Xu Hướng 2/2023 # Công Nghệ Sản Xuất Bột Cá Chăn Nuôi Quy Mô Nhỏ Từ Hỗn Hợp Nhiều Loại Cá Tạp # Top 4 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Công Nghệ Sản Xuất Bột Cá Chăn Nuôi Quy Mô Nhỏ Từ Hỗn Hợp Nhiều Loại Cá Tạp # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Công Nghệ Sản Xuất Bột Cá Chăn Nuôi Quy Mô Nhỏ Từ Hỗn Hợp Nhiều Loại Cá Tạp được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bột cá là thành phần quan trọng không thể thiếu trong thức ăn chăn nuôi gia súc và nuôi thủy sản. Lượng thức ăn cho chăn nuôi gia súc và nuôi thủy sản ở nước ta cần khoảng 300.000 tấn/năm, trong đó bột cá sản xuất công nghiệp chỉ đáp ứng 1/10 nhu cầu, do vậy phải nhập khẩu. Trên thực tế, người nuôi sử dụng bột cá tự chế là chủ yếu, nhưng việc sản xuất và chế biến bột cá tự chế còn nhiều bất lợi, thậm chí gây ô nhiễm môi trường. Ðể khắc phục nhược điểm này, kỹ sư Ðặng Thị Tuyết Loan thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã có công trình nghiên cứu sản xuất bột cá có chất lượng cao theo quy mô nhỏ nhằm tận dụng nguyên liệu cá tạp phân tán, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu bột cá công nghiệp, giảm nhập khẩu. Thông tin KHCN và Kinh tế Thuỷ sản xin giới thiệu tóm tắt công nghệ này.

Nguyên liệu

Nguyên liệu cho sản xuất bột cá là sử dụng các loại cá tạp như: cá đù, cá hồng, cá phèn, cá mối, cá mó, cá dìa, cá trích, cá chỉ vàng, cá bò gai, cá nục. Bảo quản bằng nước đá + muối. Bảo quản bằng hỗn hợp nước đá + muối 5% có thể giữ tươi được 16 ngày, hỗn hợp nước đá + muối 15% có thể giữ tươi được 30 ngày. Không bảo quản bằng hỗn hợp muối quá 15%, vì khi chế biến phải tiến hành nhả muối lâu khiến nguyên liệu bị mất nhiều protein, vitamin… làm giảm chất lượng bột cá. Thiết bị cần thiết cho sản xuất bột cá gồm: thiết bị gia nhiệt nước, năng suất 50kg/mẻ; Máy ép trục vít bằng tay 5kg/mẻ; Máy ly tâm 16 kg/mẻ; Máy đánh tơi 50 kg/mẻ; Máy sấy có thể điều chỉnh từ 60 – 1200C, năng suất 100 kg/mẻ; Máy nghiền sàng 100 kg/giờ.  

Phương pháp sản xuất  

Có hai phương pháp sản xuất là:  

Quy trình công nghệ sản xuất bột cá chăn nuôi quy mô nhỏ từ hỗn hợp nhiều loại cá tạp theo phương pháp ly tâm

Sơ đồ quy trình công nghệ:

Nguyên Bao gói ./.

1. Công nghệ tách nước theo phương pháp ép.

2. Công nghệ tách nước theo phương pháp ly tâm.

Sau khi thử nghiệm và so sánh kết quả giữa 2 công nghệ, nhóm nghiên cứu thấy nên chọn công nghệ ly tâm để sản xuất bột cá chăn nuôi quy mô nhỏ 1-2 tấn nguyên liệu/ngày vì công nghệ đơn giản hơn và hiệu suất cao hơn. Hiệu suất của phương pháp ly tâm cao hơn 3% và chất lượng bột cá cũng cao hơn so với phương pháp ép, đặc biệt là hàm lượng protein có giá trị cao.

