Xu Hướng 3/2024 # Công Nghệ Sản Xuất Bột Cá Chăn Nuôi Quy Mô Nhỏ Từ Hỗn Hợp Nhiều Loại Cá Tạp # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Công Nghệ Sản Xuất Bột Cá Chăn Nuôi Quy Mô Nhỏ Từ Hỗn Hợp Nhiều Loại Cá Tạp được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bột cá là thành phần quan trọng không thể thiếu trong thức ăn chăn nuôi gia súc và nuôi thủy sản. Lượng thức ăn cho chăn nuôi gia súc và nuôi thủy sản ở nước ta cần khoảng 300.000 tấn/năm, trong đó bột cá sản xuất công nghiệp chỉ đáp ứng 1/10 nhu cầu, do vậy phải nhập khẩu. Trên thực tế, người nuôi sử dụng bột cá tự chế là chủ yếu, nhưng việc sản xuất và chế biến bột cá tự chế còn nhiều bất lợi, thậm chí gây ô nhiễm môi trường. Ðể khắc phục nhược điểm này, kỹ sư Ðặng Thị Tuyết Loan thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã có công trình nghiên cứu sản xuất bột cá có chất lượng cao theo quy mô nhỏ nhằm tận dụng nguyên liệu cá tạp phân tán, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu bột cá công nghiệp, giảm nhập khẩu. Thông tin KHCN và Kinh tế Thuỷ sản xin giới thiệu tóm tắt công nghệ này.

Nguyên liệu

Nguyên liệu cho sản xuất bột cá là sử dụng các loại cá tạp như: cá đù, cá hồng, cá phèn, cá mối, cá mó, cá dìa, cá trích, cá chỉ vàng, cá bò gai, cá nục. Bảo quản bằng nước đá + muối. Bảo quản bằng hỗn hợp nước đá + muối 5% có thể giữ tươi được 16 ngày, hỗn hợp nước đá + muối 15% có thể giữ tươi được 30 ngày. Không bảo quản bằng hỗn hợp muối quá 15%, vì khi chế biến phải tiến hành nhả muối lâu khiến nguyên liệu bị mất nhiều protein, vitamin… làm giảm chất lượng bột cá. Thiết bị cần thiết cho sản xuất bột cá gồm: thiết bị gia nhiệt nước, năng suất 50kg/mẻ; Máy ép trục vít bằng tay 5kg/mẻ; Máy ly tâm 16 kg/mẻ; Máy đánh tơi 50 kg/mẻ; Máy sấy có thể điều chỉnh từ 60 – 1200C, năng suất 100 kg/mẻ; Máy nghiền sàng 100 kg/giờ.  

Phương pháp sản xuất  

Có hai phương pháp sản xuất là:  

Quy trình công nghệ sản xuất bột cá chăn nuôi quy mô nhỏ từ hỗn hợp nhiều loại cá tạp theo phương pháp ly tâm

Sơ đồ quy trình công nghệ:

Nguyên Bao gói ./.

1. Công nghệ tách nước theo phương pháp ép.

2. Công nghệ tách nước theo phương pháp ly tâm.

Sau khi thử nghiệm và so sánh kết quả giữa 2 công nghệ, nhóm nghiên cứu thấy nên chọn công nghệ ly tâm để sản xuất bột cá chăn nuôi quy mô nhỏ 1-2 tấn nguyên liệu/ngày vì công nghệ đơn giản hơn và hiệu suất cao hơn. Hiệu suất của phương pháp ly tâm cao hơn 3% và chất lượng bột cá cũng cao hơn so với phương pháp ép, đặc biệt là hàm lượng protein có giá trị cao.

Sử dụng 11 loại cá tạp còn tươi, hàm lượng NH3 < 60mg/kg, được bảo quản bằng muối và phải xả muối trong nước sạch đến khi hàm lượng muối trong cá ưư< 1%. Hầu hết nguyên liệu là cá nhỏ (<20cm), để nguyên con; nếu cá to đem cắt nhỏ với chiều dày lát cắt 3 – 5cm. Xử lý sạch tạp chất trước khi cho vào nồi nấu chín. Dùng nồi nấu dung tích 400 l có gắn ròng rọc để điều khiển cần xé cá vào nồi nấu. Sau khi xử lý, cho nguyên liệu vào cần xé, 50kg/mẻ, dùng ròng rọc thả vào nồi nước đang sôi. Tỷ lệ nước nấu/ nguyên liệu = 5/1. Thời gian nấu 2 – 3 phút đến khi có mùi thơm của cá chín. Sử dụng máy ly tâm 200 vòng/phút. Sau khi nấu chín, cho cá vào bao vải bố, đặt vào rô-to của máy ly tâm, tãi đều. Ly tâm 2-3 phút đến khi không còn nước chảy ra từ vòi thoát nước của máy. Dùng máy trộn bã thu được sau khi ly tâm 8-10 phút cho tới khi bã rời ra thành từng mảnh nhỏ. Bã ép lấy ra từ máy trộn tãi ra khay lưới, cho vào tủ sấy 80 – 85 độ C trong 7 – 8 giờ. Trước khi nghiền, nguyên liệu được tách kim loại nhờ nam châm gắn trên máy nghiền tại vị trí nhập nguyên liệu. Trong máy nghiền có gắn lưới đường kính lỗ 3mm. Phần trên lưới có thể bỏ đi vì phần lớn là xương, vẩy… (chiếm không quá 1%). Sản phẩm ra khỏi máy nghiền được làm nguội bằng thông gió tự nhiên đến nhiệt độ không khí bình thường trước khi bao gói. Khi bao gói, sử dụng các loại bao như bao giấy 2 lớp hoặc 2 lớp bao. Khối lượng 20kg bột cá/bao. Sau khi bao gói, bảo quản bột cá ở nơi khô thoáng, có lưới chắn, không chất đống quá cao đề phòng bột cá tự phát nhiệt và hư hỏng.  

Chất lượng bột cá  

Kết quả cho thấy, sản xuất bột cá theo công nghệ trên có định mức nguyên liệu là 4,5/1, nghĩa là cứ sản xuất 100kg nguyên liệu cá thu được 22 kg sản phẩm bột cá và 27 kg dịch ly tâm và sản phẩm có chất lượng khá cao, bột cá tơi, không vón cục, không mốc, có mùi thơm đặc trưng của bột cá, vị ngọt của đạm, có màu vàng nâu nhạt. Trong quá trình sản xuất thử nghiệm, có sử dụng chất chống ôxy hoá BHT với hàm lượng 0,01 và 0,02 so với sản phẩm trộn vào trong công đoạn đánh tơi bã ly tâm. Kết quả cho thấy mức độ ôxy hóa của bột cá trong trường hợp không sử dụng BHT cao hơn trong trường hợp có sử dụng, nhưng vẫn ở dưới mức cho phép. Vì vậy, trong công nghệ sản xuất quy mô nhỏ đã nghiên cứu không cần sử dụng chất chống ôxy hóa. 

Thời gian qua, tổ nghiên cứu đã sản xuất được 2 tấn bột cá chăn nuôi theo quy trình công nghệ trên tại xưởng sản xuất thực nghiệm thức ăn chăn nuôi của Trung tâm Công nghệ và Sinh học Thủy sản, và xưởng sản xuất thức ăn tôm nuôi ở sông Cầu (Phú Yên). 

Sản phẩm bột cá thu được đạt và vượt mức chỉ tiêu đối với bột cá chăn nuôi gia súc loại 1 (TCVN 1644-75), muối <1,2%, ẩm < 10%. Ðã sử dụng số bột cá này sản xuất thức ăn nuôi tôm ở 2 xưởng chế biến nói trên. Giá thành sản phẩm bột cá sản xuất theo quy trình công nghệ này là 6.200 đ/kg, có thể chấp nhận được.

Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Giống Cá Lăng Vàng

Cá lăng vàng là một trong những loài cá da trơn có giá trị kinh tế cao, thịt trắng và thơm ngon. Hiện nay, giá cá thịt tươi sống, dao động từ 50.000 – 80.000 đồng/kg tùy thuộc vào thời điểm trong năm. Thị trường tiêu thụ cá lăng nói chung, cá lăng vàng nói riêng chủ yếu là các nhà hàng, quán ăn ở khu vực đô thị. Ngoài ra, thịt cá lăng còn chế biến thành chả cá rất được người tiêu dùng ưa chuộng. Sản lượng cá tự nhiên ngày một suy giảm nghiêm trọng do tình trạng khai thác cũng như chưa có biện pháp thích hợp để bảo vệ nguồn lợi loài cá này ngoài tự nhiên. Hiện nay, cá giống cá lăng vàng ngoài tự nhiên ngày càng hiếm, không thể đáp ứng được nhu cầu cho người nuôi cá thương phẩm.

Trước hiện trạng đó, Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông Lâm Tp, HCM đã tiến hành nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cá lăng vàng thành công vào tháng 9 năm 2002 và đã hoàn thiện dần qui trình. Từ 2003 đến nay đã sản xuất giống hàng loạt cung cấp cho các nhà nuôi cá thịt ở khu vực miền Đông Nam Bộ và đổng bằng sông Cửu Long. Bước đầu cho thấy việc nuôi thương phẩm cá lăng vàng có hiệu quả khá rõ rệt và hứa hẹn bước phát triển mới trong nghề nuôi trồng thủy sản nước ngọt.

Được sự động viên và giúp đỡ của Trung tâm Khuyến ngư quốc gia với tiêu chí phát triển giống thủy sản theo hướng bền vững và qui mô sâu, rộng, chúng tôi tổng hợp các kết quả đã đạt được trong nghiên cứu và sản xuất để đưa ra “Qui trình công nghệ sản xuất giống cá lăng vàng” với các mục tiêu sau:

– Phát triển sâu và rộng công nghệ này đến tận tay người dân để có thể chủ động con giống cho nghề nuôi cá lăng vàng thương phẩm;

– Đa dạng hóa đối tượng nuôi cá bản địa giá trị kinh tế cao;

– Góp phần bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên.

Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của cá lăng vàng Hình thái và phân loại

Cá lăng vàng thuộc:

Lớp: Osteichthyes Bộ: Siluriformes Họ: Bagridae Giống: Mystus

Loài: Mystus nemurus Valenciennes, 1839

Cá lăng vàng (M. nemurus) có thân thon dài và dẹp bên về hướng đuôi. Đầu dạng hình chóp, xương đầu dẹp ngang và tương đối bằng. Miệng rộng và dạng miệng dưới. Răng thuộc loại răng lá mía, tạo thành một dãy hơi cong. Hai mắt lớn trung bình.

Cá lăng vàng có 4 đôi râu: 2 râu hàm trên, 2 râu hàm dưới, 2 râu mũi và 2 râu cằm. Râu hàm trên kéo dài đến vây hậu môn. Tia cứng của vây ngực và vây lưng có răng cưa rất sắc. Đầu mút của vây ngực rất sắc và nhọn. Cá có vây 1 phía trên lưng và nằm gần vây đuôi. Vây đuôi phân thùy rất sâu, thùy trên có 1 tia mềm kéo dài (Lê Hoàng Yến, 1998). Lưng cá có màu xám đen hoặc xám hơi vàng, hai bên thân màu vàng nhạt hoặc màu hơi sẩm, bụng có màu trắng (Smith, 1945; Lê Hoàng Yến, 1998; Ngô Văn Ngọc, 2002).

Phân bố

Cá lăng vàng phân bố từ Đông Ấn Độ đến các nước thuộc vùng Đông Nam Á. Chúng phân bố chủ yếu ở Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia và miền Nam Việt Nam.

Ở Việt Nam, cá lăng vàng có mặt trong các thủy vực nước ngọt và lợ nhẹ (vùng gần cửa sông – độ mặn dưới 7%o) thuộc lưu vực các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Cửu Long. Ngoài tự nhiên, chúng hiện diện ở các con sông, hồ chứa như: hồ Trị An, hồ Dầu Tiếng, sông Đồng Nai, sông Tiền, sông Hậu. Chúng thích sống và trú ẩn ở những nơi có nhiều cây cỏ thủy sinh, hang hốc như: dưới các tảng đá, chân cầu, bến phà, …

Tập tính sống

Cá sống thành đàn và hoạt động ở tầng đáy, nơi có nước chảy nhẹ. Cá thường thích trú ẩn trong các bụi cây, hốc đá và thường bắt mồi về đêm. Cá lăng vàng sống ở vùng nước ngọt và lợ nhẹ (độ mặn <7‰). Chúng sống và phát triển tốt ở vùng nước có độ pH dao động từ 6,5 – 8; hàm lượng DO từ 3mg/l trở lên.

Cá lăng vàng thích sống nơi nước trong sạch, dòng chảy nhẹ hoặc nước tĩnh. Dù cá lăng vàng không có cơ quan hô hấp phụ nhưng có thể nuôi chúng trong ao đất với mật độ tương đối dày (8 – 10 con/m 3). Cá lăng vàng nuôi trong ao đất phát triển tốt hơn nuôi trong bè, nơi có dòng chảy mạnh.

Tính ăn và thức ăn

Miệng cá làng vàng khá rộng và thuộc dạng miệng dưới nên đây là loài có tập tính sống và ăn ở tầng đáy. Dạ dày rất phát triển và thành dạ dày rất dày giúp cá nghiền thức ăn động vật tốt. Ruột cá khá ngắn, tỷ lệ giữa chiều dài ruột và chiều dài chuẩn (Li/Lo) dao động từ 0,65 – 1,44. Tỷ lệ Li/Lo của cá lăng vàng phụ thuộc vào cỡ cá và tập tính ăn động vật của chúng càng rõ khi cá càng lớn.

Khi khảo sát cá thu được ngoài tự nhiên thấy rằng thành phần thức ăn chứa trong trong hệ tiêu hóa chủ yếu là cá (75%), phần còn lại là ấu trùng côn trùng, các loài giáp xác. Ngoài ra, chúng có thể ăn các loại thực vật thủy sinh và các chất thối rữa. Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi, cá hoàn toàn chấp nhận và phát triển tốt với thức ăn dạng viên nổi như thức ăn Greenfeed, Cargill…

Trong điều kiện nhân tạo, loại và kích cỡ thức ăn của cá thay đổi theo thời gian. Ở nhiệt độ nước 29 – 31°C cá 2,5 – 3 ngày tuổi tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu biết ăn các loài phiêu sinh động vật cỡ nhỏ như Rotifera, Artemia, Moina mới nở. Khi được 5 ngày tuổi, cá ăn được Moina cỡ lớn và trùn chỉ (Tubifex). Từ 7 ngày tuổi trở đi, ngoài Moina cá còn ăn trùn chỉ rất mạnh, ăn cá tạp xay nhuyễn: Khi được 20 ngày tuổi, cá biết ăn thức ăn viên, thức ăn tự chế nấu chín. Cá hoàn toàn ăa được thức ăn viên dạng nổi khi chúng có chiều dài khoảng 4 – 5cm (cá 1 tháng tuổi).

Sinh trưởng

Ngoài tự nhiên, cá lăng vàng có kích thước tối đa từ 60cm tới 80cm. Tuy nhiên cá lăng vàng là một loài cá có kích cỡ thương phẩm nhỏ và chậm lớn hơn các loài cá lăng khác thuộc giống Mystus.

Trong điều kiện nuôi, cá có thể đạt khối lượng từ 45,3 đến 111,2g sau 2 tháng nuôi (cá 3 tháng tuổi), cá đạt chiều dài 34cm sau 8 đến 12 tháng nuôi. Trong điều kiện nuôi ao bằng thức ăn viên với mật độ 8 – 10 con/m 3, cá đạt trọng lượng bình quân là 180g/con sau 6 tháng nuôi.

Sinh sản

Cũng như cá trê (Clarias), cá lăng vàng rất dễ phân biệt đực cái khi chúng được khoảng 5 tháng tuổi trở đi. Cá đực có gai sinh dục dài và đầu mút nhọn. Cá cái có lỗ sinh dục dạng tròn và hơi lồi.

Ngoài tự nhiên, mùa sinh sản của cá từ tháng 6 đến tháng 11, tập trung vào tháng 6 đến tháng 8. Theo kết quả điều tra của chúng tôi năm 2002, trong lòng hồ Trị An (tỉnh Đồng Nai), hằng năm cứ vào khoảng tháng 7 ngư dân đã bắt gặp cá lãng vàng giống cỡ 6 – 8cm. Điều đó chứng tỏ mùa sinh sản của cá lăng vàng ngoài tự nhiên trùng vào mùa mưa, có thể bắt đầu mùa sinh sản từ tháng 5 hoặc tháng 6 hằng năm. Vào mùa sinh sản, cá lăng vàng thường bơi vào ven bờ hoặc vùng nước yên tĩnh (như eo ngách), nơi có độ sâu mực nước tương đối cạn (0,5 – 1m) và có nhiều cây cỏ thủy sinh hoặc sỏi đá chìm trong nước để đẻ trứng dính lên các vật thể đó. Trong điều kiện nhân tạo, có thể kích thích cá bố mẹ tự bắt cặp đẻ trứng bằng não thùy, HCG hoặc LH-RHa.

Trong điều kiện nhân tạo, cá lăng vàng thành thục sinh dục vào cuối năm thứ nhất (1 tuổi). Cỡ cá thành thục lần đầu có chiều dài dao động từ 32 – 36cm, trọng lượng từ 120 – 180g/con. Cá lăng vàng có thời gian tái phát dục khá nhanh (khoảng 3 tháng) và có thể sinh sản quanh năm. Tuy nhiên, để đàn cá giống có chất lượng tốt, nên chọn cá làm bố mẹ có trọng lượng từ 200 – 500g/con.

Khi cá chín muồi sinh dục, hệ số thành thục của cá cái dao động từ 20,8 – 25% và hệ số thành thục của cá đực rất thấp so với cá cái, dao động từ 0,38 – 0,41%.

Sức sinh sản tuyệt đối là 39.076 trứng với cá có khối lượng 74,4g; sức sinh sản tương đối là 521.000 trứng/kg; sức sinh sản thực tế là 20.815 trứng/cá nặng 327g; 87.110 trứng/cá nặng 1,589kg. Trong điều kiện nuôi vỗ, sức sinh sản tuyệt đối của cá lăng vàng là 54.820 trứng ở cá nặng 300g, sức sinh sản tương đối dao động từ 160.000 – 180.000 trứng/kg cá cái và sức sinh sản thực tế (điều kiện vuốt trứng) dao động từ 126.364 – 142.000 trứng/kg cá cái. Sức sinh sản thực tế của cá lăng vàng rất cao so với các loài cá trơn khác vì chúng có hệ số thành thục cao và kích thước trứng khá nhỏ, đường kính trứng chín từ 1,17 – 1,32mm.

Thời gian nở của cá lăng vàng từ 28 – 32 giờ tính từ lúc trứng đã thụ tinh. Trong điều kiện ấp trứng bằng bình weis và nhiệt độ nước 29 – 31°C thì thời gian nở của cá lăng vàng từ 18 – 20 giờ tính từ lúc trứng đã thụ tinh.

Quy trình công nghệ sản xuất giống cá lăng vàng Thuần dưỡng và nuôi vỗ cá bố mẹ Thuần dưỡng cá làm bố mẹ

Nếu cá bố mẹ có nguồn gốc tự nhiên hoặc nuôi trong bè (được cho ăn bằng cá tạp) thì phải thuần dưỡng chúng trong ao đất từ 1 – 2 tháng rồi mới tiến hành nuôi vỗ. Việc thuần dưỡng nhằm mục đích tập cho cá quen với điều kiện nuôi ao đất và thức ăn viên, dạng nổi. Ban đầu cho cá nhịn đói vài ngày rồi bắt đầu cho ăn bằng thức ăn viên nổi có hàm lượng đạm tối thiểu 30%. Mới đầu cho cá ăn lượng thức ăn viên ít, sau đó tăng dần lên theo khả năng bắt mồi của chúng. Tuy nhiên, để phòng trường hợp cá chưa kịp thích nghi với thức ăn viên, ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn cá, trong thời gian đầu của việc thuần dưỡng nên bổ sung thêm thức ăn là cá tạp cát nhỏ (khẩu phần 0,5 – 1% trọng lượng đàn cá). Lượng thức ăn cho cá ăn vào buổi tối chiếm 60 -7 0% tổng lượng thức ăn trong ngày.

