Xu Hướng 11/2022 # Giá Cá Sặc Rằn Giống / 2023 # Top 14 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Giá Cá Sặc Rằn Giống / 2023 # Top 14 View

Bạn đang xem bài viết Giá Cá Sặc Rằn Giống / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đăng giá Thủy Sản

Sau khi nhận được thông tin trong vòng 12 giờ xác nhận, giá của bạn sẽ được đăng lên.

Kỹ Thuật Nuôi Cá Sặc Rằn / 2023

I. XÂY DỰNG AO NUÔI

– Cá Sặc Rằn không kén ao nuôi, nuôi trong ao, mương vườn, ruộng lúa…cá đều phát triển tốt. Diện tích lớn nhỏ đều nuôi được. Nên thiết kế ao có diện tích hình chữ nhật để dễ thao tác chăm sóc và thu hoạch.

– Cá sặc rằn sống được ở nước ngọt và nước lợ với nồng độ muối 8%o, trong ao nuôi cá sặc rằn không nên để nước quá đục, không nên sử dụng nguồn nước có pH < 6, có thể tận dụng nước trong ruộng lúa cấp vào ao nuôi.

– Khi nuôi với mật độ cao cần thiết kế ống bọng xả và cấp nước, đường kính tùy theo diện tích ao, thông thường đường kính ống bọng 30cm -40 cm là thích hợp.

– Bờ ao phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm từ 0,5m trở lên. Độ sâu của nước ao trên 1 m.

II. CHUẨN BỊ AO NUÔI

– Tháo cạn nước, tu sửa lại bờ ao, dọn cỏ xung quanh, chống rò rỉ, chống mất nước, kiểm tra ống bọng cấp thoát nước, diệt hết cá tạp, mầm bệnh trong ao.

– Sên vét bùn đáy ao, chỉ để lại 10 – 20cm bùn đáy.

– Dùng vôi bón xung quanh bờ ao và đáy ao, liều lượng từ 10 – 15 kg/100m 2, sau đó phơi ao đến nứt chân chim.

– Bón phân: Nên dùng phân hữu cơ bón lót cho ao, với lượng từ 15 -20kg/100m2, để tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Đối với ao mới thì cần tăng lượng phân xanh (lá so đũa, cây họ đậu) liều lượng từ 25 – 30 kg/100m 2.

– Sử dụng phân vô cơ NPK (20:20:0) với lượng 0,8 – 1 kg/100m2 bón thay trong trường hợp không có hoặc có ít phân hữu cơ.

– Sau khi bón phân, phơi ao 2 – 3 ngày và cho nước vào ao đạt độ sâu từ 1,2 – 1,5m (nước cấp phải qua túi lọc bằng vải kate để ngăn cá tạp, địch hại xâm nhập vào ao). Khoảng 4 – 5 ngày nước có màu xanh đọt chuối non thì bắt đầu thả cá giống.

– Trường hợp tận dụng mương vườn để nuôi thì cần diệt trừ dịch hại trước khi thả cá.

III. THẢ GIỐNG

– Mùa vụ thả: Cá sặc rằn được nuôi quanh năm, nhưng tốt nhất nên thả vào đầu muà mưa (khoảng tháng 5 AL hằng năm).

– Vận chuyển cá giống: Trong quá trình vận chuyển, cần đóng bao với mật độ thưa tránh trường hợp cá bị xây xát, mất nhớt. Nên vận chuyển cá vào lúc trời mát, thời gian vận chuyển dưới 10giờ.

– Chọn cá giống có kích thước đồng đều, khỏe mạnh không xây xát, màu sắc tươi sáng đặc trưng của loài, không có dấu hiệu bệnh, không dị tật, dị hình.

– Không nên chọn cá giống quá nhỏ, cá có kích cỡ từ 4 – 5 cm trở lên là thích hợp, tiện cho việc chăm sóc và quản lý.

– Cá được thả vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

– Để hạn chế tình trạng sốc môi trường và nhiệt độ, bao cá giống cần được thả xuống ao nuôi từ 10 – 20 phút rồi mới thả cá từ từ ra ngoài, đồng thời phải quan sát biểu hiện ban đầu của cá để có hướng khắc phục kịp thời.

– Mật độ thả từ 8 – 10con/m 2. Nếu nuôi cá ở ruộng, không bổ sung thêm thức ăn thì thả với mật độ từ 3 – 5 con/m2.

IV. QUẢN LÝ THỨC ĂN

– Nguồn thức ăn bổ sung: Tùy vào điều kiện thực tế của từng nông hộ mà nguồn thức ăn bổ sung có thể là:

– Cho ăn 100% thức ăn viên dành cho cá có vảy, có hàm lượng đạm 20 – 30% (thức ăn công nghiệp) trong khẩu phần ăn.