Sử dụng 11 loại cá tạp còn tươi, hàm lượng NH3 < 60mg/kg, được bảo quản bằng muối và phải xả muối trong nước sạch đến khi hàm lượng muối trong cá ưư< 1%. Hầu hết nguyên liệu là cá nhỏ (<20cm), để nguyên con; nếu cá to đem cắt nhỏ với chiều dày lát cắt 3 – 5cm. Xử lý sạch tạp chất trước khi cho vào nồi nấu chín. Dùng nồi nấu dung tích 400 l có gắn ròng rọc để điều khiển cần xé cá vào nồi nấu. Sau khi xử lý, cho nguyên liệu vào cần xé, 50kg/mẻ, dùng ròng rọc thả vào nồi nước đang sôi. Tỷ lệ nước nấu/ nguyên liệu = 5/1. Thời gian nấu 2 – 3 phút đến khi có mùi thơm của cá chín. Sử dụng máy ly tâm 200 vòng/phút. Sau khi nấu chín, cho cá vào bao vải bố, đặt vào rô-to của máy ly tâm, tãi đều. Ly tâm 2-3 phút đến khi không còn nước chảy ra từ vòi thoát nước của máy. Dùng máy trộn bã thu được sau khi ly tâm 8-10 phút cho tới khi bã rời ra thành từng mảnh nhỏ. Bã ép lấy ra từ máy trộn tãi ra khay lưới, cho vào tủ sấy 80 – 85 độ C trong 7 – 8 giờ. Trước khi nghiền, nguyên liệu được tách kim loại nhờ nam châm gắn trên máy nghiền tại vị trí nhập nguyên liệu. Trong máy nghiền có gắn lưới đường kính lỗ 3mm. Phần trên lưới có thể bỏ đi vì phần lớn là xương, vẩy… (chiếm không quá 1%). Sản phẩm ra khỏi máy nghiền được làm nguội bằng thông gió tự nhiên đến nhiệt độ không khí bình thường trước khi bao gói. Khi bao gói, sử dụng các loại bao như bao giấy 2 lớp hoặc 2 lớp bao. Khối lượng 20kg bột cá/bao. Sau khi bao gói, bảo quản bột cá ở nơi khô thoáng, có lưới chắn, không chất đống quá cao đề phòng bột cá tự phát nhiệt và hư hỏng.  

Chất lượng bột cá  

Kết quả cho thấy, sản xuất bột cá theo công nghệ trên có định mức nguyên liệu là 4,5/1, nghĩa là cứ sản xuất 100kg nguyên liệu cá thu được 22 kg sản phẩm bột cá và 27 kg dịch ly tâm và sản phẩm có chất lượng khá cao, bột cá tơi, không vón cục, không mốc, có mùi thơm đặc trưng của bột cá, vị ngọt của đạm, có màu vàng nâu nhạt. Trong quá trình sản xuất thử nghiệm, có sử dụng chất chống ôxy hoá BHT với hàm lượng 0,01 và 0,02 so với sản phẩm trộn vào trong công đoạn đánh tơi bã ly tâm. Kết quả cho thấy mức độ ôxy hóa của bột cá trong trường hợp không sử dụng BHT cao hơn trong trường hợp có sử dụng, nhưng vẫn ở dưới mức cho phép. Vì vậy, trong công nghệ sản xuất quy mô nhỏ đã nghiên cứu không cần sử dụng chất chống ôxy hóa. 

Thời gian qua, tổ nghiên cứu đã sản xuất được 2 tấn bột cá chăn nuôi theo quy trình công nghệ trên tại xưởng sản xuất thực nghiệm thức ăn chăn nuôi của Trung tâm Công nghệ và Sinh học Thủy sản, và xưởng sản xuất thức ăn tôm nuôi ở sông Cầu (Phú Yên). 

Sản phẩm bột cá thu được đạt và vượt mức chỉ tiêu đối với bột cá chăn nuôi gia súc loại 1 (TCVN 1644-75), muối <1,2%, ẩm < 10%. Ðã sử dụng số bột cá này sản xuất thức ăn nuôi tôm ở 2 xưởng chế biến nói trên. Giá thành sản phẩm bột cá sản xuất theo quy trình công nghệ này là 6.200 đ/kg, có thể chấp nhận được.

Theo tài liệu của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II

Ứng Dụng Công Nghệ Sinh Học Sản Xuất Bột Gia Vị Dinh Dưỡng Từ Phụ Phẩm Cá Ngừ

Với kim ngạch xuất khẩu đạt trên 400 triệu USD/năm, cá ngừ là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chỉ sau cá tra và tôm.

