Xu Hướng 2/2023 # Cách Nuôi Con Của Cá Dĩa – Men Vi Sinh Cho Cá # Top 11 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Cách Nuôi Con Của Cá Dĩa – Men Vi Sinh Cho Cá # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Cách Nuôi Con Của Cá Dĩa – Men Vi Sinh Cho Cá được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cá dĩa có tên khoa học là Symphysodon (Thuộc họ Cichlidae) bao gồm 2 hoặc 3 loài sinh sống ở các lưu vực trũng ngập nước ở Amazon. Symphysodon spp. là loài cá có hoa văn đẹp được ưa thích và rất có giá trị bởi màu sắc tươi sáng với hình dáng giống những chiếc dĩa. Cá dĩa được buôn bán và xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới có nguồn gốc từ Amazon, Brazil. Có rất ít dữ liệu về mặt sinh thái và lịch sử phát triển của cá dĩa hoang dã mặc dù loài này được thương mại hóa rất nhiều cho lĩnh vực thủy sinh và cá cảnh.

          Cá dĩa được phát hiện bởi nhà ngư học Johann J. Heckel vào năm 1840, nhưng đến năm 1933 cá dĩa mới lần đầu tiên được các nhà thủy sinh đưa ra giới thiệu rộng rãi. Trong đó, các nhà nghiên cứu thủy sinh, nghiên cứu về cá dĩa như Lindaman (1953), Gordon (1957), Skipper (1956 và 1957), Wolfsheimer (1957) và Hildemann (1959).

          Gustave Armbruster ở Philadelphia là người đầu tiên nuôi thành công cá dĩa Symphysodon discus vào mùa xuân năm 1935. Trứng của cá dĩa bám lên thành bể và bề mặt của phiến đá trong hồ thủy sinh lớn với nhiệt độ nước duy trì ở 85oF, pH 6.8. Sau đó, các trứng này được chuyển sang bể khác có chứa nước với cùng nhiệt độ, pH và có sục khí. Trứng bắt đầu nở sau 2 ngày và chất dinh dưỡng (Yolk Sac) của cá bột được hấp thu hoàn toàn sau 3 ngày. Các cá bột này được cho ăn một loại ấu trùng của ốc biển có tên là Hydatina. Một nửa số cá bột bị chết và nửa còn lại phát triển rất chậm sau tuần đầu tiên. Sau khi cá bột được 2 tuần tuổi, chúng được cho ăn một loại rận nước có tên là Daphnia, từ đây tốc độ tăng trưởng của cá bột mới bắt đầu nhanh hơn.

          Vào năm 1949, W. T. Dodd ở Portland, Oregon, đã đăng trên Oregon Aquarium Society một nhan đề “Cá dĩa bột neo bên hông bố mẹ và xem hông bố mẹ là vùng nuôi dưỡng chúng”. Thật vậy, việc để cá bột mới nở ở cùng cá bố mẹ hoặc được nuôi bởi 1 cặp cá bộ mẹ khác là điều tốt nhất. Điều này làm tăng tỉ lệ sống của cá bột trước khi đủ khả năng tách khỏi bố mẹ.

          Những năm sau đó, các chuyên gia về thủy sinh đáng chú ý như Gene Wolfsheimer, Carrol Friswold và Roy Skipper ở Anh Quốc, cũng không thể nuôi cá bột bằng bất kỳ loại thức ăn tươi sống nào. Và các nỗ lực tạo ra các loại thức ăn tinh khiết, hoặc thức ăn hỗn hợp gồm tảo, các loài phiêu sinh vật, các loài sinh vật ăn qua lọc,…cũng có chung kết quả là các cá bột đều chết vì đói. Như vậy, việc cho ăn quá sớm các loại thức ăn và tách quá sớm cá bột khỏi bố mẹ khi chưa đến giai đoạn ăn được trùng thì tỉ lệ hao hụt hoặc chết hoàn toàn là chắn chắn xảy ra.

