Xu Hướng 2/2023 # Đặc Điểm Tâm Lí Của Học Sinh Cá Biệt, Học Sinh Yếu Kém # Top 4 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Đặc Điểm Tâm Lí Của Học Sinh Cá Biệt, Học Sinh Yếu Kém # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Đặc Điểm Tâm Lí Của Học Sinh Cá Biệt, Học Sinh Yếu Kém được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1/ Đặc điểm của Học sinh cá biệt :

          Đối với những Học sinh cá biệt luôn luôn có tính hiếu động, thích tìm tòi và luôn gây sự chú ý cho người khác ở bất kỳ nơi nào, thời điểm nào.

          Trước hết chúng ta nên nói đến tính cách của trẻ là sự kết hợp độc đáo giữa đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với điều kiện hoàn cảnh sống nhất định.

          Biểu hiện của trẻ là nhanh nhẹn , hoạt bát cùng với sự nghịch ngợm, bất ổn định kèm theo , bên cạnh đó học tập có thể là học yếu hoặc trung bình, vì các em đó trong lớp ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý khi cô giáo giảng bài, luôn quậy phá các bạn ngồi bên cạnh, gây mất trật tự trong lớp.

          Biểu hiện về mặt thái độ của trẻ với chung quanh và bản thân, những đứa trẻ hiếu động này thuộc kiểu thần kinh mạnh, cân bằng và linh hoạt. Biểu hiện của trẻ là ham hoạt động, ham hiểu biết, linh hoạt, thường vui vẻ, vô tư , cảm xúc của trẻ bất ổn định, rung cảm nhưng không sâu , nhanh nhớ, mau quên. Biểu hiện rõ nét nhất của đặc tính này là bất cứ điều gì hấp dẫn , thích thú vừa sức thì các em sẽ làm ngay, tập trung chú ý rất tích cực, càng trong học tập thì đòi hỏi phải kiên trì, chịu khó động não để làm bài, chiếm lĩnh kiến thức thì các em đâm ra chán nản, ít chú ý hoặc không chú ý nên kết quả học tập thấp.

* Biện pháp thực hiện :

          Đối với những trẻ nghịch ngợm, hay nói chuyện riêng, sau mỗi lần giảng bài xong, hoặc các em đã làm xong bài tập, các em không biết làm gì nên hay trêu chọc các bạn gây mất trật tự trong lớp Cô giáo nói không nghe, theo tôi cần giáo dục các em như sau :

          + Thường xuyên quan tâm sâu sát hoạt động của các em

          + Thường xuyên nhắc nhở động viên kịp thời

          + Khích lệ khi em có tinh thần tập thể và lòng vị tha

          + Không nên phê bình , trách phạt

          + Không nên sĩ nhục , xúc phạm đến các em

          + Tránh hình thức áp đặc doạ dẫm , buột các em phải làm theo … vì điều đó sẽ không đem lại kết quả gì

          + đặc biệt Giáo viên không nên để các em có thời gian rỗi.

          + Kết hợp giữa ba môi trường Giáo dục Gia đình – Nhà trường và Xã hội 

2. Tâm lý học sinh yếu – kém:

Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến yếu – kém trong học tập ở học sinh tiểu học + Do hoàn cảnh gia đình.

+ Do mất căn bản.

+  Chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập hay nói thông thường là học sinh lười học, không chăm chỉ chuyên cần.

* Các biện pháp khắc phục – giúp đỡ học sinh yếu kém:

a. Xây dựng động cơ học tập cho học sinh yếu chính là xác định học sinh hiểu học để làm gì? Vì  sao phải học?

b. Người ta phân chia động cơ học tập của học sinh ra thành nhiều loại như sau: + Động cơ mang tính xã hội: học để sau này góp phần xây dựng đất nước,xây dựng quê hương.

+ Động cơ mang tính cá nhân: học vì lợi ích riêng của mình ,muốn hơn người, muốn sau này có vị trí cao trong xã hội…

+ Động cơ bên trong:xuất phát từ chính việc học, nghĩa là học để nắm được kiến thức, vận dụng nó vào thực tế một cách khoa học.