Nuôi vỗ cá bố mẹ

Cá được chọn làm bố mẹ phải đáp úng các tiêu chuẩn sau:

– Trọng lượng từ 200 – 500g/con: cá cái 1 – 4 tuổi, cá đực 2 – 5 tuổi;

– Cá đực và cá cái có nguồn gốc khác nhau về vùng địa lý và bố mẹ;

– Cá mạnh khỏe, không nhiễm bệnh, không dị hình, không xây xát và không mất nhớt;

Tiêu chuẩn của ao nuôi vỗ:

– Diện tích ao tối thiểu là 300m 2, tốt nhất là từ 500 – 1.000m²

– Độ sâu mực nước 1,2 – 15m;

– Ao thông thoáng, ít hoặc không có bóng râm che mặt nước;

– Nguồn nước cấp cho ao chủ động, trong sạch, không nhiễm phèn, không nhiễm mặn;

– Ao có độ trong cao (30 – 40cm).

– Lớp bùn đáy ao từ 10 – 20cm.

Mật độ nuôi vỗ 0,5kg/m 2, tỷ lệ đực cái là 2/1 hoặc 3/1. Có thể nuôi chung hoặc nuôi riêng đực cái. Việc nuôi vỗ cá lăng vàng cũng được chia làm hai giai đoạn:

– Giai đoạn nuôi tích cực: Cho cá ăn bàng thúc ăn viên nổi (do Greenfeed hoặc Cargill sản xuất) có hàm lượng đạm tối thiểu là 26% với khẩu phần 3% trọng lượng thân. Một ngày cho cá ăn ba lần. Buổi tối cho ăn với lượng thức ăn 60 – 70% tổng lượng thóc ăn trong ngày. Thức ăn cho cá có bổ sung thêm vitamin và chế phẩm vi sinh vật với lượng cần thiết nhằm tăng sức đề kháng và khả năng tiêu hóa thức ăn của cá bố mẹ.

– Giai đoạn nuôi thành thục: ở giai đoạn này cũng cho cá ăn bằng thức ăn viên nổi nhưng có hàm lượng đạm tối thiểu là 35% với khẩu phần 1 – 2% trọng lượng thân. Một ngày cho cá ăn ba lần. Buổi tối cho cá ăn với lượng thức ăn bằng 60 – 70% tổng lượng thức ăn trong ngày. Thức ăn cho cá có bổ sung thêm vitamin, nhất là vitamin E và chế phẩm vi sinh vật với lượng cần thiết nhằm tăng sức đề kháng, khả năng tiêu hóa thức ăn của cá bố mẹ và nhanh thành thục sinh dục.

Vì cá lăng vàng có tập tính sống và hoạt động ở tầng đáy nên trong quá trình nuôi vỗ, định kỳ 15 ngày một lần khử trùng nước ao, khử khí độc và phân hủy chất hữu cơ ở đáy ao bằng các sản phẩm chuyên dùng trong nuôi trồng thủy sản như IODIS, FTOIS hoặc MIZUPHOR va XORBS. Với chế độ nuôi vỗ như trên, tỷ lệ thành thục của cá cái đạt từ 80% trở lên và thời gian tái phát dục của cá cái là 2,5 – 3 tháng.

Kích thích sinh sản

Có thể sử dụng hai hình thức cho cá sinh sản là gieo tinh nhân tạo và sinh sản tự nhiên. Tuy nhiên, để sản xuất giống hàng loạt và chủ động nên dùng kỹ thuật gieo tinh nhân tạo và khử dính trứng rồi ấp trong bình weis.

Chọn cá cho sinh sản

Chọn cá bố mẹ cho sinh sản dựa theo các tiêu chuẩn sau:

– Cá cái: Dựa vào hình dạng ngoài là chủ yếu và có thể dùng que thăm trứng để xác định độ thành thục của từng cá thể theo các tiêu chuẩn:

+ Bụng to và mềm đều;

+ Lỗ sinh dục sưng và có màu ửng hồng;

+ Sự cực hóa của nhân đạt trên 80% tổng số trứng lấy ra;

+ Trứng có màu vàng nhạt, kích thước 1,2 – 1,3mm;

+ Trứng căng tròn và có độ rời cao.

– Cá đực: dựa vào hình dạng ngoài là chủ yếu.

+ Thân thon dài, không quá mập.

+ Gai sinh dục càng dài càng tốt và có màu ửng hồng ở đầu mút.

+ Mạch máu phân bố ở da bụng càng nhiều càng tốt.

Tiêm chất kích thích sinh sẩn

Sử dụng LH-RHa kết hợp với Domperidone để kích thích cá rụng trứng với tổng liều là 100µg LH-RHa/kg cá cái. Liều sơ bộ là 30µg/kg cá cái và liều quyết định là 90µg/kg cá cái.

Khoảng thời gian giữa hai lần tiêm là 5 giờ. Liều của cá đực bằng 1/3 – 1/2 liều của cá cái. Thời gian hiệu ứng của LH-RHa là 5 giờ tính từ lúc tiêm liều quyết định (nhiệt độ nước 29 – 30°C). Tỷ lệ rụng trứng đạt 90% trở lên.

Gieo tinh

Sử dụng phương pháp gieo tinh bán khô. Sau khi kiểm tra thấy cá cái rụng trứng hoàn toàn, bắt đầu chuẩn bị gieo tinh. Đầu tiên giải phẫu cá đực thu buồng tinh, lau sạch và khô buồng tinh rồi cho vào cối sứ. Sau đó, vuốt trứng cá cái vào thau nhựa đã lau sạch và khô. Trung bình buồng tinh của cá đực nặng 500g có khả năng thụ tinh 300 – 400g trứng. Sau khi vuốt trứng xong, cân tổng trọng lượng trứng đã vuốt. Sau đó, dùng kéo cắt nhuyễn buồng tinh rồi cho 20 – 30ml nước cất vào cối sứ chứa tinh dịch và ngay tức khắc đổ tinh dịch vào thau trứng. Dùng lông gia cầm khuấy đảo đều và liên tục trong khoảng 1 phút.

Sau khi gieo tinh xong, rửa trứng bằng nước sạch 1 – 2 lần rồi khử dính bằng phương pháp Carbamide. Khi trứng mất tính dính hoàn toàn, rửa trứng bằng nước sạch 2 – 3 lần rồi tiến hành khử trùng trứng bằng SANMOLT-FTM hoặc ROOTTM5X và rửa lại bằng nước sạch 3 – 4 lần rồi đem đi ấp trong bình weis.

Sau khi gieo tinh 6 – 7 giờ, tiến hành xác định tỷ lệ thụ tinh và trong qui trình này tỷ lệ thụ tinh thường đạt hơn 50%. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm sinh dục, nhất là chất lượng buồng tinh.

Ấp trứng

Sau khi khử dính và khử trùng, trứng được ấp trong bình weis. Sử dụng bình weis bằng thủy tinh là tốt nhất để dễ dàng trong việc chăm sóc trứng và thu ấu trùng cá. Lưu tốc trong quá trình ấp dao động từ 1 – 1,5 1/phút. Ở nhiệt độ nước 29 – 31°C, thời gian nở của cá lăng vàng dao động từ 18 – 20 giờ. Tỷ lệ nở của cá lăng vàng dao động từ 70% đến 80%.

Sau khi trứng nở hoàn toàn, thu ấu trùng cho vào bể composite, bể bạt hoặc bể xi măng để ương nuôi. Ấu trùng mới nở có kích thước khá nhỏ (4mm), thân trong suốt, nằm ở đáy bể và chưa bơi lội chủ động. Đến ngày tuổi thứ hai, cá thường bám xung quanh thành bể. Sau 3 ngày tuổi, cá bơi chủ động, thân bắt đầu xuất hiện sắc tố đen, noãn hoàng tiêu biến và ăn được phiêu sinh động vật loại nhỏ.

Ương cá bột lên cá giống

Việc ương cá lăng vàng được chia làm hai giai đoạn:

Giai đoạn I: Uơng từ cá 1 ngày tuổi đến cá 5 ngày tuổi. Giai đoạn này cá được ương trong bể composite, bể bạt hoặc bể xi măng.

Giai đoạn II: Ương từ cá 5 ngày tuổi đến cá 30 ngày tuổi. Trong giai đoạn này, nên ương cá trong ao đất.

Ương giai đoạn I

Cá được ương trong bể composite, bể bạt hoặc bể xi măng với mật độ 10.000 – 15.000 cá bột/m 2. Độ sâu mực nước 0,5 – 0,6m. Từ khi cá mới nờ đến ngày tuổi thứ ba, chủ yếu là thay nước sao cho nước trong bể ương luôn trong và sạch.

Khi cá được 3 ngày tuổi bắt đầu cho ăn bằng Aríemia hoặc Moina mới nở, một ngày cho ăn từ 8 – 10 lần. Cho cá ăn như thế cho đến hết ngày tuổi thứ tư. Hằng ngày, thay nước bể ương hai lần vào sáng sớm và chiều tối. Trong giai đoạn này, các yếu tố thủy lý hóa cần phải bảo đảm luôn trong tình trạng tốt như:

– Nhiệt độ nước: 26 – 31°C, tốt nhất là 28 – 30°C

– Độ trong càng cao, càng tốt (50 – 60cm).

– Độ pH nước: 6,5 – 7,5.

Vì cá ở giai đoạn này có tập tính bơi và bám xung quanh thành bể nên cần quan tâm đến vật dữ hại cá con như thằn lằn, rắn mối, nhái,… nhất là vào ban đêm. Ở giai đoạn này (cá từ 1 – 5 ngày tuổi) sức sống của cá kém nhất nên tỷ lệ sống của cá 5 ngày tuổi thường đạt khoảng 50%.