Cách Nuôi Con Của Cá Bố Mẹ

          Cả hai cá bố mẹ sẽ thay phiên nhau bảo vệ, thổi khí và dùng miệng gắp những trứng cá bột rớt khỏi chỗ bám dính. Cá bố mẹ sẽ gắp những cá bột mới nở bằng miệng của chúng và chuyển chúng sang những bề mặt bám dính khác nhau nơi có thể duy trì khả năng bám dính của chúng. Cá bột sẽ có thể bơi tự do sau 4 ngày nở và bơi theo bên hông bố mẹ một cách linh hoạt và bắt đầu “ăn” các chất dinh dưỡng tiết ra từ da của cá bố mẹ. Mặc dù cả bố và mẹ đều có thể nuôi cá bột, nhưng chúng vẫn cần phải có thời gian nghỉ ngơi. Vì vậy, khi cảm thấy mệt, cá bố hoặc mẹ đang có cá bột bám sẽ búng nhẹ thân mình để chuyển đàn cá bột sang cá bố hoặc mẹ còn lại. Ngoài ra, khi cá bột đã mút hết chất dinh dưỡng trên cá bố hoặc mẹ, chúng sẽ tự bơi theo cá bố hoặc mẹ còn lại. Sau một tuần hoặc hơn tùy vào thể trạng của đàn cá, chúng sẽ bắt đầu ăn các loại thức ăn khác như artemia ấp nở hoặc ấu trùng bọ chân trèo. Ngoài các thức ăn trên, cá bột vẫn sẽ tiếp tục ăn dinh dưỡng trên da của cá bố mẹ sau ít nhất 5 tuần (mặc dù hiện nay, nhiều người nuôi đã tách riêng cá bột khỏi cá bố mẹ sau khi chúng bắt đầu có thể ăn được thức ăn khác, nhưng nuôi chung cá bố mẹ vẫn là cách ưu việt nhất). Điều kiện nước nuôi cá dĩa phù hợp nhất mà các chuyên gia đã nghiên cứu được liệt kê trong bảng dưới.

Chuyên Gia Thủy Sinh Nhiệt Độ pH Độ Cứng (CaCO3)

Armbruster 29oF 6.8 Không Kiểm Soát

Dale 27.5oC 7.1 142 ppm

Matson 27oC 7.4 356 ppm

Saphian 27oC 6.8 50 ppm

Skipper 24oC – 29oC 6.2 – 6.6 65 ppm

Wolfsheimer 26oC 6.9 68 ppm

Hình: Cá dĩa bột thuộc loài Symphysodon discus đang neo trên da để “ăn” dinh dưỡng từ cá bố mẹ – Ảnh của chuyên gia G. Wolfsheimer

Vậy câu hỏi “thức ăn quan trọng đầu tiên của cá dĩa bột là gì?” thì qua bài viết, mọi người ắt hẳn đã có câu trả lời rồi. Wolfsheimer (1957) từng khuyến nghị rằng lớp nhờn mỏng bao bọc và bảo vệ cá dĩa bố mẹ chính là nguồn thức ăn duy nhất và đầu đời của cá bột. R. Skipper (1956) từng đưa ra giả thuyết rằng cá bột đã ăn những vi sinh vật đặc biệt sống hội sinh trên da của cá bố mẹ. Để biết thực sự trên da của cá bố mẹ có những gì, Hildemann đã gợi ý kiểm tra da của cá bố mẹ mới nuôi bột và cá trưởng thành dưới kính hiển vi, sau khi chúng được gây mê bằng Tricaine Methanesulfonate.

Tổng Hợp: Ths. Tô Đình Phúc

Trần Duy Thọ

Nguyễn Thị Trúc Phương

admin

See all author post

Cách Nuôi Cá Dĩa Trong Hồ Thủy Sinh

Tại sao cá đĩa lại có vẻ đẹp kì diệu như vậy? Có lẽ bởi vì chúng là loài cá có tiếng khó nuôi và chỉ thích hợp với những người nuôi cá kinh nghiệm nhất hay vì dáng vẻ vương giả của chúng. Xét cho cùng, chúng thường được mô tả như “Vua các loài cá cảnh”. Bất cứ ai đã từng chiêm ngưỡng một cặp cá dĩa tuyệt đẹp sinh sản đều phải công nhận đấy là một kì quan không thể bỏ lỡ. Nếu bạn từng xem một số sách về cá đĩa, bạn sẽ nhận thấy rằng ít loài cá nào tạo ấn tượng mạnh như cá dĩa, và một bầy cá dĩa tung tăng trong bể kính tạo nên một cảnh tượng đẹp như thần thoại.

Nhưng nuôi cá dĩa trong bể thủy sinh có đơn giản như bỏ một thanh Hershey vào một lọ bơ đậu phộng Skippy không? Nếu bạn nói “Không hẳn”, thì bạn đúng đấy. Nhưng nó không khó như bạn tưởng đâu. Chúng tôi đã bảo dưỡng những hồ cá dĩa có trồng cây một cách thành công trong vòng 15 năm nay. Bài viết này dựa vào kinh nghiệm của chúng tôi, hi vọng sẽ trang bị kiến thức và sự tự tin cần thiết để bạn có thể sáng tạo một hồ thủy sinh phù hợp với cá dĩa ngoạn mục cho riêng mình.