+ Động cơ bên ngoài: Học vì muốn có điểm tốt ,muốn thầy cô và cha mẹ vui lòng… Có động cơ học tập đúng đắn nghĩa là động cơ xuất phát từ chính việc học,học sinh học tập để có kết quả tốt . Do vậy sẽ tạo cho học sinh yêu thích việc học,có hứng thú trong học tập.Động cơ tạo nên động lực học đó chính là thành tố quan trọng trong cấu trúc hoạt động học tập của học sinh.

* Đối với học sinh yếu do hoàn cảnh gia đình

Gia đình là môi trường giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ.Trước tiên là ảnh hưởng của cha mẹ rất sâu sắc. Vì vậy,giáo dục gia đình là một “điểm mạnh”, là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục trẻ. Song mỗi gia đình có những điểm riêng của nó nên giáo viên phải biết phối hợp như thế nào để đảm bảo được tính thống nhất, toàn vẹn trong quá trình giáo dục. Đồng thời phát huy ảnh hưởng cùng nhà trường giáo dục học sinh đạt hiểu quả.

Trước những nguyên nhân xuất phát từ gia đình giáo viên cần:

– Tạo cơ hội để trao đổi trực tiếp với phụ huynh học sinh, nắm bắt cụ thể hướng phấn đấu của em vì mục tiêu, kế hoạch chung của lớp,của trường…Thông qua các buổi họp phụ huynh học sinh.

– Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để học sinh học tập và rèn luyện.Qua đó,giáo viên sẽ thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập,hạnh kiểm,các mặt tham gia hoạt động …của con em mình thông qua sổ liên lạc…Giáo viên và phụ huynh cần phải có sự liên kết hai chiều nhằm có biện pháp tác động phù hợp.Động viên khuyến khích khi các em tiến bộ,nhắc nhở kịp thời khi các em có biểu hiện cần uốn nắn.

– Giáo viên chỉ mời phụ huynh khi cần thiết để bàn bạc biện pháp giáo dục các em. (không nên lạm dụng).

*  Đối với  học sinh yếu do mất căn bản:

Kiến thức luôn cần có sự xuyên suốt . Do mất căn bản học sinh khó mà có nền tảng vững chắc để tiếp thu kiến thức mới . Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần :

– Hệ thống kiến thức theo chương trình.

– Đưa ra nội dung bài tập phù hợp với kiến thức để học sinh có thể luyện tập kiến thức mới và ôn lại kiến thức đã học.

– Phân hóa đối tượng học sinh.

– Quan sát và theo dõi từng hoạt động của các em,bằng nhiều hình thức tổ chức (thi đua cá nhân,thi đua tổ nhóm,đố vui,giải trí,…). Kết hợp kiểm tra thường xuyên việc học của các em mỗi ngày nhằm rèn thói quen học bài và làm bài, kích thích hoạt động trí tuệ cho các em. – Động viên, khích lệ, tuyên dương kịp thời với tác dụng : • Xác nhận sự tiến bộ ở học sinh. • Kích thích sự say mê,hứng thú học tập của học sinh . • Thúc đẩy hành động theo chuẩn mực . • Giúp học sinh tự tin là mình học được,mình có thể giỏi như các bạn… • Sửa chữa hành vi sai lệch của học sinh. • Kèm chế sự bộc phát,tập thói quen chu đáo và cẩn thận. • Ngược lại nếu lạm dụng trách phạt sẽ hạn chế sự độc lập, sáng tạo của học sinh. Ta thấy rằng, con người luôn luôn có hai nhu cầu đối lập nhau là tự khẳng định mình và đồng nhất mình với người khác. Do vậy, trong giảng dạy giáo viên cần nắm vững đều này để kích thích học sinh hứng thú say mê học tập.