Ương giai đoạn II

Chuẩn bị ao ương

Dùng ao đất để ương từ cá 5 ngày tuổi lẽn thành cá giống 30 ngày tuổi. Ao ương cần phải đạt các tiêu chuẩn sau đây:

– Diện tích ao từ 300 – 500m 2, độ sâu mực nước tối đa là 1,2m.

– Ao không bị thất thoát nước, chất đất tốt nhất là thịt pha sét hoặc sét.

– Đáy ao bằng phẳng, không chướng ngại vật, lớp bùn đáy ao 10 – 15cm.

– Ao thông thoáng, không bị cây cối che phủ.

Tẩy dọn ao:

– Ao ương phải được tẩy dọn thật cẩn thận bằng vôi bột (10 – 15kg vôi/100m 2).

– Bón lót bằng phần heo với lượng 10kg/100m 2.

– Phơi nắng từ 1 – 2 ngày rồi lọc nước thật kỹ cho vào ao.

– Thường xuyên kiểm tra ao vào buổi sáng để vớt trứng ếch nhái (nếu có) từ khi lọc nước vào ao đến khi thả cá được 5 ngày (cá 10 ngày tuổi).

Gây nuôi thức ăn tự nhiên:

– Ngay khi lọc nước cho vào ao, dùng bột đậu nành với lượng 0,5kg/100m 2 ao để gây nuôi thức ăn tự nhiên cho cá (Moina). Bột đâu nành hòa tan vào nước rồi tạt đều khắp ao. Một ngày bón đậu nành hai lần vào buổi sáng và buổi chiều.

– Thả Moina giống: thả 2 – 3 lon Moina vào ao 2 ngày trước khi thả cá bột.

– Ngoài ra, có thể dùng bột huyết hoặc lòng đỏ trứng để gây nuôi Moina 3 ngày trước khi thả bột.

Mật độ ương

Mật độ ương ở giai đoạn cá 5 – 30 ngày tuổi là 400 con/m 3 nuớc.

Mực nước trong ao ương nên tuân thủ theo qui trình sau:

– Tuần đẩu tiên (cá 5 – 12 ngày tuổi): độ sâu mực nước 0,5 – 0,6m.

– Sau đó, dâng dần mực nước lên cho đến khi đạt 1 – 1,2m.

Chăm sóc và cho ăn

Chăm sóc cá:

– Trong quá trình ương, nhất là từ lúc lọc nước cho vào ao đến khi thả cá được 5 ngày, thường xuyên kiểm tra vớt trứng ếch nhái, địch hại trong ao.

– Định kỳ 2 ngày/lần đo đạc một số yếu tố chất lượng nước để kịp thời xử lý như: độ trong, nhiệt độ, DO, pH, NH 3.

– Định kỳ 10 – 15 ngày/lần xử lý nước và nền đáy ao nhằm cải thiện chất lượng nước ao, phòng bệnh và khử khí độc ở đáy ao.

Thức ăn cung cấp cho cá ở giai đoạn này được thực hiện như sau:

– Hai tuần đầu (cá 5 – 19 ngày tuổi): cho cá ăn chủ yếu bằng trùn chỉ. Tuy nhiên, nếu không có trùn chỉ có thể gây nuôi Moina cho cá ăn.

– Sau đó, từ 19 ngày tuổi trở đi, giảm dần lượng trùn chỉ hoặc Moina và tăng dần lượng thức ăn viên cỡ nhỏ (cỡ 2mm). Thức ăn viên nên ngâm với nước, vo thành viên rồi cho vào sàn ăn đặt cách đáy ao khoảng 20cm.

Khi ương trong ao đất, cá 30 ngày tuổi có chiều dài dao động 4 – 5cm và tỷ lệ sống đạt từ 30% trở lên.

Nhu cầu trang thiết bị, cơ sở vật chất

Để thực hiện thành công việc sản xuất giống cá lăng vàng, trang thiết bị, cơ sở vật chất chủ yếu cần phải đáp ứng như sau:

– Bể composite tròn: ít nhất 10 bể, 1m 3/bể.

– Lưới cá bố mẹ và lưới cá giống.

– Máy bơm nước ao và bơm nước bồn chứa.

– Bể lọc, lắng nước dùng ấp trứng, ương ấu trùng: ít nhất 2 bể có thể tích là 20m 3/bể.

– Hóa chất khử dính và khử trùng nước ấp trứng và ương nuôi.

– Thuốc kích dục như LH-RHa, Ovaprim, DOM.

– Nước muối sinh lý 9‰, kim và ống tiêm, cối chày bằng sứ.

– Cân điện 2 số lẻ, cân đồng hồ 5kg, 10kg.

– Thức ăn viên cho cá bố mẹ.

– Thức ăn tươi sống như Artemia, Moina, trùn chỉ, thức ăn viên cho cá bột, cá giống.

ThS. Ngô Văn Ngọc

Khoa Thủy sản, Trường Đại học Nông lâm Tp, HCM

Quy Trình Công Nghệ Sản Xuất Cá Nục Sốt Cà Đóng Hộp

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM

LỚP 09DTP03

1. Lê Mạnh Tường  0951100097  25%

2. Mai Văn Hà   0951100027   25%

3. Trần Thị Mỹ Kiều   0951100054  25%

4. Đỗ Thị Thu Cúc  0951100016  25%

LỜI MỞ ĐẦU

            Trong cuộc sống công nghiệp hiện đại, một ngày 24 giờ đối với chúng ta gần như quá ngắn ngủi. Với nền văn minh của thế kỉ 21 con người đã có thể thực hiện được những ước mơ của mình, chúng ta cần tập trung thời gian công sức vào công việc, học tập, đã lấy đi phần lớn quỹ thời gian, nhưng dù bận rộn thế nào thì chúng ta vẫn cần bổ sung năng lượng, do dó các bữa ăn là vô cùng quan trọng. Để giúp tiết kiệm được thời gian cho việc bếp núc đồng thời vẫn đảm bảo đủ lượng chất dinh dưỡng, ngành đồ hộp đã ra đời.

Ngành đồ hộp Việt Nam vẫn còn non trẻ nhưng đang trên đường tăng trưởng, với lợi thế về nguồn lợi thủy hải sản vô cung phong phú, các sản phẩm cá đóng hộp đang ngày càng được ưu chuộng trên thị trường – bởi chúng vừa ngon, rẻ, và nhất là giá trị dinh dưỡng của cá rất tốt cho cơ thể.

Một trong những sản phẩm cá đóng hộp đang bán rất chạy trên thị trường là “Cá nục sốt cà”, với nguồn nguyên liệu rẻ, chủ động, sản phẩm này đang dần trở thành mặt hàng chủ lực trong các công ty sản xuất đồ hộp, nhóm em xin giới thiệu đến Cô và các bạn cùng tìm hiểu về loại sản phẩm này.

 I.CHUẨN BỊ NGUYÊN LIỆU:

A) Nguyên liệu chính:

1) Cá nục:

Cá nục có đặc điểm là cơ thể có tiết diện ngang gần tròn, hơi dẹt bên, kích thước nhỏ, có khi dài 40 cm. Cá có vây phụ nằm sau vây lưng thứ hai và vây hậu môn. Mùa sinh sản của cá nục là vào tháng 2 và tháng 5. Trung bình mỗi con cái đẻ từ 25 đến 150 nghìn trứng. Thức ăn chính của các nục là tôm, động vật không xương sống.

Ở Việt Nam, vào tháng 7, khi miền Trung bắt đầu có gió nam thì cá nục cũng vào mùa rộ. Chúng trồi lên tầng mặt ở những vùng biển cạn, nơi có nhiều bùn và phiêu sinh vật, để đẻ và kiếm mồi. Mùa biển động, chúng lặn xuống tầng sâu.

*Phân loại cá nục:

Cá nục sồ

Cá nục thuôn

Tên khoa học là Decapterus lajang (Tên tiếng Anh là Layang scad), phân bố ở Vịnh Bắc Bộ, vùng biển miền Trung và Đông, Tây Nam Bộ. Cá nục thuôn cũng là nguồn nguyên liệu khai thác quan trọng của ngư dân với mùa vụ khai thác là quanh năm. Sản lượng khai thác cao, kích cỡ cá để khai thác là từ 100-230 mm. Hình thức khai thác chủ yếu là lưới vây, lưới kéo, vó, mành. Sau khi khai thác, cá nục được chế biến thành các dạng sản phẩm đông lạnh tươi, phi lê, chả cá, cá khô, đóng hộp, các sản phẩm phối chế khác, làm mắm.

Khai thác tại Việt Nam

Cá nục là nguồn thu nhập cho một số ngư dân ở vùng ven biển Việt Nam. Đặc biệt là ngư dân ba xã huyện đảo Lý Sơn và xã Bình Châu, huyện bình Sơn tỉnh Quãng Ngãi. Ở đây, trung bình một tàu, thuyền trên 45 mã lực mỗi đêm đánh bắt tại ngư trường Lý Sơn được 3 đến 5 tấn cá nục.

Mỗi ngày tư thương thu mua khoảng 100 tấn cá nục, cá biệt có ngày thu mua đến 300 đến 400 tấn. Với giá thu mua 1 tấn cá nục có giá khoảng 15 triệu đồng, mỗi ngày đoàn tàu đánh cá nục thu về bình quân 1,3 đến 1,5 tỷ đồng.

Cá nục có thịt ngon và giàu dinh dưỡng được nhiều người ưa thích. Ở Việt Nam, các loài cá nục có giá trị kinh tế là cá nục sò (D. maruadasi) sống ở tầng mặt và cá nục đỏ (D. kurroides), ngoài ra còn có cá nục thuôn (D. lajang).

* Yêu cầu đối với cá nục:

– Cá phải tươi tốt, có nhiều chất béo, tổ chức cơ thịt chặt chẽ, thịt thơm ngon.

2) Cà chua:

– Chọn cà còn tươi, màu đỏ sáng, không quá chín, không sâu bệnh,dập nát.

B. NGUYÊN LIỆU PHỤ:

1) Muối:

– Tinh thể phải trắng, không vón cục, hòa tan hoàn toàn.

2) Đường tinh luyện:

–                     Tinh thể trắng óng vàng, không vón cục, không có mùi lạ, ngọt đặc trưng, không có vị lạ.