Lợi và hại khi nuôi cá dĩa trong hồ thủy sinh

Có nhiều ưu điểm khi nuôi cá dĩa cùng cây thủy sinh. Điều hiển nhiên là vẻ đẹp tuyệt đối của sự kết hợp này. Cá dĩa có khuynh hướng di chuyển nhẹ nhàng duyên dáng và trông thật hoàn hảo giữa những khóm rong đu đưa theo dòng nước. Màu sắc của chúng, đặc biệt là lam kim biền thể (nguyên văn metallic turquoise variants), cực kì hợp với màu xanh và đỏ tự nhiên của cây. Và đặc biệt quan trọng với chúng tôi, những nhà thủy sinh thâm niên, cá dĩa lớn và dễ thấy từ ghế sofa hơn những con tetra (không biết con gì) trong bể trưng bày !

Thêm một lưu ý quan trọng, cây thủy sinh được biết như bộ lọc hóa học, loại bỏ chất độc trong nước. Điều này rất quan trọng cho bể cá dĩa. Cá dĩa rất nhạy cảm với chất lượng nước và chúng đòi hỏi người nuôi cá duy trì nước ở chất lượng cao. Một loạt cây khỏe mạnh sẽ tạo ra một môi trường hoàn toàn trong sạch, ngăn chặn những bệnh tật thông thường như “hole-in-the-head” (không biết bệnh gì).

Cây thủy sinh cũng cho cá dĩa chỗ trú tự nhiên. cá dĩa có khuynh hướng nhút nhát và khó chịu với những tác động bên ngoài hồ. Cây thủy sinh được ưa thích để trang trí bể cá dĩa hơn vì cá dĩa dễ dàng bị thương vì những mảng gỗ hay đá sắc nhọn. Trang bị một môi trường thoải mái cũng làm cá dĩa của bạn khỏe hơn.

Cây lá rộng tạo chỗ đẻ tuyệt vời cho cá dĩa cặp. Trong khi hầu hết các nhà gây giống cá dĩa chọn giá thể hình nón hay đá phiến, cá dĩa của chúng tôi thường đẻ trên lá Anubis hay Echinodorus. Lá cây thủy sinh tạo chỗ đẻ tốt cho bể chung trong lúc những lá cây thủy sinh khác bảo vệ chỗ đẻ khỏi những hàng xóm tọc mạch hay những người nuôi cá ồn ào.

Có vài điều hại bạn nên xem xét khi bạn quyết tâm nuôi cá dĩa. Chúng là cá nhiệt đới nuôi trong nước có nhiệt độ hơn 26,67 độ C. Cụ thể chúng tôi nuôi chúng ở 27,78 độ C. Nhiệt độ cao sẽ giới hạn sự phát triển bình thường một số cây thủy sinh ở một chừng mực nào đó. Chúng tôi sẽ bàn chi tiết vấn đề này sau.

Tất cả sách về cá dĩa khuyên rằng nuôi cá dĩa thật tốt để đat kích cỡ tối đa là điều kiện tốt nhất để gây giống. Nhiều nhà gây giống cho cá ăn 4,5 lần mỗi ngày với thức ăn giàu protein như nỗn hợp tim bò. Cá dĩa mất một khoảng thời gian để ăn, sau đó thức ăn thừa được hút ra để bảo đảm chất lượng nước. Thay nước từng phần được thực hiện thường xuyên để giữ lượng nitrates thấp. Bất cứ ai trồng cây thủy sinh thấy rằng việc dọn dẹp thức ăn thừa và thay nước nhiều rất khó khăn.

Với hồ cá dĩa và cây thủy sinh, một sự sắp xếp phải phù hợp. Chúng tôi cho ăn thức ăn chất lượng mỗi ngày một lần, và thay nhiều nước cách tuần một lần. Điều này giữ nitrate khá thấp(ít hơn mg/l) nhưng không cho phép cá lớn hết mức có thể. Cá của chúng tôi có đường kính lớn từ 7 – 8 inches( 17,78 – 20,32 cm) thay vì 10 – 12 inches (25,4 – 30,48 cm)( chúa ơi, đây là cá mâm chứ cá dĩa gì) như chúng tôi thấy trong những hồ gây giống cá dĩa. Kích thước nhỏ hơn có vẻ cùng tỉ lệ với những hồ 100 gallon (380l) chúng tôi xài, thế nên chúng tôi không coi đó là vấn đề. Cũng vậy, ngay cả khi chúng tôi không định gây giống chúng, chúng sinh sản thường xuyên nên có vẻ sự giảm khẩu phần ăn không kìm hãm sự phát dục của chúng.