* Học sinh yếu do lười, học không chăm chỉ ,không chuyên cần hoặc chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập :

Những học sinh rơi vào tình trạng trên là do : không học bài , không làm bài ,thường xuyên để quen tập ở nhà, vừa học vừa chơi , không tập chung ,lo ra…Để các em có hứng thú học tập , giáo viên phải nắm vững và phối hợp nhịp nhàng các phương pháp dạy học,thay đổi bằng hình thức trò chơi, sử dụng phong phú đồ dung học tập … Giúp các em hiểu bài ,tự bản thân mình giải quyết các bài tập cô giao . Ngoài ra , giáo viên động viên các bạn trong tổ nhắc nhở và giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi các em vấp phải những lỗi trên. Chúng ta phải hiểu ,một học sinh yếu – kém  không đòi hỏi các em phải giỏi ngay được. Mà điều ,chúng ta mong muốn là sự tiến bộ từng bước ở các em so với thời gian trước.Phương pháp này không dùng để giáo dục học sinh yếu – kém do hoàn cảnh gia đình được. Ngoài ra ,giáo viên cần phải trao đổi trực tiếp đến từng đối tượng học sinh bằng lời nói , cử chỉ , mệnh lệnh thật thuyết phục đến các em.

Chính những tác động trực tiếp thường tạo ra dấu ấn tức thì về sự chuyển biến tâm lí như thái độ, hành vi ,tình cảm…học sinh sẽ dần tiến bộ

Tác giả: Tổ chuyên môn khối 1

Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Rô Phi

1. Phân loại:

Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống:

– Tilapia (cá đẻ cần giá thể)

– Sarotherodon (Cá bố hay cá mẹ ấp trứng trong miệng)

– Cá rô và Oreochromis (Cá mẹ ấp trứng trong miệng)

Cá rô phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc:

Hiện nay có 3 loài chính được phổ biến tại Việt Nam là :

– Cá rô phi cỏ Oreochromis Mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm 1953 từ Thái Lan.

– Cá rô phi văn (Rô phi Đài Loan O.niloticus) được nhập vào Việt Nam năm 1974 từ Đài Loan.

– Cá rô phi đỏ (red Tilapia), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm 1985 từ Maliaxia.

2. Đặc điểm hình thái:

Cá rô có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng. Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bổ khắp vi đuôi. Vi lưng có những sóc trắng chạy song song trên nền xám đen. Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt.

Phân biệt cá đực, cá cái:

4. Môi trường sống: Các loài cá rô phi hiện đang nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau.

Nhiệt độ:

Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-32 oC, thích hợp nhất là 25-32 oC. khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8-42 oC, cá chết rét ở 5,5 oC và bắt đầu chết nóng ở 42 o C. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh.

Độ mặn:

Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối từ 0-40‰.

Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10-25‰) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon.

pH:

Môi trường có độ HP từ 6,5-8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ PH thấp bằng 4.

Oxy hoà tan:

Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu Oxy. Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so với tôm sú.

5. Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng.

Tập tính ăn:

Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn dinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ ) là chủ yếu ( cá 20 ngày tuổi , kích thước khoảng 18mm). Khi cá trưởng thành ăn mùn bả hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh. Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng.Trong thiên nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có mức sâu từ 1-2m.

Sinh trưởng:

– Khi nuôi trong ao, cá sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có kết hợp với thức ăn chế biến, cá rô phi vằn đơn tính lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ 5-6.

Đặc Điểm Sinh Học Của Các Loài Cá Nước Ngọt

Cá mè trắng

Cá mè trắng Việt Nam sống ở tầng nước giữa và trên, cá ưa sống ở vùng nước tĩnh, độ chảy thấp. Điều kiện thích hợp cho cá mè sinh trưởng và phát triển là nhiệt độ nước khoảng 20-22°C, độ pH= 7 – 7,5,hàm lượng oxy trên 3 mg/lít.

Cá ăn thực vật phù du. Cá từ 2,5 – 3 cm trở lên ăn thực vật phù du là chính.

Nuôi dày trong áo, cá mè 1 tuổi đạt 0,5 – 0,7 kg/con. 2 tuổi nặng 1,5 – 2 kg. Cá cái 3 tuổi, cá đực 2 tuổi thì thành thục.