–             Tinh thể trắng óng ánh, khi pha trong nước cất cho dung dịch trong suốt.

3) Paprika:

– Đỏ đậm sền sệt, không tạp chất, hòa tan trong dầu thực vật, hòa tan trong nước, mùi tự nhiên của ớt bột.

4) Tinh bột biến tính:

–  Trắng đến trắng nhạt, không vón cục, không có tạp chất.

–  Hòa tan hoàn toàn mà không có cặn.

5) Bột ngọt:

–  Tinh thể trắng, bột mịn, không đóng cục, không có tạp chất.

–  Hòa tan hoàn toàn và không có cặn.

6) Guar Gum:

–  Bột màu trắng nhạt, bột mịn, không vón cục và không có tạp chất.

–  Hòa tan hoàn toàn và không có cặn.

7) Dầu nành tinh luyện:

–  Vàng nhạt, không có tạp chât, không có mùi và vị ôi thiu, không giôgs mỡ và không có cặn.

8) Phụ gia I +G:

–     Tinh thể trắng, bột mịn, hòa tan hoàn toàn.

9) Bột tiêu trắng:

–     Vàng xanh, bột mịn, có mùi đặc trưng của tiêu, nồng và cay.

–     Không có tạp chất lạ, không có mùi vị lạ.

10) Caramel:

–     Màu nâu sệch, không có tạp chất.

11) Củ hành:

–     Thân tươi sạch và khô với hình dạng tròn hay gần như tròn vỏ màu nâu nhạt.

–         Không vỡ, dập rách, hư hỏng, thối.

–         Không có mầm, rễ, tạp chất không mong muốn.

–         Mùi củ hành tự nhiên mà không có mùi lạ không mong muốn.

–         Vị ngọt nhẹ.

–         Đường kính 5 – 12 cm/củ.

–         Trọng lượng 100 -350g/ củ.

12) Bột ớt:

–   Màu đỏ, không có hạt, dạng sệt, không có tạp chất, cặn.

–  Vị cay đặc trưng của ớt.

II. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CÁ NỤC SỐT CÀ ĐÓNG HỘP:

1. Sơ đồ quy trình sản xuất:

2.Thuyết minh quy trình:

2.1. Vận chuyển – tiếp nhận – lựa chọn nguyên liệu:

Mục đích:

Đây là một khâu tốn nhiều sức lao động và chi phí, do đó cần cơ giới hóa các quá trình vận chuyển nhằm mục đích tiết kiệm chi phí, đồng thời giữ được phẩm chất của nguyên liệu.

Trong quá trình vận chuyển, các phương tiện phải đảm bảo vệ sinh. Nguyên liệu được sắp xếp sao cho ít bị giập nát hư hỏng, tận dụng được khả năng vận chuyển cao nhất.

Quá trình bảo quản nguyên liệu cần đảm bảo nguyên liệu ít biến đổi về thành phần dinh dưỡng và hạn chế sự phát triển của vi sinh vật.

Lựa chọn nhằm để loại bỏ các nguyên liệu không đủ phẩm chất, phân chia nguyên liệu về thành từng nhóm (phẩm chất, kích thước…).

Thông số kỹ thuật chính:

Nhiệt độ nguyên liệu £ 40C.

Mô tả:

Nguyên liệu cá được mua từ các nhà cung cấp trước khi nhập xưởng phải được phân cỡ và kiểm tra các chỉ tiêu (ngoại quan, lý hoá sinh).Chỉ nhận vào chế biến những nguyên liệu đạt yêu cầu. Sau khi kiểm tra đạt yêu cầu nguyên liệu cá sẽ được đưa vào bồn chứa cá.

2.2. Ướp đá (nếu có):

Thông số kỹ thuật chính:

– Nhiệt độ nguyên liệu £ 40C.

– Nước đá ≥ 10%

Mô tả:

Nếu nguyên liệu cá không thể chế biến hết trong ngày sẽ được bảo quản bằng nước đá để hôm sau sản xuất tiếp.

2.3. Rửa 1:

Mục đích:

Rửa là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất vì trên bề mặt nguyên liệu có nhiều tạp chất và vi khuẩn, các chất hóa học hay sinh học. Trong sản xuất, ta rửa nhằm loại trừ các tạp chất.

Nước rửa phải có phẩm chất tốt. Đạt tiêu chuẩn nước uống theo quy định nhà nước, phương pháp và cấu tạo thiết bị rửa thích hợp như quy luật thay nước rửa, cơ chế khuấy trộn nguyên liệu trong quá trình rửa, áp lực nước và hướng của dòng nước phun.

Thông số kỹ thuật chính:

– Nhiệt độ nước rửa: £ 100C.

– Nhiệt độ cá: £ 100C

Mô tả:

Cá sau khi tiếp nhận vào bồn chứa sẽ được xe nâng chuyển đến bồn rửa 1 trước khi chuyển vào khu vực cắt đầu. Nhiệt độ nước rửa  luôn £ 100C.

2.4. Cắt đầu cá:

Mục đích:

Loại bỏ những phần đầu, đuôi, mang, nội tạng.

Chuẩn bị cho quá trình chế biến tiếp theo.

Thông số kỹ thuật chính:

– Cá sau khi cắt đầu: 6.5-8.5cm.

– Nhiệt độ cá: £ 100C.

Mô tả:

Tại đây cá sẽ được đưa vào từng khay và theo băng tải đến các line .Cá sẽ được cắt đầu, đuôi và bỏ nội tạng (chiều dài cá sau khi cắt đầu 6.5-8.5cm). Trong suốt thời gian cắt đầu cá luôn được duy trì £ 100C.

2.5. Dò kim loại:

Mục đích:

Phát hiện và loại bỏ các mảnh kim loại.

Thông số kỹ thuật chính:

– Mảnh kim loại: kích thước ³ 3mm.

Mô tả:

Sau  khi cắt đầu băng tải sẽ chuyển các khay cá đến thiết bị dò kim loại để loại bỏ kịp thời các mãnh kim loại có kích thước ³ 3mm lẫn trong cá.

2.6. Rửa 2:

Mục đích:

Tiếp tục làm sạch nguyên liệu bằng nước.

Thông số kỹ thuật chính:

– Nhiệt độ nước rửa: £ 100C.

– Nhiệt độ cá: £ 100C

Mô tả:

Các khay nguyên liệu cá sau khi dò kim loại đạt yêu cầu sẽ cho vào bồn rửa nước sạch. Trong thời gian rửa nhiệt độ nước rửa  £ 100C, cá được duy trì £ 100C.

2.7. Vô lon

Yêu cầu:

Đẹp, đủ trọng lượng và nguyên vẹn.

Đồng đề về chất lượng: màu sắc, độ chín, hình dạng kích thước, số lượng miếng.

Để lại khoảng không đỉnh hộp.

Giữ miệng hộp sạch sẽ.

Thực hiện trong môi trường vệ sinh, tuân thủ các quy định vệ sinh một cách nghiêm ngặt.

Mô tả:

– Lon rỗng sẽ được rửa qua trước khi vô lon.

– Sau khi đã rửa sạch băng tải sẽ chuyển các khay cá đến khu vực vô lon. Dùng tay cho cá vào từng lon, tùy theo kích thước của cá mà số lượng cá, đảm bảo trọng lượng cá vô lon.

2.8. Hấp và chắt nước:

Mục đích:

Hấp cá nhằm mục đích:

Thay đổi thể tích và khối lượng nguyên liệu.

Khử không khí trong gian bào của nguyên liệu thực vật.

Làm mềm nguyên liệu, giảm tỉ lệ tổn thất của nguyên liệu và nâng cao hiệu suất sản xuất trong quá trình chế biến.

Nâng cao chất lượng sản phẩm.

Ổn định màu cho sản phẩm.

Tăng độ thấm của tế bào.

Khử trùng.

Vô hoạt enzyme.

Chắt nước: nhằm loại phần nước và các chất ngấm ra trong các quá trình chế biến trước (rửa, hấp).

Thông số kỹ thuật chính:

– Nhiệt độ hấp: 93 – 1000C.

– Thời gian hấp: 17-20 phút.

– Thời gian chắt nước: £ 1 phút.

Mô tả:

– Sau khi vô lon, các lon cá sẽ được chuyển đến thiết bị hấp với nhiệt độ 93 – 1000C, thời gian 17 – 20 phút.

– Sau khi hấp các lon cá sẽ được chuyển đến thiết bị xoay để chắt nước ra khỏi lon cá, thời gian chắt nước  £ 1 phút

2.9. Vô sauce và dầu:

Mục đích:

Công đoạn rót sốt và dầu đã được gia nhiệt, nhằm bài khí ra khỏi hộp.

Sự tồn tại của không khí trong các hộp đã được ghép mí kín chỉ dẫn tới những hậu quả không mong muốn.

                        Mục đích của quá trình bài khí đồ hộp:

Giảm độ chênh lệch giữa áp suất trong hộp và áp suất ngoài hộp.

Hạn chế sự oxy hóa các chất dinh dưỡng trong thực phẩm.

Hạn chế sự phát triển của các vi sinh vật hiếu khí.

Hạn chế hiện tượng ăn mòn bao bì sắt tây.

Tạo độ chân không trong đồ hộp thành phẩm.

Thông số kỹ thuật chính:

– Nhiệt độ sốt cà: ≥ 750C

Mô tả:

* Pha chế nước sốt cà chua:

Rửa cà trong nước sạch nhằm loại bỏ tạp chất, đất, cát. Loại bỏ những quả bị thối, không đủ quy cách chế biến.

– Đun nóng

Mục đích: vô hoạt enzyme pectinase để giữ cho sản phẩm không bị tách nước. Bên cạch đó, enzyme oxy hoá cũng bị vô hoạt. Ngoài ra, đun nóng làm cho cấu trúc mềm hơn nhằm tăng hiệu suất thu hồi dịch quả.

Nhiệt độ đun nóng: 85 0C

– Chà

Nhằm tách vỏ, hạt và làm nhỏ thịt cà trong tế bào nguyên liệu.