Sau chót, một hồ cá dĩa và cây thủy sinh nên được xếp đặt với những cây không đòi hỏi cắt tỉa thường xuyên. Vài loại cá dĩa rất nhút nhát và dễ hoảng sợ, nên bạn càng “đào bới” hồ ít, chúng trông càng đẹp. Ngay cả con cá dĩa bình thảng nhất đôi khi cũng “bốc đồng” và quẫy nước quanh hồ, có thể bị thương do gỗ trôi hay vậy dụng trong hồ.

Theo_Sinh Vật Cảnh

Có Nên Sử Dụng Thuốc Làm Trong Nước Hồ Cá Bằng Men Vi Sinh?

Đôi khi bể cá thuỷ sinh của bạn liên tục bị vẩn đục. Bạn không biết phải làm sao để xử lý tình trạng này. Bài viết sau đây sẽ chỉ ra cho bạn lý do vì sao nước bể cá lại bị đục và giải pháp khắc phục bằng cách sử dụng thuốc làm trong nước hồ cá bằng men vi sinh.

Vì sao bể cá thuỷ sinh bị đục?

Nguyên nhân khiến bể thuỷ sinh vẩn đục có rất nhiều nhưng phần lớn bắt nguồn do cách chăm sóc của người nuôi, phần còn lại do cá gây ra. Theo tìm hiểu của chúng tôi, những nguyên nhân chính thường gặp khiến bể cá bị vẩn đục là:

Nguồn nước nuôi cá kém chất lượng nhưng không được lắp đặt hệ thống lọc nước

Bạn cho cá ăn quá nhiều dẫn đến lượng thức ăn thừa quá nhiều

Bạn sử dụng bể mới nhưng chưa xử lý đúng cách

Lượng cặn bã do cá thải ra quá nhiều. Có thể do mật độ cá nuôi trong bể quá lớn hoặc hệ thống lọc không đáp ứng được. Đặc biệt anh em nuôi cá thủy sinh bơi theo đàn thì mật độ cá trong bể là rất lớn nước trong hồ dễ bị bẩn khiến cho cá bị chết.

Cá bị bệnh và phai màu ra nước

Các loại rêu, tảo và nấm độc hại phát triển mạnh trong nước. Lâu dần bám cặn vào kính hoặc lơ lửng trong nước.

Men vi sinh làm trong nước hồ cá

Men vi sinh hay còn gọi là Probiotic, là những vi khuẩn có lợi cho hệ tiêu hoá của các loài động vật, kể cả con người. Trong hệ tiêu hoá của chúng ta cũng có chứa các loại vi snh này để tạo hệ sinh thái và cân bằng đường ruột, tham gia vào giai đoạn cuối cùng của qua trình tiêu hoá thức ăn.

Các vi sinh này lên men thức ăn, tạo ra axit lactic và ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn gây hại, tránh tình trạng nhiễm trùng. Vi sinh khác với enzim trong tự nhiên, enzim có nhiệm vụ chia nhỏ thức ăn chứ không chuyển hoá và lên men.

Tác dụng của men vi sinh

Men vi sinh được xem là một loại thuốc làm trong nước hồ cá vì nó có tác dụng phân huỷ cặn bã do cá thải ra cùng thức ăn dư thừa, các chất rắn lơ lửng, gia tăng hàm lượng oxy trong bể thuỷ sinh.

Men vi sinh giúp bể cá không bị rêu tảo bám vào và rất có hiệu quả đối với bể thuỷ sinh không nuôi cá dọn bể. Lý do là bởi một số loài cá cảnh không thể nuôi chung với cá lau kính nên bể cá thường xuyên xuất hiện rêu xanh, nấm mốc. Tuỳ theo mức độ nhiều hay ít mà chúng ta không cảm nhận được bằng mắt thường. Tuy nhiên, khi cọ tay vào sẽ thấy nhớt và men vi sinh sẽ giúp bạn làm sạch.

Không những thế, men vi sinh còn thúc đẩy sự phát triển của các loại vi khuẩn có lợi và tiêu huỷ vi khuẩn có hại

Bảo vệ và ngăn ngừa một vài căn bệnh thường gặp ở cá cảnh do vệ sinh kém gây ra

Khi đã sử dụng men vi sinh làm trong nước hồ cá thì bạn không nên dùng chung với các dung dịch khử trùng khác, các chất kháng sinh vì sẽ làm mất tác dụng của vi sinh.