Ngành chế biến cá ngừ phát triển kéo theo lượng phế phụ phẩm còn lại tương đối lớn. Theo tính toán, mỗi năm có khoảng 100.000 tấn phế phụ phẩm được loại ra từ ngành chế biến cá ngừ, trong đó phần thịt sẫm màu chiếm khoảng 2.000 tấn. Đây được xem là phần có giá trị nhất trong phế phụ phẩm từ cá ngừ.

Mặc dù có giá trị dinh dưỡng cao nhưng phụ phẩm này lại chưa được sử dụng đúng với giá trị, thường làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi hoặc bán ra các chợ đầu mối với giá thành chỉ 4.000 đồng – 5.000 đồng/kg, gây tổn thất sau thu hoạch cho ngành chế biến cá ngừ.

Việc gia tăng giá trị và tận dụng tối đa phụ phẩm để tạo ra các sản phẩm mới ứng dụng công nghệ sinh học để nâng cao giá trị cho ngành chế biến và khai thác cá ngừ là việc làm quan trọng và cấp thiết hiện nay. Xuất phát từ nhận định này, năm 2017, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng do TS. Bùi Xuân Đông làm chủ nhiệm đã thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm ” Sản xuất bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng công nghệ sinh học“. Dự án thuộc Đề án Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực công nghiệp chế biến đến năm 2020 do Bộ Công Thương chủ trì.

Mục tiêu của dự án nhằm hoàn thiện công nghệ, thiết bị để sản xuất và thương mại hóa sản phẩm bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng phương pháp công nghệ sinh học nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong thu hoạch, chế biến cá ngừ tại Việt Nam.

Bộ Công Thương đã tổ chức nghiệm thu kết quả thực hiện dự án

Sau 2 năm nghiên cứu, Báo cáo trước Hội đồng nghiệm thu (Ngày 22/10) TS. Bùi Xuân Đông – Chủ nhiệm dự án cho biết, trong dự án này, nhóm thực hiện chú trọng đến việc sử dụng đa enzyme protease để thủy phân sâu nguyên liệu thịt sẫm màu cá ngừ, từ đó thu dịch đạm thủy phân (FPH- Fish Protein Hydrolysate), sau đó tinh chế và tạo hình sản phẩm bột gia vị cá ngừ. So với phương pháp hóa học, phương pháp sinh học sử dụng enzyme thủy phân có thể kiểm soát các quá trình phản ứng, giảm thiểu các phản ứng không mong muốn, giảm ô nhiễm môi trường do ít sử dụng hóa chất vô cơ.

TS. Bùi Xuân Đông – Chủ nhiệm dự án

Dự án đã hoàn thiện được quy trình công nghệ sản xuất bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ ứng dụng xúc tác sinh học (đa enzyme) tại các phòng thí nghiệm của Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng.

Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào việc xác định điều kiện tối ưu cho quá trình thủy phân protein cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng hỗn hợp enzyme protease. Nhóm nghiên cứu đã xác định điều kiện thích hợp cho quá trình thủy phân protein nguyên liệu là tỷ lệ enzyme/nguyên liệu bằng 2,05%, bổ sung hàm lượng nước 100%, nhiệt độ 50 độC, thủy phân trong thời gian 9,31 giờ.

Sản xuất thử nghiệm bột gia vị cá ngừ ở quy mô phòng thí nghiệm

“Trong quá trình triển khai dự án, chúng tôi đã phối hợp với Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long tổ chức sản xuất thử nghiệm sản phẩm bột gia vị cá ngừ. Từ 24 tấn nguyên liệu cá ngừ, chúng tôi đã sản xuất được trên 35 nghìn gói bột gia vị (trọng lượng 250g/gói) và khoảng 55 nghìn gói bột gia vị ( trọng lượng 500g/gói). Cảm quan sản phẩm có màu vàng đến vàng đậm, mùi thơm đặc trưng, vị mặn, có hậu vị nhẹ, tơi xốp, không vón cục. Sản phẩm được đánh giá chất lượng đảm bảo an toàn thực phẩm tại Trung tâm kiểm định sắc ký Hải Phòng (TP. Hồ Chí Minh). Đặc biệt, bột gia vị cá ngừ do dự án sản xuất có hàm lượng protein 21 – 36,2% cao hơn nhiều so với các sản phẩm bột gia vị pha chế hiện có trên thị trường (18 – 20% protein)”, TS. Bùi Xuân Đông cho biết.