– Thức ăn tự chế biến bao gồm: Cám gạo 65% + Cá tạp 25% + Chất kết dính 10%.

– Phương pháp cho ăn: Hằng ngày cho cá ăn từ 1 – 2 lần vào lúc 7 – 8 giờ và 16 – 17 giờ. Nếu thức ăn tươi nên cho ăn qua sàng ăn để tiện việc kiểm soát thức ăn. Lượng thức ăn cho ăn hằng ngày thay đổi theo tháng nuôi: Hai tháng đầu là 10% tổng trọng lượng đàn cá, tháng thứ 3 – 4 cho ăn 7%, tháng 5 – 6 cho ăn 5% và những tháng sau cho ăn 3%. Để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp, cần lưu ý một số yếu tố như:

– Theo dõi sức ăn của cá, nếu sau 30 phút cá ăn hết là đạt yêu cầu.

– Khi nước ao bị sậm màu (tảo nhiều, đáy ao bị đen) nên giảm lượng cho ăn.

V. QUẢN LÝ AO NUÔI

Sau khi thả cá, việc quản lý môi trường ao nuôi là việc làm rất cần thiết và cần thực hiện thường xuyên trong quá trình nuôi.

– Thay nước: khi chất lượng nước xấu đi, chỉ nên thay nước khoảng 20 – 30 % để tránh tình trạng cá bị sốc. Việc thay nước sẽ làm tăng thêm oxy, giảm các chất độc trong hệ thống nuôi, kích thích cá hoạt động và bắt mồi, đặt biệt là kích thích sự tăng trưởng của cá.

* Lưu ý: khi thay nước phải xác định được nguồn nước cấp có đảm bảo yêu cầu về chất lượng hay không để tránh tình trạng làm xấu đi hoặc ô nhiễm chất lượng nước trong ao nuôi. Có thể thay nước theo chu kỳ 15 – 20 ngày/1 lần (đối với những tháng nuôi cuối).

– Phải thường xuyên theo dõi màu nước để điều chỉnh lượng thức ăn, phân bón, quan sát ao cá, tránh bị mọi, tràn bờ, địch hại (ếch, nhái, rắn,…) để diệt trừ; đồng thời quan sát hoạt động của cá (ăn mạnh hay yếu, có dấu hiệu bệnh hay không,…) để xử lý kịp thời.

– Bón vôi trên bờ ao vào những ngày mưa nhiều để giảm phèn.

– Định kỳ 15 – 20 ngày/lần sử dụng chế phẩm sinh học trong suốt quá trình nuôi.

– Phát hiện cá bị bệnh phải báo ngay cho cán bộ kỹ thuật để có hướng xử lý kịp thời.

VI. THU HOẠCH

– Sau 8 – 10 tháng cá đạt trọng lượng 100 – 150gr/con thì có thể tiến hành thu hoạch.

– Trường hợp kích cỡ cá trong ao không đồng đều thì dùng lưới thu tỉa, hoặc thu hết và thả nuôi lại cá nhỏ qua ao mới.

VII. PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CÁ

1. Phòng bệnh

Thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nuôi như:

– Xây dựng và cải tạo ao đúng theo quy trình kỹ thuật;

– Chọn cá giống phải khỏe mạnh, mật độ nuôi phải phù hợp;

– Nguồn nước cấp cho ao nuôi phải sạch không bị nhiễm bẩn;

– Trong quá trình đánh bắt, sang ao tránh làm xây xát;

– Cho cá ăn phải đầy đủ chất dinh dưỡng để cá có sức kháng bệnh;

– Trước khi thả cá nên tắm cá giống bằng thuốc tím hoặc nước muối 3-5‰ trong thời gian 5-10 phút để diệt hết các mầm bệnh.

2. Một số bệnh thường gặp trên cá sặc rằn

2.1. Bệnh trùng quả dưa

– Dấu hiệu bệnh lý: Trong giai đoạn đầu của bệnh sẽ xuất hiện những đốm màu trắng bằng đầu kim hoặc nhỏ hơn trên thân cá. Sau xuất hiện các đốm trắng trên da cá và vây cá bị tua ra. Cá bơi lội chậm chạp và tỷ lệ chết cao.

– Cách phòng trị: Dùng 20 – 25ml lít Formol/m 3 nước ao, trị 3 lần cách nhau 3 ngày 1 lần.

2.2. Bệnh trùng bánh xe

– Dấu hiệu bệnh lý: Khi cá nhiễm bệnh, trên thân cá có màu trắng đục, da cá sậm lại, mang cá nhợt nhạt, cá giảm ăn và nổi đầu từng đàn trên mặt nước.

– Cách phòng trị: Đây là bệnh ngoại ký sinh, có thể điều trị như sau:

+ Dùng Sulfat đồng (phèn xanh) phun khắp ao với liều lượng 0,3 – 0,5 gr/m 3 nước ao trị 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 1 ngày.