Nên bổ sung men vi sinh cho bể cá cảnh mỗi tuần 1 lần cho tới khi bể cá của bạn đã có chất lượng nước đảm bảo thì dừng lại.

Lưu ý khi sử dụng thuốc làm trong nước hồ cá bằng vi sinh

Trong quá trình sử dụng men vi sinh làm trong và nâng cao chất lượng nước cho bể cá, bạn cũng nên lưu ý những yếu tố sau đây:

Môi trường sống của vi sinh có lợi

Để đảm bảo vi sinh có lợi phát triển tốt và ổn định thì bạn nên tạo môi trường sống phù hợp cho chúng bằng cách áp dụng biện pháp lọc tràn hoặc bố trí các vật liệu lọc trong bể. Một vài vật liệu lọc đơn giản có thể kể ra như đá nham thạch, sứ viên, san hô,…bổ sung thêm muối biển và nước và kết hợp sục khí oxy để vi sinh phát triển tốt nhất.

Bể cá mới cần tạo hệ vi sinh có lợi cho cá

Bể cá thuỷ sinh mới thường chưa có hệ sinh thái cân bằng, hàm lượng amonia gây độc cho cá thường ở mức cao. Nhất là vào khoảng ngày thứ 10 đến 17 sau khi thả cá, giảm dần sau 1 tháng mới đạt trạng thái ổn định và không còn độc.

Lý do là bởi bể cá mới chưa có hệ vi sinh, chỉ sau khi cá được thả vào hồ đủ lâu mới bắt đầu thiết lập những nền tảng đầu tiên. Cũng vì thế mà cá cảnh rất dễ chết trong khoảng thời gian 2 tuần đầu tiên sau khi thả vào bể. Nước trong bể mặc dù được lọc kỹ càng nhưng vẫn có màu trắng đục, đây còn được gọi là “hội trứng hồ mới”.

Nói chung, vi sinh rất cần thiết cho bể cá thuỷ sinh để nâng cao chất lượng nước, giúp nước trong hơn và loại bỏ các loại rêu tảo có hại. Các vi sinh có lợi này sống tốt ở nhiều nguồn nước khác nhau, kể cả nước mặn.

Giới Thiệu Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Sấu Cho Bà Con Chăn Nuôi

1. Hình thái cấu tạo bên ngoài Cá sấu có tên khoa học (Crocodilia) thuộc bộ bò sát ở nước. Đa số các loài có chiều dài từ 2-5m, có con tới 6m (những con đực già). Cơ thể cá sấu có hình thuôn dài, đầu dẹt bằng, mõm dài; răng hình nón cong vào phía trong; đuôi rất khoẻ, dẹt bên hình bơi chèo; chân to ngắn, có màng bơi giữa các ngón, đầu các ngón chân có móng sừng giúp cho con vật không bị trơn trượt khi di chuyển trên cạn. Mắt nằm ở vị trí rất cao trên đỉnh mõm, lỗ mũi và lỗ tai có van chắn nước thuận tiện cho việc bơi lội dưới nước. Lưỡi dày bất động. Toàn thân được bao bọc bởi một lớp da dày. Dưới tấm da lưng có các bản da dày tạo thành vỏ giáp, phần trên lưng và đuôi có các vảy sừng nhô cao.2. Nhiệt độ cơ thể Cá sấu cũng giống như nhiều loài bò sát khác, nhiệt độ cơ thể phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, vì thế chúng được xếp vào nhóm động vật máu lạnh. Nhiệt độ môi trường thích hợp cho cá sấu từ 28-32°C. Khi muốn cho thân nhiệt tăng chúng thường nằm phơi mình dưới ánh nắng mặt trời, lúc đó da trên toàn thân hấp thụ năng lượng từ ánh nắng mặt trời, kết hợp với bên trong cơ thể, tim đập nhanh và mạnh để đưa lượng máu tiếp xúc với toàn bộ bề mặt da nhằm tăng khả năng hấp thu nhiệt cho cơ thể giúp cho quá trình tiêu hoá thức ăn được tốt hơn. Ngược lại, khi nhiệt độ môi trường tăng quá cao, cá sấu thường nằm ẩn mình dưới các bóng râm hoặc ngâm mình trong nước mát để giảm thân nhiệt (Grigg và Alclip 1976). Cá sấu không có tuyến mồ hôi nên không thể chịu được môi trường có nhiệt độ quá nóng, vì thế trong khu chăn nuôi trên phần sân chơi nhất thiết phải trồng nhiều cây tạo bóng mát trong mùa nóng; dưới ao phải luôn luôn có đủ nước để tạo môi trường mát cho cá ngâm mình. Ngược lại trong thời gian mùa đông khi nhiệt độ môi trường dưới 20°C cá sấu thường ít hoạt động, kém ăn mồi vì ở mức nhiệt độ này các men tiêu hoá trong cơ thể không hoạt động. Nếu nhiệt độ môi trường ở mức dưới 15,6°C cá sấu sẽ bỏ ăn hoàn toàn, dưới 7,2°C chúng rơi vào tình trạng hôn mê, mất thăng bằng, không có khả năng di chuyển bình thường dẫn đến chết chìm trong nước. Vì thế khi nuôi cá sấu ở các địa phương có mùa đông lạnh nhất thiết phải bố trí chống rét cho chúng bằng cách che kín gió kết hợp các biện pháp tăng nhiệt hoặc bố trí hầm trú đông.