Bột gia vị dinh dưỡng cá ngừ

TS. Bùi Xuân Đông thông tin thêm, nhóm nghiên cứu đã thiết kế 02 loại nhãn mác cho sản phẩm bột gia vị cá ngừ là bao bì PA tráng nhôm và bao bì PET, được Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long (TP. Hải Phòng) công bố phù hợp điều kiện vệ sinh thực phẩm. Trong đó, bao bì PA tráng nhôm được dự án lựa chọn để đóng gói sản phẩm bột gia vị cá ngừ. Loại bao bì này có thể hút chân không, đảm bảo độ kín khi bảo quản sản phẩm, thuận tiện trong quá trình lưu thông và vận chuyển sản phẩm.

Sản phẩm bột gia vị cá ngừ đã tham gia vào chuỗi các sản phẩm giá trị gia tăng của Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long, được quảng bá và tiếp thị tại Hội chợ các sản phẩm biển đảo tại Đại học Hàng hải Hải Phòng, tham gia Triển lãm các sản phẩm khoa học công nghệ – sáng tạo trẻ Hải Phòng. Không dừng lại ở đó, hơn 50.000 sản phẩm bột gia vị cá ngừ của dự án sản xuất cũng đã được phân phối vào hệ thống các kênh phân phối sản phẩm hiện tại của Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long tại nhiều địa phương như Đà Nẵng, Hà Nội và Hải Phòng.

Sản xuất thử nghiệm bột gia vị cá ngừ tại Công ty CP Chế biến Thủy sản Xuất khẩu Hạ Long

Với việc sản xuất thành công bột gia vị dinh dưỡng từ cơ thịt sẫm màu cá ngừ bằng công nghệ sinh học, dự án sản xuất thử nghiệm do Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng đã mở ra hướng đi mới trong trong việc sử dụng phế phụ phẩm trong công nghiệp chế biến cá ngừ, giúp tận dụng tối đa phụ phẩm cá ngừ, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành chế biến và khai thác cá ngừ tại Việt Nam.

Vĩnh Phúc: Thành Công Từ Mô Hình Nuôi Cá Tầm Giữa “Ốc Đảo” – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Phải mất khoảng 30 phút di chuyển từ trung tâm xã Đạo Trù bằng các phương tiện: Ô tô, xe máy; kể cả đi bộ, vượt suối, băng qua đoạn đường rừng đèo dốc, chúng tôi mới tìm đến được khu chăn nuôi cá tầm của gia đình ông Đỗ Đình Tuấn, ở thôn Vĩnh Ninh – nơi được nhiều người biết đến với biệt danh “ốc đảo”. Đây là cơ sở nuôi cá tầm được đầu tư quy mô, bài bản đầu tiên tại xã Đạo Trù với diện tích khoảng 1ha.

Với mô hình nuôi 3.000 con cá tầm, gia đình ông Đỗ Đình Tuấn, ở thôn Vĩnh Ninh, xã Đạo trù (Tam Đảo) cho thu lãi hàng trăm triệu đồng mỗi năm

Nói về cơ duyên đến với nghề nuôi cá tầm, ông Tuấn cho biết: Thôn Vĩnh Ninh vốn nằm biệt lập, ngăn cách với bên ngoài bởi một con suối. Do nằm sâu trong rừng, ở vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo nên khí hậu rất mát mẻ, nhiệt độ của nước suối nằm sâu trong núi rất phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cá tầm. Nhìn rõ lợi thế đó, đầu năm 2009, ông Tuấn đã mạnh dạn đầu tư xây dựng bể nuôi cá tầm với đủ các kích thước, nhập 3.000 con cá tầm giống tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Trung ương I với giá 30 nghìn đồng/con để tiến hành nuôi thử nghiệm. Đến nay, khu vực nuôi cá tầm của gia đình ông Tuấn đang có 5 bể nuôi với tổng số 3.000 con cá tầm trong khoảng trọng lượng từ 2 – 2,5kg/con.