Cá mè hoa

Cá mè hoa thích sống ở tầng nước giữa và trên, ít nhảy hơn cá mè trắng. Thức ăn chủ yếu là động vật phù du và thực vật phù du.

Cá mè hoa lớn nhanh hơn cá mè trắng. Ở ao hồ mới nuôi, cá lớn nhanh: cá 1 tuổi nặng 2,8 kg, cá 2 tuổi nặng 5 kg. Khi cá lớn nhất có thể đạt 35 – 40 kg. Cá mè hoa thích hợp ở các ao hồ có mặt nước lớn. Cá nuôi trong ao nhỏ thì chậm lớn.

Cá mè hoa đẻ ở sông vào tháng 5 – 6. Nuôi trong ao cá thành thục sớm, có thể cho đẻ vào tháng 4, đẻ nhiều lần trong năm. Cá cái 3 tuổi, cá đực 2 tuổi đã thành thục.

Cá trắm cỏ

Cá trắm cỏ sống ở tầng nước giữa và dưới, thức ăn là các loại rong ở dưới nước và rau cỏ ở trên cạn vứt xuống. Cá từ 2,5 – 3 cm trở lên có thể ăn bèo tấm, bèo trứng, rau bèo thái nhỏ. Cá từ 8 – 10 cm có thể ăn rau cỏ để nguyên như cá lớn. Nuôi trong ao, cá ăn tạp, cả những thức ăn động vật.

Nuôi tốt cá 1 tuổi nặng lkg, 2 tuổi nặng từ 2 – 9 kg, 3 tuổi năng từ 9 – 12 kg. Nuôi trong ao có thể cho đẻ từ tháng 3, đẻ nhiều lần trong năm. Cá cái 3 tuổi, cá đực 3 tuổi đã thành thục.

Cá chép

Loài nuôi phổ biến ở nước ta là cá chép vẩy, còn gọi là cá chép trắng. Cá chép thường sống ở tầng đáy và giữa, có thể chịu được lượng oxy thấp hơn cá mè trắng. Cá chép ăn động vật đáy là chính như giun, ấu trùng, côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác… Cá cũng ăn cả hạt củ, mầm thực vật. Cá chép sau 1 năm thì thành thục. Cá đẻ tự nhiên trong ao hồ, sông, ở nhiệt độ thích hợp 20 – 22°C. Cá đẻ vào 2 vụ chính: tháng 2 – 4 và tháng 8 – 9.

Cá trôi

Cá trôi ưa sống ở tầng nước giữa và dưới, thích chỗ nước chảy, ưa hoạt động. Cá chịu lạnh kém, ở nhiệt độ 10 °C cá ít hoạt động. Cá trôi ăn mùn bã hữu cơ, các loại rêu, tảo ở tầng đáy. Nuôi trong ao cá trôi ăn tạp.

Bình thường cá trôi 1 tuổi nặng 100 – 200g; cá 2 tuổi nặng 200 – 230g, 3 tuổi nặng 400 – 600g, 4 tuổi nặng 600 – 800g. Cá cái 3 tuổi, cá đực 2 tuổi thì thành thục sinh dục. Mùa sinh sản từ tháng 5 – 9, cá thường đẻ vào ban đêm và lúc sáng sớm. Cho đẻ nhân tạo có nơi chỉ thành công vào tháng 6 – 7, có nơi tháng 8 – 9.

Cá rô phi

Cá rô phi phát triển tốt ở cả vùng nước ngọt và nước lợ, chịu đựng được ở cả vùng nước thải sinh hoạt có hàm lượng oxy thấp và vùng nước chua mặn.

Cá rô phi chịu rét kém, thường bị bệnh nấm và chết rét ở nhiệt độ nước 10 – 11°c kéo dài. Nhiệt độ thích hợp là 25 – 30°C. Mùa đông, cá thường tự đào các mà sâu dưới đáy hổ để tránh rét. Cá ăn động vật phù du. Cá từ 1,7 – 1,8 cm trở lên chuyển sang ăn mùn bã hữu cơ, tảo lắng ở đáy, các ấu trùng, giáp xác, thực vật thuỷ sinh mềm.

