Xu Hướng 2/2023 # Cá Vồ, Cá Tra, Cá Bông Lau Hay Cá Basa? # Top 5 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Cá Vồ, Cá Tra, Cá Bông Lau Hay Cá Basa? # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Cá Vồ, Cá Tra, Cá Bông Lau Hay Cá Basa? được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Mấy chục năm trước người Việt Nam định cư ở Úc chưa nhiều, lúc đó thèm món ăn Việt Nam lắm, thèm canh chua, cá kho tộ, phở .. muốn ăn thì chỉ tự nấu chưa có ai mở tiệm ăn Việt, tiệm tạp hóa Tàu thì do người Hong Kong hay Mã Lai gốc Hoa mở cũng không đủ gia vị…Cá biển thì không muốn ăn, nhất là người miền Tây ăn tôm cá sông, cá đồng quen rồi, thấy cá biển sợ lắm vì trong tiềm thức nhớ má nói cá biển độc. ăn ngứa và nhất là cá không vảy thì đừng ăn…chỉ nấu canh chua tôm ăn cho đở nhớ.

Từ từ có nhiều tiệm tạp hóa do người Việt mở, có tiệm nhập cảng cá Bông Lau đông lạnh, cái tên nghe ngờ ngợ nhớ nên mua về nấu canh chua và kho lạt. Ăn cho đỡ ghiền chớ mình không thấy ngon vì vẫn còn thấy tanh và hình thù thì giống như con cá Vồ nên hơi sợ và sau đó thì không ăn nữa mà thay là cá biển vì bắt đầu quen rồi nhất là lúc đó cá bóng mú đông lạnh cũng ngon và không mắc lắm. Bây giờ thì khác rồi cái gì cũng có và nhất là nếu thích ăn cá thì có cá nuôi tươi sống bán sẵn còn bơi trong hồ hay tự đi câu. Mấy món gia vị thì đủ hết: me, cà, ngò ôm, bạc hà, khóm, giá, đậu bắp…cái gì cũng trồng được hay có bán ở Úc duy chỉ có một cái là cá bóng mú thì quá mắc.

Mấy chục năm nay ở Việt Nam rầm rộ phong trào nuôi cá Basa xuất khẩu, nhớ hồi đó mình đi ăn Fish & Chip ở Úc nghe nói miếng cá mình ăn là thịt cá mập sợ nên ít ăn nhưng bây giờ nghe nói đã chuyển sang cá Basa rồi vì giá thành rẻ nhiều. Vào mấy nhà hàng bên này, có khi vô tình mình thấy họ giao hàng cho nhà hàng Việt, nhà hàng Tàu, nhà hàng Tây những thùng cá mà bên ngoài có in hàng chữ Basa Vietnam. Cho nên bản thân mình cũng ít ăn và nếu vào nhà hàng Tây thì chỉ ăn Salmon, Whiting, Tuna,.. hay các loại cá có tên, chớ còn thực đơn chỉ nói “fish” thôi mà không có tên cá gì thì mình không dám ăn.

Có lần nói chuyên chơi với mấy mgười bạn, ai cũng hỏi nhau: cá Bông Lau, cá Tra, Cá Basa, cá Vồ khác nhau như thế nào? MÌnh vô tình không biết nhưng nói chơi: ” Cá Tra là ba cá Vồ với cá Basa, còn nói cho văn hoa một chút thì gọi là cá Bông Lau”. MÌnh nhớ là lúc còn ở Việt Nam gia đình mình chưa bao giờ ăn cá Tra, cá Vồ và ngay cả cá Bông Lau và nhất là thịt Chuột đồng, ăn canh chua thì duy nhất một món cá Lóc. Mấy hôm nay sưu tập tài liệu nên muốn chia sẻ với các bạn nào chưa biết nhưng vẫn còn có một câu hỏi về con cá nuôi ở cầu tiêu thì là con cá Tra hay cá Vồ ? Bởi vì có người gọi là “cầu tiêu cá Tra” có người goi “cầu tiêu cá Vồ” nhưng chắc chắn một điều là con cá Basa thì hoàn toàn khác hẵn vì môi trường sống của cá Basa khác với cá Tra do cá Basa không có cơ quan hô hấp phụ, cần nhiều oxy hơn cá Tra, nên chịu đựng kém ở môi trường nước có hàm lượng ít oxy hòa tan và nhất là hầm cầu thì sẽ không sống nỗi. Có một câu trả lời trên mạng về khác biệt giữa cá Tra và cá Vồ thì như thế này:

“Cá tra chính là cá vồ. Vì thói quen của một số tỉnh phía nam, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long có khu vệ sinh (cầu tiêu) làm ra sông, ao hồ để ” ị ” xuống đó. Bọn cá này rất khoái món ấy, khi ta ị xuống là chúng nhao vào “vồ” ăn ngay, nên nó có thêm một cái tên rất “địa phương” là CÁ VỒ đó bạn. Hiện nay chính phủ đã ra chỉ thị xóa bỏ cầu tiêu cá vồ (CTCV) ở ĐBSCL, nhưng cái tên CÁ VỒ chắc sẽ vẫn còn được gọi.” (?)