3. Cơ quan hô hấp và tuần hoàn Cá sấu thở bàng phổi, cơ thể có hai lá phổi lớn cấu tạo khá hoàn chỉnh. Để thích nghi với điều kiện sống ở tầng mặt nước hai lỗ mũi nằm ở đỉnh hàm trên của mõm, đảm bảo cho cá sấu chỉ cần đưa đầu mũi lên khỏi mặt nước đã có thể hít thở không khí bình thường. Hai lỗ mũi thông với hốc mũi nằm sâu trong họng, cuối hốc mũi có một van chắn nước có thể tự nâng lên hoặc hạ xuống, hệ thống này tách rời xoang miệng với thanh quản giúp cho cá sấu có thể bắt mồi ngay dưới nước mà nước vẫn không vào xoang khí quản. Tim cá sấu đã có vách ngăn đầy đủ như ở động vật có vú. Nhờ có vách ngăn này máu tĩnh mạch nửa phải và máu động mạch nửa trái tâm thất được tách rời nhau, không bị pha trộn. Những lúc bị rượt đuổi hoặc cần lẩn tránh kẻ thù cá sấu thường lặn sâu dưới đáy nước, lúc này chúng có khả năng ngừng thở khoảng từ 30 đến 50 phút, đó là do có sự hỗ trợ của hệ thống tuần hoàn đã sử dụng triệt để lượng ôxygen trong máu để duy trì sự sống. Nhưng nếu vì một lí do nào đó cá sấu bị mắc kẹt dưới nước quá lâu chúng cũng sẽ bị chết ngạt.4. Dinh dưỡng và sinh trưởng Thức ăn của cá sấu là động vật, chúng không có khả năng tiêu hoá những thức ăn có nguồn gốc từ thực vật. Hệ thống tiêu hoá có cấu tạo rất phù hợp với việc săn bắt mồi trong tự nhiên. Hàm khoẻ, có lực khép vào rất mạnh (400kg/cm2) thích hợp cho việc bắt và giữ mồi (Toby, 1996). Trên mồi hàm có từ 32-34 răng gắn sâu vào xương hàm và có dạng hình nón hơi bẻ cong vào phía trong. Khi bị gãy, răng mới sẽ được tái sinh sau thời gian ngắn (từ 7-10 ngày). Tuy hàm cá sấu không nhai được nhưng do có nhiều răng sắc nhọn giúp chúng có thể giữ, cắt con mồi thành những mẩu nhỏ và nuốt. Khi gặp những cỡ mồi lớn chúng có phản xạ lắc mạnh đầu hoặc xoắn cơ thể làm cho miếng mồi tự đứt để dễ nuốt. Đôi khi gặp phải những mồi quá lớn chúng đành phải cùng nhau chia sẻ. Dạ dày đã phân hoá có vách cơ dày, khoẻ, kết hợp với hệ thống men tiêu hoá tốt nên quá trình tiêu hoá diễn ra khá nhanh so với những loài bò sát khác (khoảng 72 giờ. Theo Pooley và Gans 1976). Trong tự nhiên thức ăn của chúng gồm rất nhiều loại từ côn trùng, ếch nhái, chim, cá, thú nhỏ, thậm chí cả những con thú lớn. Chúng ăn cả những động vật sống và động vật đã chết. Khi nuôi nhốt người ta tận dụng tất cả những loại sản phẩm thừa làm thức ăn cho chúng như: tôm cá chết, gia cầm và các loại động vật thải loại của các trại chăn nuôi, phụ phẩm của các lò mổ, v.v. Khả năng ăn mồi của chúng rất lớn, từ 5-25% khối lượng cơ thể/tuần lễ. Ngược lại, trong những trường hợp do khan hiếm thức ăn hoặc trong mùa lạnh, cá sấu có khả năng nhịn đói từ 1-3 tháng. Trong thời gian này cá sấu ngừng sinh trưởng, nếu để tình trạng này kéo dài chúng sẽ bị gầy yếu và giảm khả năng vị giác đối với thức ăn. Mức độ sinh trưởng của cá sấu chậm so với nhiều loài động vật khác và phụ thuộc rất nhiều vào thức ăn. Những cá sấu sống hoang dã trong tự nhiên do thường xuyên thiếu thức ăn nên tốc độ sinh trưởng rất chậm và thành thục sinh dục muộn. Khi nuôi nhốt trong các trang trại do