Nuôi trong ao hồ, cá ăn tạp và rất phàm ăn.

Cá rô phi lớn nhanh, cá đực lớn nhanh hơn cá cái. Cá rô phi vằn 1 tuổi, nuôi tốt nặng 1 kg/con. Cá đẻ quanh năm trừ các tháng rét. Cá khoét đất làm tổ đẻ và ấp trứng trong miệng cá mẹ. Thường mỗi năm cá đẻ 6 – 10 lứa.

Trôi Ấn Độ (cá rô hu)

Cá trôi Ấn Độ là loài ăn tạp gần giống như cá trôi ta. Khi còn nhỏ, cá ăn sinh vật phù du là chủ yếu, càng lớn càng ăn nhiều mùn bã hữu cơ, nhất là mùn bã thực vật. Khi nuôi thả trong ao hồ cá còn ăn cám gạo, hạt ngũ cốc, bèo dâu, bèo tấm, rau.

Cá lớn nhanh, nếu nuôi tốt cá 1 năm đạt 0,5 – 1 kg. Cá thành thục ở cá cái 3 tuổi, cá đực 2 tuổi. Mùa sinh sản từ tháng 5 – 9. Nhiệt độ thích hợp để đẻ trứng từ 28 – 30°C, thậm chí tới 31 – 32°c.

Cá Mrigan

Cá có nguồn gốc từ Ấn Độ, thuộc họ cá trôi. Khi còn nhỏ, cá ăn nguyên sinh động vật, côn trùng, giáp xác và ấu trùng côn trùng sống trong nước. Khi lớn, cá sống ở tầng đáy, ăn mùn bã hữu cơ giống cá trôi ta. Nuôi 1 năm có thể đạt 0,4 – 0,6 kg/con.

Cá 2 tuổi bắt đầu phát dục, mùa đẻ từ tháng 4 – 8, tập trung vào tháng 5 – 6; nhiệt độ đẻ trứng thích hợp là 28 – 31°c.

Cá lóc bông

Cá thường phân bố ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên. Thân cá hình trụ dài, bình thường cá dài 25 cm; có con dài tới 75 – 100cm. Trên lưng và đầu màu nâu đen, xanh đậm, hai bên sườn có màu vàng, bụng trắng, có hai sọc thẫm chạy từ đầu đến cuối vây đuôi. Trong thiên nhiên cá đẻ ở vùng nước có nhiều thực vật thuỷ sinh. Cá có phẩm chất thịt thơm ngon, rất ít xương, được coi là thuỷ đặc sản nước ngọt.

Một lồng cá cỡ 4 x 8 x 3,5m nuôi cá lóc bông có thể cho sản lượng 15 – 18 tấh/năm.

Cá tai tượng

Là loài cá lớn nhất trong các loài cá sặc, cá rô, có thể đạt chiều dài tới 1,8m, nặng 50kg. Cá tự nhiên sống ở thượng lưu sông Đồng Nai. Cá tai tượng thường được nuôi làm cá cảnh trong các bể kính và cũng được nuôi trong các ao đìa làm cá thương phẩm.

Cá tai tượng thuộc nhóm cá ăn tạp, từ năm thứ 2 lớn rất nhanh, cá 3 năm tuổi nặng 2,5 kg. Lúc còn nhỏ, cá ăn động vật nhỏ, ấu trùng sâu bọ. Khi lớn ăn tạp, chủ yếu là thực vật mềm như rau, cá.

Mùa sinh sản bắt đầu khi trời khô, ấm. Khi mưa dầm tháng 8 thì ngừng đẻ. Mỗi cá cái 1 lần đẻ được 3000 – 5000 trứng. Mùa đẻ cá sống thành đôi, cá đực làm tổ bằng bọt khí.

Cá bống tượng

Ở nước ta, cá bống tượng thường sống ở các lưu vực sông Cửu Long, sông Vàm cỏ và sông Đồng Nai. Cá ưa nước ấm, nhiều rong cỏ, hang hốc. Cá có thể sống được ở vùng nước nhiễm phèn có độ pH=5,5 và ở nơi có nồng độ muối dưới 1,3‰. Hàm lượng oxy từ 1mg/lít trở lên.