– Phối chế

Thành phần: bột, muối, đường, bột ngọt.

Bột: có tác dụng tăng độ sệt của nước sauce, giảm vị chua của nguyên liệu làm tăng giá trị kinh tế. Lượng bột sử dụng vừa phải, nếu quá nhiều sẽ làm giảm chất lượng sản phẩm

Các gia vị khác có tác dụng điều vị, tăng giá trị cảm quan.

– Cô đặc

Quá trình cô đặc được thực hiện trong điều kiện chân không với độ chân không khoảng 600-650 mmHg. Trong điều kiện chân không nhiệt độ sôi của dung dịch rất thấp, khoảng 50-550C. Khi đó, cấu trúc pectin không bị phá vỡ nên giữ được độ sệt của nước sauce. Ngoài ra các thành phần khác cũng ít bị biến đổi nhất là Vitamin C. Cô đặc đến độ khô nước sauce khoảng 13-150Bx.

Sau khi cô đặc xong nước sauce cà chua ta tiến hành rót nước sốt vào hộp lúc nhiệt độ còn nóng khoảng hơn 850C theo tỉ lệ : sauce cà/cá = 4/6 sau đó tiến hành ghép nắp .

–  Nước sốt cà được chuẩn bị trong bồn Inox.

– Lon đã được chắt nước theo băng tải đến bồn chứa sốt cà, bồn chứa dầu. Tại đây sốt cà và dầu sẽ được rót vào từng lon bằng máy định lượng.

2.10. Ghép mí và rửa:

Mục đích:

Ghép mí kín giúp cách ly thực phẩm khỏi các tác nhân gây hư hỏng, do đó đồ hộp có thể bảo quản trong thời gian dài mà không bị hư hỏng.

Mô tả:

Lon đã có sốt cà và dầu sẽ được băng tải đưa đến máy ghép mí để ghép mí và nắp lại với nhau, nhân viên QA lấy mẫu để kiểm tra lỗi cảm quan với tần suất 15phút/lần và  mí ghép 2h/lần.

2.11. Thanh trùng:

Mục đích:

Thực phẩm trước khi cho vào hộp và được ghép mí và trải qua nhiều công đoạn xử lý. Số vi sinh vật bám trên nguyên liệu đã giảm nhiều. Quá trình thanh trùng nhằm tiêu diệt các vi sinh vật, kéo dài thời gian bảo quản, tăng phong vị và làm nhừ kết cấu của thực phẩm, đảm bảo an toàn cho người sử dụng.

Thông số kỹ thuật chính:

– Nhiệt độ thanh trùng: 1210C

– Thời gian thanh trùng:

+ 50 phút đối với lon 202×200, I.T ≥50 0C.

+ 60 phút đối với lon 307×113, I.T ≥400C.

Mô tả:

– Sau khi ghép mí băng tải sẽ chuyển các lon cá đến hệ thống thanh trùng.  Nhân viên QA kiểm tra thời gian, nhiệt độ với tần suất 15 phút/lần, nhân viên vận hành theo dõi liên tục biểu đồ nhiệt kế tự ghi. Nhiệt độ thanh trùng 1210C, thời gian thanh trùng.

2.12. Làm nguội:

Thông số kỹ thuật chính:

– Nồng độ chlorine:1.0 -3.0 ppm

– Nhiệt độ sau làm nguội £ 50 0C

Mô tả:

– Sau khi tiệt trùng băng tải sẽ chuyển các lon đến hệ thống làm nguội (nước dùng làm nguội có nồng độ clorine từ 1.0 – 3.0ppm).

–  Nhân viên QA định kỳ kiểm tra nồng độ clorine dư trong nước làm nguội với tần suất 2h/lần để đảm bảo nước làm nguội an toàn cho sản phẩm.

– Nhân viên QA kiểm tra nhiệt độ lon đầu tiên ra khỏi nước làm nguội đối với mỗ lô £ 50 0C

2.13. Làm khô, dán nhãn và đóng gói:

Thông số kỹ thuật chính:

– Đóng thùng:

+ Lon 202×200:10 lon/ block, 10block/ thùng carton 100 lon, 5 block/thùng carton 50 lon

+ Lon 307×113: 4lon hoặc 6 lon/ block, 48lon/thùng

Mô tả:

Sau khi đã nguội các lon sẽ được thổi khô bằng máy.

Sau đó sẽ chuyển đến hệ thống đóng   date tự động ,  đóng block  tự động 10 lon/block (hoặc 3 lon/block, làm bằng tay) và đóng thùng 100 lon, 99 lon, 50 lon đối với lon 202×200, lon 307×113: 4 lon hoặc 6 lon/ block, 48lon/thùng.

Trên thùng carton được ghi đầy đủ tên và địa chỉ của xí nghiệp, tên sản phẩm, ngày sản xuất.

2.14. Lưu kho, bảo quản và phân phối:

Thông số kỹ thuật chính:

– Nhiệt độ lưu ở nhiệt độ thường

– Thời gian: 10 ngày

Mô tả:

Các thùng carton sẽ được chất lên pallet, mỗi pallet thành phẩm có gắn thẻ sản phẩm lưu  kho trong thời gian 7 ngày chờ kết quả từ phòng QA.

Khi có đơn đặt hàng, bộ phận kho sẽ xuất hàng theo kế hoạch của bộ phận kinh doanh.

III. MÁY MÓC, DỤNG CỤ VÀ THIẾT BỊ

1. Thiết bị:

1.1. Thiết bị hấp:

Thiết bị được sử dụng kết hợp với nồi hơi vì quá trình này cần hơi gia nhiệt để làm chín cá.

Năng suất: 400 kg/h

Kích thước máy: 6 – 1.5 – 1.2 m

1.2. Máy chiết dạng sệt:

Máy này đuợc sử dụng rộng rãi để chiết các loại nguyên liệu trong các ngành công nghiệp như thực phẩm, dược phẩm.

Máy có bơm phun để chiết với độ chính xác cao, phạm vi rộng lớn để điều chỉnh định lượng.

Nó cho phép điều chỉnh dung tích chiết cho tất cả các bơm chiết tại cùng thời gian, đồng thời cho các sự điều chỉnh nhỏ của mỗi bơm chiết để đạt tới độ chính xác cao.

Tất cả các bộ phận tiếp xúc đều làm bằng inox 316, thuận tiện để rửa bằng CIP.

1.3. Máy ghép mí:

Máy ghép mí này thích hợp cho các sản phẩm đóng hộp cá, thịt.. tạo mối ghép bền chặt, đảm bảo trong quá trình vận chuyển. Máy ghép mí với công suất 120 hộp/phút.

1.4. Máy rửa hộp sau khi ghép mí:

Hộp sau khi ghép cần rửa lại để đảm bảo về cảm quan và chất lượng. Năng suất của thiết bị là 6000 hộp/h.

1.5. Thiết bị tiệt trùng

Thiết bị này làm việc sử dụng  nước, hơi, không khí nén.

Máy này chủ yếu được sử dụng cho thực phẩm đóng hộp (thịt, cầm, cá, trứng, rau và thực phẩm đóng hộp).

1.6.Máy in date:

Máy in date  series MY là thiết bị in đặc biệt và thích hợp để in nhãn trên bề mặt giấy, màng nhựa và màng nhôm. Vị trí in đuợc điều khiển bởi thiết bị điện và có thể điều chỉnh tuỳ ý nguời sử dụng.Ngoài ra, máy còn sử dụng công nghệ in mới có sáu màu cho nguời sử dụng lựa chọn như: đen, đỏ, vàng, xanh nuớc biển , trắng và xanh da trờ. Các từ đuợc in từ máy rõ nét, rất khó tẩy xoá và thay đổi.

1.7. Nồi hơi:

          Nồi hơi đốt dầu ống lò lệch tâm.

1.8. Cân kiểm tra trọng lượng:

Cân được sử dụng để kiểm tra trong lượng sản phẩm chính xác, đảm bảo độ tin cậy của sản phẩm.

2. Dụng cụ:

2.1. Pallet:

Pallet được sử dụng cho việc lưu trữ sản phẩm.

Kích thước 1.2 – 1 – 0.13 m.

Tính năng Giúp giảm bớt được các sự cố như: làm căng/méo mó/biến dạng, làm vỡ vụn hoặc các vết cắt trên sản phẩm, hàng hoá Không thấm nước

Tải trọng tối đa Có thể lên đến 5 tấn.

2.2. Băng tải

Băng chuyền sử dụng cho vận chuyển cá, lon:

Băng tải fillet cá

                                                   Băng tải lon

2.3. Bồn rửa:           

Model B3N

Kích thước ngăn chứa 600W x 600L x 420H

Kích thước bồn rửa 600W x 1880L x 850H

Số lượng chậu nhỏ 3

Vật liệu Inox

2.4. Xe đẩy:

Model XĐP – 60 – 80XĐP – 80 – 100

Vật liệu Thép không gỉ (SUS-304)

Tải trọng 500 kg

Công dụng – Dùng để chứa cá, tôm, mực … khi di chuyển trong nhà xưởng.- Bánh xe bằng nhựa trắng hoặc bằng cao su. Càng bánh xe bằng thép nhúng kẽm hoặc bằng thép không gỉ.

– Xe có cấu tạo chắc chắn, dễ sử dụng nên an toàn khi di chuyển trong nhà xưởng.

IV.HÌNH ẢNH MỘT SỐ MÓN ĂN CHẾ BIẾN TỪ CÁ NỤC SỐT CÀ ĐÓNG HỘP

VI. ƯU ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM

Thay cho những sản phẩm cá nục sốt cà  truyền thống với hương vị đơn điệu, màu sắc nước sốt  tẻ nhạt, những khúc cá kém thẩm mỹ; sản phẩm “Cá nục sốt cà đóng hộp” là một sản phẩm có hương vị, màu sắc đặc trưng, nhiều chất dinh dưỡng, tiện lợi và giá cả hợp lý. Từng thớ thịt từ những con cá tươi ngon hòa quyện với nước sốt chua ngọt, cay cay cùng hương vị đặc trưng của củ hành, bột tiêu trắng chắc chắn sẽ mang đến cho người tiêu dùng một hương vị khó quên. Với hương vị khó quên đó, chắc chắn sản phẩm cá nục sốt cà đóng hộp sẽ đi vào lòng người tiêu dùng, tạo nên một phong cách mới cho bữa ăn gia đình thời hiện đại.