được con người cung cấp đầy đủ thức ăn, chúng sinh trưởng nhanh và sớm có khả năng tham gia sinh sản (tăng trưởng trung bình đạt 15-20 cm, 8-12 kg/con/năm).5. Các cơ quan cảm giác, khứu giác, thính giác Qua mổ giải phẫu người ta đã xác định được não cá sấu tuy có kích thước nhỏ giống như não của nhiều loài bò sát khác, nhưng phát triển đầy đủ hơn vì thế chúng có nhiều khả năng nhận biết về mùi vị, âm thanh cũng như thính giác rất tốt. Cuối cuống họng của cá sấu có 2 tuyến xạ hương cùng với 2 tuyến khác ở phía trong lỗ huyệt. Khi trưởng thành, đến mùa sinh sản các tuyến này thường hoạt động rất mạnh, nhờ nó mà cá đực và cá cái có thể nhận biết nhau dễ dàng để tìm bạn tình. Hai lỗ tai nhỏ ở ngay sau hai bên mắt và được bảo vệ bằng một nắp che nước, khả năng nghe âm thanh của chúng rất tốt thông qua các biểu hiện như: nhận biết được hiệu lệnh khi cho ăn, biết được tiếng kêu tìm bạn tình của những con trưởng thành ở mùa sinh sản; cá sấu bố mẹ nghe được tiếng kêu của cá sấu con khi sắp nở để kịp thời đến hỗ trợ, hoặc tiếng kêu cứu của đồng loại khi bị kẻ thù tấn công v.v. Hai mắt cá sấu nằm ở hai bên trán nên chúng có góc nhìn lớn cả về chiều thẳng và chiều ngang. Đặc biệt có mí mắt thứ ba trong suốt đảm bảo cho mắt không bị khô khi ở trên cạn và khi lặn sâu dưới nước vẫn có khả năng nhìn được để bắt mồi. Khả năng điều tiết của mắt cá sấu rất tốt, chúng nhìn rõ cả ban ngày lẫn ban đêm. Ban đêm khi chiếu đèn, mắt chúng có phản xạ hướng quang khi nhìn thấy màu đỏ nhạt. Theo Bellais (1971) cho biết cá sấu còn có những cơ quan cảm giác khác như: ở lưỡi có những gai thịt vị giác và gai xúc giác ở hàm, dưới răng còn có những cơ quan cảm giác về áp suất nước.6. Khả năng sinh sản Cá sấu thuộc loài động vật sống lâu, vòng đời từ 60-70 năm. Tuổi thành thục lần đầu phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng và đặc điểm của mỗi loài, thường từ 6-11 năm và có khả năng sinh sản đến cuối đời. Ví dụ: Cá sấu cái sông Nile châu Phi (Crocodilus niloticus) sống hoang dã, đẻ lứa đầu ở tuổi 10-11 năm, cá sấu Caiman Nam Mỹ (Caiman crocodilus) sống hoang dã đẻ trứng lần đầu vào khoảng 9-10 tuổi (Jounen và Mc Nease,1975, 1982); cá sấu nước ngọt Cuba (Crocodilus rhombifer) nuôi nhốt tại Guamá, Matanzat (Cuba) đẻ trứng ở tuổi 6 năm, khi nhập khẩu về nuôi tại tỉnh Thái Nguyên (Việt Nam) chúng đẻ trứng ở 7 năm tuổi; cá sấu nước ngọt Việt Nam (Crocodilus siamensis) nuôi nhốt tại tỉnh Ninh Bình đẻ trứng ở tuổi 7 năm và khi nuôi tại tỉnh Cà Mau đẻ trứng ở tuổi 6 năm. Những loài cá sấu có kích thước nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn loài có kích thước lớn. Cá sấu nuôi nhốt trong các trang trại do được cung cấp đầy đủ thức ăn thường sinh trưởng nhanh và có khả năng thành thục sớm hơn cá sấu sống hoang dã. Chúng ta có thể nhận biết giới tính của cá sấu thông qua việc so sánh sự khác nhau của hình dạng bên ngoài ở những con cùng lứa tuổi như: Cá sấu cái đầu nhỏ, mõm ngắn, vảy thưa, tốc độ sinh trưởng chậm, trong khi đó cá đực thường đầu to, mõm dài, lớn nhanh hơn, nhưng