Tham quan khu vực nuôi cá tầm của ông Tuấn, theo quan sát, những ao nuôi được thiết kế dạng bậc thang để tận dụng dòng chảy tự nhiên được lấy từ suối Dây Cáp nhằm tạo nhiều ô xy cho cá. Nói về những điều cần chú ý khi nuôi cá tầm, ông Tuấn cho biết: Cá tầm là loài cá ưa nước lạnh nên người nuôi phải đặc biệt chú ý nhiệt độ của nước để đảm bảo cá sinh trưởng, phát triển tốt.

Thức ăn của cá tầm là cám công nghiệp dạng viên chìm, có độ đạm và chất béo cao hơn nhiều so với các loại thức ăn của các loại cá thông thường nên khi cho cá tầm ăn, người nuôi cần phải chú ý liều lượng để đảm bảo cung cấp đủ dưỡng chất cho cá. Đồng thời cần thường xuyên chú trọng dọn bể, rửa sạch rong rêu, dọn dẹp thủy sinh bám dưới lòng bể, thức ăn còn sót lại để phòng bệnh cho cá.

Để có được thành công như ngày hôm nay, ông Tuấn cũng từng trải qua nhiều thất bại khi mới bắt tay vào nghề, ông kể: Do chưa hiểu biết về giống cá ưa nước lạnh cũng như các biện pháp phòng trị bệnh cho cá nên lứa cá đầu tiên nhập về bị thiệt hại lớn, cá chết khoảng 1/3 đàn, khiến gia đình ông lao đao. Thế nhưng, bằng lòng yêu nghề và ý chí ham học hỏi, ông Tuấn lại vực dậy để tiếp tục đam mê chinh phục loài cá đặc biệt này.

Thành công đến với ông sau những chuỗi ngày miệt mài học tập, những lứa cá dần ổn định, sinh trưởng phát triển tốt sau 1,5 – 2 năm đã có thể xuất bán với trọng lượng 2,5 – 3kg/con. Hiện, cá tầm của gia đình ông Tuấn đang xuất bán cho các nhà hàng ở thị trấn Tam Đảo, ngoài ra phục vụ cả khách đến tham quan, có nhu cầu mua lẻ với giá bán 250 nghìn đồng/kg. Mỗi năm, trừ chi phí, gia đình ông thu lãi vài trăm triệu đồng.

Có thể nói, mô hình nuôi cá tầm gia đình ông Tuấn đang từng bước khẳng định chất lượng trên thị trường. Để phát triển hơn nữa về số lượng cá, cũng như quy mô nuôi trồng, thời gian tới, ông Tuấn dự định tiếp tục sửa chữa, xây mới lại các bể nuôi cá tầm; mở rộng thị trường tiêu thụ, không chỉ xuất bán cho các nhà hàng tại khu vực thị trấn Tam Đảo mà còn mở rộng ra toàn tỉnh. Từ đó, giúp gia đình ông ngày càng có thu nhập ổn định, tạo nhiều việc làm cho lao động địa phương.

Ngọc Lan

Theo Báo Vĩnh Phúc

Quảng Ngãi: Triển Vọng Từ Mô Hình Nuôi Cá Tầm – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Đầu năm 2015, chúng tôi có dịp lên thăm mô hình nuôi cá tầm của Trạm Khuyến nông Sơn Tây triển khai thí điểm tại Tập đoàn 10, xã Sơn Bua. Đón chúng tôi tại khu hồ nuôi trồng thử nghiệm, anh Ngô Hữu Phong, cán bộ kỹ thuật phụ trách mô hình nuôi cá tầm cho biết: Năm mới được nhà báo và lãnh đạo huyện tham quan, chắc mô hình này gặp nhiều thuận lợi… Nói rồi, anh Phong đưa chúng tôi ra tham quan khu hồ nuôi cá tầm. Khác với các mô hình nuôi thủy sản truyền thống, mô hình được xây dựng khá quy củ gồm 2 hồ cá được lót bạt chống thấm, trung bình mỗi hồ rộng 100 m2.

Khu hồ nuôi thử nghiệm cá tầm dưới chân núi Nước Tua.