Nhiệt độ thích hợp là 26 – 32°C, ở nhiệt độ 15 – 41°C cá vẫn sống được. Cá thích ăn động vật sống như cá nhỏ, tôm, tép, cua, Ốc và cả hạt lúa, cám…Cá hoạt động rình mồi mạnh về ban đêm.

Cá trê lai

Cá trê lai hiện nay là sự lai giống giữa cá đực trê phi vói cá trê cái đen hoặc trê cái vàng của nước ta bằng phương pháp nhân tạo. Cá có thể sống ở nhiệt độ từ 7 – 39,5°c, độ pH = 3,5 – 10,5, độ muối 15‰. Do có cơ quan thở phụ, cá có thể thở bằng oxy của không khí nên cá có thể sống ờ ao hồ có lượng oxy thấp, thậm chí sống được trên cạn vài giờ.

Từ nhỏ đến lúc có chiều dài 4 – 5cm cá ăn chủ yếu là động vật nhỏ như giun, bọ nước, thuỷ trần, bọ gậy… Khi lớn cá ăn tạp, thích ăn động vật thối rữa, cả cám, bã bia, tôm tép, giun, cá nhỏ, phân. Nếu nuôi tốt mỗi tháng có thể tăng trọng 100 – 150g.

Cá mè Vinh

Cá mè Vinh sống rộng rãi ở các sông rạch ở các tỉnh phía Nam. Kích thước trung bình từ 10 – 20cm.

Cá thích sống ở nước ấm, giới hạn từ 13 – 33°c, thích hợp nhất là 25 – 30°C. Cá sống ở nước ngọt nhưng cũng có thể sống ở nước lợ có độ muối 7‰, nước sạch giới hạn pH 5,5 – 9, thích hợp là 7 – 8.

Cá thích ăn thực vật lớn, ngoài ra còn ăn các loại mùn bã hữu cơ và sinh vật phù du.

Cá ba sa, cá tra

Hai loài cá này sống tự nhiên ở lưu vực sông Tiền và sông Hậu, rất sẵn ở vùng biên giới Việt Nam – Campuchia.

Cá sống được ở mọi tầng nước, thích hợp vái nhiệt độ nước ấm ở Nam Bộ, chịu được lượng oxy thấp, nước phèn pH=4,5 và nước lợ độ mặn 8 – 10‰.

Cá ăn tạp gồm cá con, giun, ốc, côn trùng, phân hữu cơ, rau bèo… Cá nuôi 1 năm đạt 1 kg, 2 năm đạt 3 – 3,5 kg.

Hiện nay ở nước ta đã cho sinh sản nhân tạo được cá tra. Tuy nhiên nguồn giống phần lớn là vớt cá bột trên sông đem về nuôi.

Đặc Điểm Sinh Học Cá Dìa Chấm

Một trong những giống cá nước mặn dễ nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế cao đang được chú ý đó là cá dìa, loài cá này không những dễ nuôi mà còn có chất lượng thịt ngon, được thị trường đón nhận. Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu loài cá dìa chấm đến với bạn đọc.

Cá dìa thuộc bộ phụ Sigansidei, họ Siganidae, giống Siganus.

Qua điều tra đến nay thấy ở biển nước ta có khoảng 16 loài cá dìa (Trường Sa 7 loài, vùng Cô Tô – Cát Bà 2 loài, Côn Đảo 4 loài; An Thới – Phú Quốc 5 loài, Thừa Thiên Huế thường gặp dìa chấm).

Các loài thường gặp:

Cá dìa chấm Siganus guttatus, cá dìa xanh S.javus ở Bắc và Trung bộ. Cá dìa xám S. fuscescens, cá dìa vàng S. oramin, cá dìa chấm dìu S.punctatissiums, cá dìa đốm trắng S. canaliculatis có ở Trung bộ.