nhìn chung phương pháp này không hoàn toàn chính xác. Để đảm bảo tính chắc chắn trong việc lập sổ theo dõi, khi lựa chọn cá bố (mẹ) đưa vào nuôi sinh sản, ta nên dùng tay kiểm tra giới tính từng con qua lỗ huyệt và tiến hành đánh dấu cá thể. Đa số các loài cá sấu đẻ trứng một lần trong năm, mùa giao phối từ tháng 2 đến tháng 4 và đẻ trứng từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 7. Lứa đầu tiên đẻ từ 15 – 20 quả, từ lứa thứ hai trở đi tăng dần và ổn định ở mức từ 35 – 40 quả/con/năm. Trong tự nhiên cá sấu cái thường lựa chọn những nơi cao ráo gần mép nước, đất tơi xốp hoặc có nhiều lá cây khô để bới tổ đẻ trứng. Sau khi đẻ xong chúng tự vùi đất kín ổ trứng và nằm canh giữ đến khi trứng nở. Thời gian ấp trứng kéo dài từ 11 đến 13 tuần (78 – 90 ngày). Nhiệt độ thích hợp đối với quá trình ấp từ 31°C đến 32°C. Trong tự nhiên, suốt thời gian ấp trứng cá sấu mẹ không đi kiếm mồi mà nằm ngay bên cạnh để canh giữ. Đến thời kì sắp nở khi nghe tiếng kêu của cá sấu con, cá mẹ sẽ bới đất hỗ trợ, mang cá sấu con đến nơi có nguồn nước. Cá sấu mẹ có bản năng chăm sóc đàn cá sấu con trong vài tuần lễ đầu, sau đó những cá sấu con tự tách khỏi đàn để sống cuộc đời tự lập.7. Hệ thống phân loại và phân bố tự nhiên trên thế giới Theo ý kiến của các nhà phân loại học, các loài cá sấu hiện nay là nhóm cuối cùng của cá sấu cổ đại, gồm 15 họ và 100 chi, đa số đã bị tuyệt chủng vào đầu đại Tân Sinh. Bộ cá sấu còn đến hiện nay gồm 3 họ: 1. Họ cá sấu mõm dài, hay còn gọi cá sấu Sông Hằng, điển hình Gavialidae. Họ này có một loài (Gavialis gangeticus) phân bố tự nhiên ở Sông Hằng thuộc Ấn Độ, Bangladesh, Nepal và Pakistan. 2. Họ cá sấu mõm ngắn, hay cá sấu Mỹ, họ này gồm có 4 chi là: Alligator, Caiman, Melanosuchus, Palaeosuchus. Gồm 7 loài đa số chúng sống ở Nam Mỹ, vùng Amazon và Trung Quốc. 3. Họ cá sấu thực sự hay cá sấu đúng nghĩa (Crocodylidae) gồm có 14 loài, chúng phân bố ở hầu khắp các vùng nhiệt đới, trong đó có cá sấu sông Nin (C.ninoticus) dài tới 7m, phân bố ở châu Phi. – Trung và Nam Mỹ có loài: Crocodylus acutus, Crocodylus rhombifer, Crocodddenayi intermedius, Crocodylus moreletii. – Tây và Trung Phi có các loài: Crocodylus cataphractus, Osteolaemus tetraspis và Crocodylus niloticus. – Bắc Australia có loài: Crocodylus johnsoni. – Châu Á Thái Bình Dương có 6 loài: + Cá sấu Philippines (Crocodylus midorensis) sống ở Philippines. + Cá sấu New Guinea (Crocodylus novaeguineae) sống ở Papua New Guinea, Irian Jaya. + Cá sấu đầm lầy hoặc cá sấu Ấn Độ (Crocodylus palustris) sống ở Pakistan, Nepal, Iran, Ấn Độ. + Cá sấu nước mặn hoặc cá sấu cửa sông (Crocodylus porosus), sống ở Ấn Độ, từ phía đông nam bờ biển châu Á đến phía bắc Việt Nam, Australia. – Cá sấu Thái Lan, cá sấu Xiêm (Crocodylus siamensis) sống ở Đông nam Châu Á, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam. – Tomistoma schlegelli sống ở Malay Peninsula.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Nuôi Con Của Cá Dĩa – Men Vi Sinh Cho Cá trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!