Trong khu hồ nuôi, thả 500 con cá tầm giống, trọng lượng từ 50 – 70 g/con, do Công ty liên doanh Việt-Nga có trụ sở tại TP. Hồ Chí Minh cung cấp. Sau hơn 3 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng trung bình 700 g/con. Cá biệt có con nặng tới 1 kg. “Với tốc độ tăng trưởng đều như hiện nay, dự tính sau 8 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng trên dưới 3 kg sẽ xuất bán. Theo giá thị trường hiện nay từ 280.000 – 350.000 đồng/kg. Điều này mở ra triển vọng về một giống vật nuôi mới có giá trị kinh tế cao, góp phần thúc đẩy phát triển KT – XH của huyện”, anh Phong cho biết.

Thấy cá tầm sinh trưởng nhanh, Bí thư Huyện ủy Sơn Tây Đinh Kà Để phấn khởi, nói: Khí hậu, nguồn nước ở vùng núi Nước Tua này tương đồng với nguồn nước, khí hậu vùng núi huyện KonPlong (Kon Tum) nơi nuôi loại cá tầm này sinh trưởng rất tốt, cho hiệu quả kinh tế cao. Từ thực tế này, huyện chỉ đạo Trạm Khuyến nông khảo sát và thấy khu vực núi Nước Tua này là phù hợp nên huyện đồng ý cho trạm xây dựng thí điểm 2 hồ nuôi cá tầm theo đúng yêu cầu về kỹ thuật và thả nuôi cá. Đến nay, mô hình này đã thành công bước đầu…

Anh Phong cho biết thêm, cá tầm là giống cá xứ lạnh, nhiệt độ nước thích hợp nhất từ 18 – 23 độ C. Khu vực huyện chọn nuôi cá tầm nhiệt độ nước cao nhất vào mùa hè cũng không quá 28 độ C. Với điều kiện khí hậu như thế bảo đảm cá tầm sinh trưởng và phát triển tốt. Việc nuôi thủy sản mới này cũng khá vất vả, đặc biệt là đối với loài cá tầm đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật rất cao, phải cho cá ăn đúng giờ, hằng ngày đo nhiệt độ nước, độ pH.

Hằng tháng phải cân tính tăng trọng và phân loại cá theo trọng lượng để chăm sóc riêng. Khó khăn, vất vả là vậy, nhưng anh em ở trạm nỗ lực tìm tòi, học hỏi trong sách báo, tham quan các mô hình nuôi cá tầm ở nhiều nơi để có thêm kinh nghiệm cũng như kỹ thuật nuôi cá. Những hôm trời lạnh, anh em phải lội xuống hồ theo dõi xem cá có bị chấm đỏ không, nếu bị thì cách ly, chữa trị, tránh lây lan sang con khác… Qua hơn hai tháng nuôi thử nghiệm, cá sinh trưởng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu, môi trường vùng núi Sơn Bua. Điều này cho thấy việc nuôi cá tầm trên vùng núi Sơn Bua rất có triển vọng.

Theo Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây Lê Văn Tùng, cá tầm được nuôi ở nhiều nơi trong cả nước, nhưng với huyện Sơn Tây thì đây là mô hình đầu tiên được nuôi tại xã Sơn Bua. Từ những tín hiệu bước đầu của mô hình đã mở ra triển vọng mới cho nuôi trồng thủy sản ở Sơn Tây. Sắp tới, huyện mở rộng thêm 2 hồ nữa để có hồ ươm cá, hồ vỗ béo,… Nếu mô hình này được nhân rộng và phát triển sẽ cung cấp một lượng lớn cá tầm sạch mang thương hiệu Sơn Bua cho thị trường trong và ngoài huyện. “Quan điểm của huyện là xây dựng mô hình nuôi cá tầm theo hướng sản xuất hàng hóa chất lượng cao. Mô hình thành công, huyện sẽ mở rộng quy mô bằng việc phối hợp với các công ty để thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm”,  ông Tùng khẳng định.

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Nghệ Sản Xuất Bột Cá Chăn Nuôi Quy Mô Nhỏ Từ Hỗn Hợp Nhiều Loại Cá Tạp trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!