Sản phẩm không chỉ phù hợp với bữa ăn gia đình mà còn phù hợp cho những buổi picnic hay những chuyến du lịch, vừa gọn nhẹ lại dễ dàng sử dụng. Sản phẩm này còn phù hợp với những bạn học sinh – sinh viên bận rộn trong các mùa thi mà vẫn đảm bảo sức khỏe và hợp với túi tiền.

Chỉ với khoảng thời gian ngắn và những nguyên liệu rẻ tiền, người tiêu dùng có thể chế biến nhiều món ăn vừa ngon vừa bổ dưỡng từ sản phẩm cá nục sốt cà đóng hộp.

VII. KẾT LUẬN

Với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, cuộc sống con người ngày càng hoàn thiện, thực phẩm đóng hộp càng ngày càng thể hiện được vai trò với những tính chất ưu việt của nó. Công nghệ sản xuất đồ hộp cũng ngày càng được cải tiến, đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe về mặt an toàn và dinh dưỡng.

Việt Nam là một quốc gia có nguồn thủy hải sản vô cùng phong phú với chiều dài bờ biển 3260km, là điều kiện rất thuận lợi cho công nghệ đồ hộp phát triển. Đây là một trong những ngành công nghiệp mà vốn đầu tư ít, thu lợi nhanh, nên việc phát triển ngành công nghiệp này đã và đang là một trong những lĩnh vực rất được nhà nước quan tâm và thu hút vốn đầu tư lớn của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Sản phẩm cá nục sốt cà là một trong những sản phẩm rất được ưa chuộng trên thị trường, nên việc phát triển sản phẩm này đang có tiềm năng rất lớn, mang lại giá trị kinh tế cao. Đây là một xu thế đáng quan tâm trong tương lai.

Cảm ơn các bạn đã quan tâm tới bài của nhóm mình.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Ứng Dụng Công Nghệ Sinh Học Sản Xuất Bột Gia Vị Dinh Dưỡng Từ Phụ Phẩm Cá Ngừ

Với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 400 triệu USD/năm, cá ngừ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chỉ sau cá tra và tôm.

Ngành chế biến cá ngừ phát triển kéo theo lượng phế phụ phẩm còn lại tương đối lớn. Theo tính toán, mỗi năm có khoảng 100.000 tấn phế phụ phẩm được loại ra từ ngành chế biến cá ngừ, trong đó phần thịt sẫm màu chiếm khoảng 2.000 tấn. Đây được xem là phần có giá trị nhất trong phế phụ phẩm từ cá ngừ.

Mặc dù có giá trị dinh dưỡng cao nhưng phụ phẩm này lại chưa được sử dụng đúng với giá trị, thường làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi hoặc bán ra các chợ đầu mối với giá thành chỉ 4.000 đồng – 5.000 đồng/kg, gây tổn thất sau thu hoạch cho ngành chế biến cá ngừ.

Việc gia tăng giá trị và tận dụng tối đa phụ phẩm để tạo ra các sản phẩm mới ứng dụng công nghệ sinh học để nâng cao giá trị cho ngành chế biến và khai thác cá ngừ là việc làm quan trọng và cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ nhận định này, năm 2024, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng do TS. Bùi Xuân Đông làm chủ nhiệm đã thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm ” Sản xuất bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng công nghệ sinh học“. Dự án thuộc Đề án Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực công nghiệp chế biến đến năm 2024 do Bộ Công Thương chủ trì.

Mục tiêu của dự án nhằm hoàn thiện công nghệ, thiết bị để sản xuất và thương mại hóa sản phẩm bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng phương pháp công nghệ sinh học nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong thu hoạch, chế biến cá ngừ tại Việt Nam.

Bộ Công Thương đã tổ chức nghiệm thu kết quả thực hiện dự án

Sau 2 năm nghiên cứu, Báo cáo trước Hội đồng nghiệm thu (Ngày 22/10) TS. Bùi Xuân Đông – Chủ nhiệm dự án cho biết, trong dự án này, nhóm thực hiện chú trọng đến việc sử dụng đa enzyme protease để thủy phân sâu nguyên liệu thịt sẫm màu cá ngừ, từ đó thu dịch đạm thủy phân (FPH- Fish Protein Hydrolysate), sau đó tinh chế và tạo hình sản phẩm bột gia vị cá ngừ. So với phương pháp hóa học, phương pháp sinh học sử dụng enzyme thủy phân có thể kiểm soát các quá trình phản ứng, giảm thiểu các phản ứng không mong muốn, giảm ô nhiễm môi trường do ít sử dụng hóa chất vô cơ.

TS. Bùi Xuân Đông – Chủ nhiệm dự án

Dự án đã hoàn thiện được quy trình công nghệ sản xuất bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ ứng dụng xúc tác sinh học (đa enzyme) tại các phòng thí nghiệm của Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng.

Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc xác định điều kiện tối ưu cho quá trình thủy phân protein cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng hỗn hợp enzyme protease. Nhóm nghiên cứu đã xác định điều kiện thích hợp cho quá trình thủy phân protein nguyên liệu là tỷ lệ enzyme/nguyên liệu bằng 2,05%, bổ sung hàm lượng nước 100%, nhiệt độ 50 độC, thủy phân trong thời gian 9,31 giờ.

Sản xuất thử nghiệm bột gia vị cá ngừ ở quy mô phòng thí nghiệm

“Trong quá trình triển khai dự án, chúng tôi đã phối hợp với Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long tổ chức sản xuất thử nghiệm sản phẩm bột gia vị cá ngừ. Từ 24 tấn nguyên liệu cá ngừ, chúng tôi đã sản xuất được trên 35 nghìn gói bột gia vị (trọng lượng 250g/gói) và khoảng 55 nghìn gói bột gia vị ( trọng lượng 500g/gói). Cảm quan sản phẩm có màu vàng đến vàng đậm, mùi thơm đặc trưng, vị mặn, có hậu vị nhẹ, tơi xốp, không vón cục. Sản phẩm được đánh giá chất lượng đảm bảo an toàn thực phẩm tại Trung tâm kiểm định sắc ký Hải Phòng (TP. Hồ Chí Minh). Đặc biệt, bột gia vị cá ngừ do dự án sản xuất có hàm lượng protein 21 – 36,2% cao hơn nhiều so với các sản phẩm bột gia vị pha chế hiện có trên thị trường (18 – 20% protein)”, TS. Bùi Xuân Đông cho biết.

Bột gia vị dinh dưỡng cá ngừ

TS. Bùi Xuân Đông thông tin thêm, nhóm nghiên cứu đã thiết kế 02 loại nhãn mác cho sản phẩm bột gia vị cá ngừ là bao bì PA tráng nhôm và bao bì PET, được Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long (TP. Hải Phòng) công bố phù hợp điều kiện vệ sinh thực phẩm. Trong đó, bao bì PA tráng nhôm được dự án lựa chọn để đóng gói sản phẩm bột gia vị cá ngừ. Loại bao bì này có thể hút chân không, đảm bảo độ kín khi bảo quản sản phẩm, thuận tiện trong quá trình lưu thông và vận chuyển sản phẩm.

Sản phẩm bột gia vị cá ngừ đã tham gia vào chuỗi các sản phẩm giá trị gia tăng của Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long, được quảng bá và tiếp thị tại Hội chợ các sản phẩm biển đảo tại Đại học Hàng hải Hải Phòng, tham gia Triển lãm các sản phẩm khoa học công nghệ – sáng tạo trẻ Hải Phòng. Không dừng lại ở đó, hơn 50.000 sản phẩm bột gia vị cá ngừ của dự án sản xuất cũng đã được phân phối vào hệ thống các kênh phân phối sản phẩm hiện tại của Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long tại nhiều địa phương như Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng.

Sản xuất thử nghiệm bột gia vị cá ngừ tại Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long

Với việc sản xuất thành công bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng công nghệ sinh học, dự án sản xuất thử nghiệm do Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng đã mở ra hướng đi mới trong trong việc sử dụng phế phụ phẩm trong công nghiệp chế biến cá ngừ, giúp tận dụng tối đa phụ phẩm cá ngừ, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành chế biến và khai thác cá ngừ tại Việt Nam.

Công Nghệ Sản Xuất Giống Cá Giò

Trong thời gian gần đây, cá giò đã được nuôi phổ biến trong lồng bè ở vùng biển các địa phương Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An và Vũng Tàu. Chúng có tốc độ sinh trưởng nhanh, từ con giống cỡ 20 -25g/con sau 1 năm nuôi có thể đạt 4 – 5kg/con. Ðây là đối tượng có rất nhiều triển vọng đối với nghề nuôi biển ở nước ta. Hiện nay, hầu hết các lồng nuôi chỉ sử dụng con giống từ nguồn sinh sản nhân tạo vì sự khan hiếm con giống loài này ở tự nhiên. Chính vì vậy, nhu cầu con giống đang ngày càng gia tăng ở nhiều địa phương.

Nuôi vỗ: Cá bố mẹ được nuôi vỗ trong lồng lưới. Trong điều kiện nuôi vỗ, cá giò ở tuổi thứ 2 có thể thành thục tuyến sinh dục.

Sinh sản: Cho cá đẻ trong bể xi măng hoặc trong giai, ấp trứng và ương ấu trùng trong bể composite hoặc bể xi măng.

Trứng được đẻ trong bể xi măng, kể cả tiêm hoặc không tiêm hoocmôn, cá giò thường đẻ vào ban đêm, tập trung vào thời gian từ 21 – 24 giờ. Trứng được thu ngay sau khi đẻ, tách riêng và ấp ở nhiệt độ 28-30oC. Sau 24 – 28 giờ, trứng sẽ nở thành cá bột có chiều dài 4 – 4,2mm.

