Mô Hình Nuôi Cá Chạch Bùn Thương Phẩm Tại Huyện Đạ Huoai / 2023 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!