+ Dùng Formol với liều lượng 20 – 25m/m 3 nước. Trị 3 ngày liên tục.Nên trị bệnh cá lúc mát trời và trong thời gian trị bệnh nên giảm lượng thức ăn đi một nửa.

2.3. Bệnh nấm thủy my (nấm bông gòn)

Khi xuất hiện bệnh, thân cá có những vùng trắng xám, trên đó có những sợi nấm nhỏ mềm, tua tủa. Sau vài ngày sợi nấm phát triển đang chéo váo nhau thành búi trắng như bông, nhìn thấy được bằng mắt thường (để cá bệnh vào nước trong dễ quan sát hơn).

Có thể trị bằng một số phương pháp sau:

– Tắm cá với nước muối 8‰ trong 30 phút, lặp lại sau 3 giờ tiếp theo.

– Dùng thuốc tím (KMnO 4) tạt xuống ao liều 3-5 g/m3 nước

2.4 Bệnh trùng mỏ neo

Giống như cái que đầu có sừng cứng giống như mỏ neo cắm sâu vào cơ thể, thường bám trên các gốc vây ngực, vây hậu môn.

– Dùng Formaline 20 – 25 ml/ m 3 nước tắm cá trong 30 phút, lặp lại vào ngày tiếp theo và thay 70% nước mới cho cá.

– Dùng lá xoan, dây giác 0,3 – 0,5kg/m 3 nước, bó thành từng bó ngâm xuống ao.

Khô Cá Sặc Rằn Khánh An / 2023

Cá sặc rằn hay còn gọi là cá sặc bổi, miền Tây với điều kiện sinh thái rất thuận lợi cho tảo và phù du phát triển và đây củng chính là nguồn thức ăn chính của cá sặc rằn vì thế ở Miền Tây thì cá sặc rằn ăn rất ngon và thịt lại rất ngọt.

Điên điển mà đem muối chua Ăn kèm sặc nướng đến Vua cũng thèm !

Ở đồng bằng sông Cửu Long phổ biến nhất là loài cá sặc bướm, cá sặc Điệp và cá sặc rằn. Trong đó hai loại cá sặc Bướm và cá sặc Điệp dùng là cá cảnh hay chế biến thức ăn trong chăn nuôi riêng cá sặc rằn có giá trị kinh tế cao bởi thịt rất ngon. Cá sặc rằn hay còn gọi là cá sặc bổi có những rằn ri trên thân và phân bố nhiều ở Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ và Long Xuyên. Cá sặc rằn tươi thịt ngon và ngọt nên được dùng nấu canh, chiên, kho tiêu nhưng sản phẩm tạo nên thương hiệu chính là khô cá sặc rằn. Ngoài ra còn thấy người dân Nam Bộ đem đi làm mắm. Ngày nay người ta biết nhiều đến khô cá sặc rằn vì món ăn này đã trở thành đặc sản không chỉ trong nước mà còn xuất khẩu.

Ở miền Tây Nam bộ có rất nhiều làng nghề làm khô cá sặc mà một trong số những làng nghề nổi tiếng nhất phải kể đến chính là Khánh An. Sở dĩ, khô sặc rằn Khánh An nổi tiếng không chỉ có bề dày truyền thống lâu năm, mà chính là cách tẩm ướp gia vị và chế biến con khô rất vừa ăn. Để cho ra đời một sản phẩm ngon thượng hạng thì từ khâu tẩm ướp đến phơi khô đều rất quan trọng. Hằng năm ở Khánh An cung cấp cho thị trường một lượng lớn khô thành phẩm. Khô cá sặc rằn Khánh An con to, khô, ngon nên rất được người dân ưa chuộng.

Để làm ra được 1 kg khô thành phẩm thì cần đến 2.5 kg cá tươi, giá cá thương phẩm phụ thuộc vào mùa cá sặc. Khi điều kiện chăn nuôi còn nhiều khó khăn thì giá cá đầu vào ảnh hưởng rất nhiều đến giá khô cá sặc rằn. Vào những tháng gần Tết thì nhu cầu thị trường tăng cao điều đó tạo ra động lực cho những hộ làm nghề phơi cá sặc. Để đặc sản khô cá sặc rằn ngày càng được nhiều người biết đến thiết nghĩ cần có sự chung tay của tất cả các ngành các cấp cùng với nổ lực của người dân thì mới tạo được động lực đưa con khô cá sặc đi xa hơn và nhiều người biết đến hơn nữa.