Trên thế giới cá dìa có ở vùng biển nhiệt đới Ấn Độ Dương, Tây Thái Bình Dương đã được nuôi ở Philippin, Nhật Bản, Trung Quốc (Quảng Đông), Tanzania…

Các loài cá dìa sống ở các sạn đá san hô, vùng biển khơi ven bờ vùng nước lợ. Loài cá dìa chấm có giá trị kinh tế ở biển nước ta (S. guttatus) thân dẹp, hình bầu dục, đầu hơi lõm về phía trên mắt. Trên thân có nhiều đốm tròn nâu ở phần bụng. Hai bên đầu có ba sọc màu xanh vàng, phần cuối của vây lưng và vây hậu môn có màu sậm.

Khác với loài cá thuộc họ cá vược, cấu tạo của vây bụng có 3 tia mềm nằm ở giữa hai gai cứng, vây lưng gồm 13 gai cứng và 10 tia mềm, một nửa vây hậu môn là những gai cứng gồm 7 cái, tất cả các gai cứng của vây lẻ đều cắm sâu vào mép và ở đó có các tuyến độc.

Màu sắc thích hợp với nơi ở của chúng và dễ biến màu, cá hợp thành đàn khi bứt lá chúng bơi ở vị trí thẳng đứng đầu chúc xuống phía dưới.

Tính ăn

Đặc điểm nổi bật của các loài cá dìa là sự phục hồi nhanh nhờ nó ăn chủ yếu là thực vật biển (mắt xích đầu của chuỗi thức ăn) gồm các loài thực vật lớn như Valisnuria, Naja, Hajophila, các loài tảo chủ yếu như tảo silic, tảo lục (Chlorophyta), rong tơ (Cladophora), rong lông cứng (Chaetomorpha), rong ống (Enteromopha tubulosa), rong diếp (Ulva). Nhìn chung thúc ăn của cá dìa tương tự như thức ăn cua cá trắm cỏ nên nuôi ở đầm không sợ chúng ăn tôm.

Sinh trưởng

Cá dìa chấm ở đầm phá Thừa Thiên Huế, thường gặp cỡ 19 – 30cm, nặng 126 – 375g, trung bình cá 1 tuổi dài 16cm, 2 tuổi dài 23,8cm.

Ở đầm Thị Nại (Bình Định) thường gặp cỡ 1 7- 22cm, nặng 78 – 192g, cỡ 2 tuổi chiếm 47 – 52%, cá con cỡ 5 – 6cm nuôi tiếp 5 – 8 tháng đạt 200 – 300 g/con.

Sinh sản

Mùa đẻ thường diễn ra quanh năm, cá sinh sản sau 2 tuổi. Mùa đẻ cá trong đầm từ tháng 4 – 8, rộ nhất vào tháng 6 – 8; cỡ 250g có 227.500 trứng, cỡ 266g có 228.854 trứng, cỡ 32g có 238.875 trứng, hệ số chín muồi tuyến sinh dục con cái loại cỡ 258 – 329g là 1,2 – 1,5, đường kính trứng thời kỳ giai đoạn III, IV là 0,9mm.

Cá đẻ trứng vào các bụi cây ở dưới nước, ấu trùng nở ra có đuôi, sống nổi, lớn lên khoảng 2-3cm mới xuống đáy và sống ở đây đến lúc trưởng thành. Cá dìa nuôi trong điều kiện thuận lợi thức ăn đầy đủ thường chưa đầy năm đã có thể phát dục. Cá dìa đốm trắng đẻ tự nhiên vào ban đêm và ở tầng mặt khi nước triều xuống.

Căn cứ vào đặc điểm hoạt động, màu sắc và hoàn cảnh sinh sống có thể chia cá dìa làm hai nhóm.

– Nhóm sống thành đàn màu tro hay nâu sẫm, chịu được những thay đổi lớn về nhiệt độ và độ muối, nhóm này gồm các loài quan trọng để làm thực phẩm là đối tượng nuôi.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đặc Điểm Tâm Lí Của Học Sinh Cá Biệt, Học Sinh Yếu Kém trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!