Thức ăn cho ấu trùng cá: ở ngày tuổi thứ 3, cá bắt đầu ăn sinh vật phù du cỡ nhỏ như luân trùng, ấu trùng hầu hà, nauplius của copepoda; tiếp đến là loại cỡ lớn như copepoda trưởng thành, artemia ấu trùng và trưởng thành, sau đó có thể luyện chúng ăn thức ăn hỗn hợp. Giải quyết thức ăn tươi sống cho ấu trùng cá: nuôi tảo thuần trên túi ni lông; nuôi luân trùng thâm canh trên bể nhỏ; gây nuôi sinh vật phù du trên ao đất vùng nước lợ. Vì vậy, việc áp dụng quy trình sản xuất giống cá giò đã dễ; dàng, thuận lợi và có điều kiện mở rộng.

Kết quả: Tỷ lệ cá giống tính từ khi nở cỡ 12-15cm đạt 4-5%, thời gian ương từ 50-60 ngày.

Ðịa chỉ liên hệ: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I Ðình Bảng-Từ Sơn – Bắc Ninh; Trạm Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản Cát Bà.

Công Nghệ Sản Xuất Cá Chép Giống

1. Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ

* Chuẩn bị ao nuôi vỗ: Cá đực và cá cái được tách và nuôi vỗ trong các ao nuôi vỗ riêng.

– Ao nuôi cá cái có diện tích 300 – 2.000m2, đáy có lớp bùn dày 0,15 – 0,2m, bờ cao, không bị rò rỉ, độ pH từ 6,5 – 8. Ao được tẩy vôi với liều lượng 7- 10kg vôi/100m 2­. Bón lót với liều lượng phân chuồng 20 – 30kg cho 100m 2 diện tích ao hoặc phân xanh 40 – 50kg/100m 2. Sau đó lấy nước vào ao nuôi đạt mức nước 1,2 – 1,5m.

– Ao nuôi cá đực chỉ cần rộng 400 – 1.000m2 và cũng có những điều kiện như ao nuôi cá cái.

* Chọn cá bố mẹ đưa vào nuôi vỗ

Cá đưa vào nuôi vỗ có ngoại hình đẹp, khoẻ mạnh không có biểu hiện mắc bệnh. Cá đực từ 0,8 kg/cá thể trở lên, cá cái từ 1,0 kg/cá thể trở lên. Tuổi cá bố mẹ thích hợp là 2 – 6 tuổi.

– Mật độ:

+ Ao nuôi vỗ cá cái: từ 8 – 10m 2/con (trọng lượng từ 1 – 2kg/con).

+ Ao nuôi vỗ cá đực: từ 4 – 6m 2/con (trọng lượng từ 1 – 2kg/con).

Ngoài ra ao nuôi vỗ cá chép còn thả ghép cá mè trắng, mè hòa để tận dụng thức ăn là sinh vật phù du trong ao.

Thời gian nuôi vỗ:Cá được nuôi vỗ từ cuối tháng 9 năm trước, đến tháng 2 năm sau cá có thể bắt đầu sinh sản.

Chăm sóc và nuôi vỗ: nuôi vỗ chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 nuôi từ tháng 10 – tháng 12 (giai đoạn nuôi vỗ tích cực); giai đoạn 2 nuôi từ tháng 1 – tháng 3 năm sau (giai đoạn nuôi vỗ thành thục).

+ Giai đoạn nuôi vỗ tích cực cần cho cá ăn nhiều thức ăn giàu đạm để cá tích lũy về vật chất dinh dưỡng. Liều lượng thức ăn cho cá ăn ở giai đoạn này chiếm 3 – 5% trọng lượng quần đàn. Qua kiểm tra định kỳ (1 tháng một lần) sẽ giảm dần lượng thức ăn.

+ Giai đoạn nuôi vỗ thành thục chủ yếu giai đoạn này là ngừng cho cá ăn và áp dụng các biện pháp sinh thái như kích nước để giúp cá tích lũy buồng trứng. Thường trước khi cho cá đẻ từ 30 – 45 ngày đối với chính vụ và 10 – 15 ngày với cá đẻ tái phát cần cho cá ăn thêm mầm thóc.

2. Chọn cá cho đẻ

– Chọn cá cái có bụng mềm, phần phụ sinh dục màu hồng. Hạt trứng rời nhau, căng đều, màu sáng trắng. Cá đực được chọn là những cá thể khi vuốt nhẹ bụng gần phần phụ sinh dục thấy có sẹ màu trắng sữa.

3. Tiêm kích dục tố cho cá đẻ

– Kích dục tố có các loại sau:

+ LRHa + Motilium

+ Não thùy thể cá chép

+ HCG

Nhưng tốt nhất ta nên sử dụng kích dục tố LRHa + Motilium.

+ Cách pha thuốc: 1 ống LRHa + 2 viên Motilium tiêm cho 5 ml nước (nước dùng pha thuốc là nước muối sinh lý, nước cất…

+ Số lần và liều lượng tiêm: hiện nay khi tiêm kích dục tố người ta có thể tiêm 1 lần hoặc 2 lần. Tuy nhiên nhiều thí ngiệm cho thấy tiêm 2 lần hiệu quả cao hơn so với 1 lần. Liều lượng tiêm cá cái 1ml/1kg cá, liều lượng cá đực giảm ½ so với cá cái. Cá cái được tiêm kích dục tố 2 lần. Lần 1 tiêm 1/4 – 1/5 lượng thuốc cần tiêm, sau khoảng 6 đến 8 giờ tiêm hết số thuốc còn lại. Cá đực chỉ tiêm 1 lần, trước khi tiêm lần 2 cho cá cái khoảng 2 giờ.

– Cho cá đẻ

+ Cá chép là loài cá đẻ trứng dính, nên cần chuẩn bị bèo tây làm giá thể cho trứng bám. Bèo cần được rửa sạch qua nước muối

+ Sau khi tiêm thuốc kích dục tố ta cho cá đực và cá cái vào bể đẻ được kích nước liên tục. Ta ghép đực cái cho vào bể theo tỷ lệ 1 đực 1 cái hoặc 1 đực 2 cái. Sau thời gian khoảng 9 – 10 tiếng cá động hơn và rượt đuổi nhau. Thời gian cá đẻ vào lúc gà gáy và sáng sớm. Nhiệt độ thích hợp cho cá chép đẻ từ 20 – 23 0 C. Cá cái đẻ trứng, cá đực phóng tinh trùng. Trứng đẻ ra bám vào rễ bèo. Những trứng được thụ tinh sẽ được ấp nở. Những trứng không được thụ tinh sẽ bị phân hủy trong môi trường nước.

4. Ấp trứng

Hiện có các phương pháp ấp trứng cá chép như sau:

4.1. Ấp trong ao

– Điều kiện ao ấp trứng cần phải tẩy dọn sạch và diệt địch hại. Diện tích ao ấp từ 200 – 500m 2. Độ sâu mức nước 0,8 – 1m.

– Trước khi thả trứng xuống ao cần tiến hành khử trứng và giá thể bằng cách nhúng trứng qua dung dịch thuốc tím 20g cho 1m 3 nước hoặc nước muối 2 – 3% trong vòng 3 – 5 phút để hạn chế trứng bị nấm. Các giá thể có trứng dính khi đưa xuống ao cần đặt trong các khung tre.

4.2. Ấp kết hợp

– Để hạn chế tác hại của nấm thủy mi, việc ấp trứng cá chép chia làm hai giai đoạn là ấp trong phòng “ấp khô” sau đó ấp trứng trong ao “ấp ướt”.

+ Ấp khô: giá thể và trứng sau khi được khử trùng sẽ được đặt ngửa lên và phía trên trứng được phủ bởi 1 lớp rong để giữ ẩm, cứ 30 phút dùng thùng ô doa tưới 1 lần, khi nào phôi xuất hiện 2 chấm đen thì đưa phôi và giá thể xuống ao ấp tiếp.

4.3. Ấp trong bể vòng: Các phên trứng hoặc giá thể được xếp xuống bể vòng. Nếu là phên trứng thì mỗi phên được buộc thêm một cục gạch để trứng không bị nổi trên mặt nước. Sau một ngày rửa phên hoặc giá thể cho hết phù sa bám vào, rồi lại đưa vào bể ấp tiếp cho đến khi nở thành cá bột (sau 1 đến 2 ngày tùy theo nhiệt độ nước). Vớt giá thể ra tiếp tục ương 3 – 4 ngày trong một bể rồi tiến hành thu cá bột. Đây là phương pháp ấp cho năng suất nhất hiện nay.

4.4. Ấp trong bình vây: Trứng cá sau khi đã khử dính được rửa qua nước sạch rồi đưa trứng vào bình và điều chỉnh lưu tốc nước phù hợp tránh trứng cá bị đóng bánh hoặc chìm xuống dưới đáy.

5. ƯƠNG CÁ BỘT LÊN CÁ HƯƠNG

– Mật độ ương: 80 – 140 con/m 2

– Hai tuần đầu sử dụng thức ăn là bột đậu tương nghiền mịn, với lượng cho ăn là 0,2- 0,3 kg/vạn cá bột.

– Tuần thứ 3 đến tuần thứ 5 mỗi ngày cho ăn là 0,4- 0,5 kg/vạn cá bột/ngày.

– Tuần thứ 5 trở đi tiến hành luyện cá 2 – 3 lần trước khi san thưa. Tỷ lệ sống của cá hương đạt 40 – 50%, kích cỡ cá 2,5 – 3,0cm.

6. Ương cá hương lên cá giống

– Mật độ ương 10 – 15con/m 2

– Lượng cho cá ăn:

+ Từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 2: lượng thức ăn tinh 4,5kg/1 vạn cá.

+ Từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 4: lượng thức ăn tinh 9kg/1 vạn cá.

+ Tuần thứ 5 đến tuần thứ 6: lượng thức ăn tinh 15kg/1 vạn cá.

Sau 5 tuần ta tiến hành đùa luyện cá để chuẩn bị xuất bán cá chép giống.

Theo Kiều Minh Khuê, Thong tin KHKT Bắc Giang,

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Nghệ Sản Xuất Bột Cá Chăn Nuôi Quy Mô Nhỏ Từ Hỗn Hợp Nhiều Loại Cá Tạp trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!