090922 8083 ( Zalo / Viber / Gọi )

Hiệu Quả Từ Nuôi Cá Sặc Rằn Thương Phẩm / 2023

Sau 7- 8 tháng thả nuôi, nông dân có thể đạt lợi nhuận từ 40- 60 triệu đồng/1.000m2 ao nuôi. Đó là hiệu quả kinh tế từ mô hình nuôi cá sặc rằn thương phẩm ở huyện đầu nguồn An Phú. Cá sặc rằn là loài dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao.

Một trong những địa phương nổi tiếng với con cá sặc rằn là xã Khánh An (An Phú). Đây còn là nơi nổi tiếng với đặc sản khô, mỗi năm cung ứng thị trường 300- 350 tấn khô các loại, chủ lực là khô sặc rằn. Trước đây, nguồn nguyên liệu làm khô sặc rằn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung từ Campuchia và Thái Lan.

Gần đây, nguồn cá nguyên liệu ngày càng giảm thì mô hình nuôi cá sặc rằn thương phẩm tại địa phương là giải pháp cung ứng cho các cơ sở chế biến khô sặc rằn ở An Phú. Đầu năm 2011, Phòng Nông nghiệp- Phát triển nông thôn (NN-PTNT) huyện An Phú phối hợp Trung tâm Giống thủy sản An Giang (đơn vị chuyển giao kỹ thuật) đã triển khai dự án “Mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phát triển nuôi cá sặc rằn”.

Sau 24 tháng thực hiện, mô hình được Sở Khoa học- Công nghệ nghiệm thu với kết quả cao. Triển khai dự án này, nông dân và kỹ thuật viên được học tập các mô hình nuôi cá sặc rằn hiệu quả và tập huấn ứng dụng thành thạo kỹ thuật sản xuất giống, nuôi thương phẩm cá sặc rằn.

Dự án còn xây dựng thành công 7 mô hình ương giống và xây dựng 9 mô hình nuôi cá sặc rằn thương phẩm. Thành công lớn của dự án là cải tiến được quy trình kỹ thuật trong khâu tuyển chọn con giống và sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm cao (30%), rút ngắn chu kỳ nuôi (từ 3 – 5 tháng so với trước) và tăng vòng vốn sản xuất.

Anh Cường, một trong những người tham gia mô hình nuôi cá sặc rằn đầu tiên ở xã Khánh An, cho biết: “Nhờ theo dõi sát các buổi tập huấn và được kỹ thuật viên thủy sản hướng dẫn tận tình nên tỷ lệ hao hụt rất ít, cá nuôi phát triển tốt”.

Vụ nuôi vừa rồi, anh Cường trúng lớn. Với diện tích 6.000m2, sau 7- 8 tháng nuôi, thu hoạch bình quân 2,2 tấn/1.000m2, trừ chi phí anh Cường còn lãi hơn 300 triệu đồng…

Chủ động được nguồn nguyên liệu sẽ giúp thương hiệu khô cá sặc rằn Khánh An (An Phú) vươn ra thị trường trong, ngoài nước.

Năm 2013, Sở NN-PTNT An Giang cũng đã triển khai dự án “Chuỗi giá trị sản xuất cá sặc rằn” với mô hình 2 héc-ta và 1 cơ sở chế biến khô công suất 200- 250 tấn thành phẩm/năm. Mục tiêu nhằm xây dựng vùng nuôi cá sặc rằn công nghệ cao và cung ứng nguyên liệu cho cơ sở chế biến khô cá sặc rằn xã Khánh An (An Phú).

Đây còn nhằm tổ chức mô hình chuỗi liên kết sản xuất từ sản xuất con giống, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm khô cá sặc rằn Khánh An. Đồng thời, ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao vào cơ sở chế biến khô cá sặc rằn để nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, thực hiện công bố hợp quy…

Cá sặc rằn là đối tượng thủy sản dễ nuôi, nhu cầu thị trường lớn và ổn định, người nuôi có thể nuôi quảng canh hoặc thâm canh để tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên của địa phương, góp phần tăng thu nhập, chuyển đổi cơ cấu vật nuôi. Với hiệu quả cao và đầu ra ổn định, cá sặc rằn sẽ là mô hình có tiềm năng phát triển trong thời gian tới.

Cá sặc rằn (còn gọi là cá rô tía da rắn hay cá rô tía Xiêm) là loài phân bố nhiều ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), như: An Giang, Kiên Giang, Cà Mau… Đây là loài cá dễ nuôi, khả năng thích nghi rộng, có thể nuôi thâm canh hoặc nuôi quảng canh trong ao hầm, mương vườn, ruộng lúa. Thức ăn chủ yếu của cá sặc rằn là thực vật thủy sinh và mùn bã hữu cơ. Những năm gần đây, nghề nuôi cá sặc rằn được nhiều nông dân quan tâm đầu tư, mang lại hiệu quả cao.

Theo AGO

Cập nhật thông tin chi tiết về Giá Cá Sặc Rằn Giống / 2023 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!