Gần đây, nghe nói là do cá Tra lại là một sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm cá Basa xuất khẩu, với phẩm chất thịt fillet tương đối giống cá Basa, giá thành cá Tra thì rẽ hơn cá Basa. Nên một số nhà chế biến thủy sản xuất khẩu đã “năng động” làm cho cá Tra bị dán mark cá Basa.

Cá bông lau (tên khoa học: Pangasius krempfi) là một loài cá thuộc chi Cá tra (Pangasius). Loài này phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á trong lưu vực sông Mê Kông. Môi trường sống là nơi nước lợ. Thức ăn của chúng là trái cây, tảo và động vật giáp xác. Đây là loài di trú, có một thời gian sống ở các vùng nước ven biển (đây là đặc tính chỉ có duy nhất ở loài này trong họ Cá tra), và một thời gian di cư vào sông (chỉ ở sông Mê Kông mà không là các sông khác) để sinh sản. Cá có kích thước lớn, tăng trưởng nhanh.

Cá Bông lau còn thấy ở vùng cửa sông Cần Giờ, còn có tên gọi khác là cá Dứa.

Lưng và đầu cá bông lau màu xanh lá cây, bụng màu trắng, vảy trong suốt, vây hơi vàng. Vây lưng: 1-1, các tia vây lưng: 6-7, gai hậu môn: 4, các tia vây mềm hậu môn: 31-34; và 18-22 lược mang ở cung đầu tiên. Chiều dài tối đa 120 cm, cân nặng tối đa 14 kg. Các răng lá mía chia tách ở đường giữa, kết nối với các răng vòm miệng để tạo thành vệt dài hình lưỡi liềm.

Cá ba sa, tên khoa học Pangasius bocourti, còn có tên gọi là cá giáo, cá sát bụng, là loại cá da trơn trong họ Pangasiidae có giá trị kinh tế cao, được nuôi tập trung tại nhiều nước trên thế giới. Loài này là loài bản địa ở Đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam và lưu vực sông Chao Phraya ở Thái Lan. Loài cá này là thực phẩm quan trọng ở thị trường quốc tế. Chúng thường được gắn nhãn ở Bắc Mỹ và Úc với tên là “cá basa” hay “bocourti”.

Về ngoại hình, cá ba sa rất dễ phân biệt đối với các loài khác trong họ Cá tra. Thân ngắn hình thoi, hơi dẹp bên, lườn tròn, bụng to tích lũy nhiều mỡ, chiều dài tiêu chuẩn bằng 2,5 lần chiều cao thân. Đầu cá ba sa ngắn hơi tròn, dẹp đứng. Miệng hẹp, chiều rộng của miệng ít hơn 10% chiều dài chuẩn, miệng nằm hơi lệch dưới mõm. Dải răng hàm trên to rộng và có thể nhìn thấy được khi miệng khép lại, có 2 đôi râu, râu hàm trên bằng ½ chiều dài đầu; râu hàm dưới bằng 1/3 chiều dài đầu. Răng trên xương khẩu cái là một đám có vết lõm sâu ở giữa và hai đám răng trên xương lá mía nằm hai bên. Có 40-46 lược mang trên cung mang thứ nhất, vây hậu môn có 31-36 tia vây. Răng vòm miệng với dải răng trên xương khẩu cái ở giữa và răng trên xương lá mía ở 2 bên. Chiều cao của cuống đuôi hơn 7% chiều dài chuẩn. Mặt lưng có màu nâu, mặt bụng có màu trắng.

Họ Cá tra (danh pháp khoa học: Pangasiidae) là tên gọi một họ chứa khoảng 28 loài cá nước ngọt đã biết thuộc bộ Cá da trơn (Siluriformes). Các loài trong họ này được tìm thấy trong các vùng nước ngọt và nước lợ, dọc theo miền nam châu Á, từ Pakistan tới Borneo. Trong số 28 loài của họ này thì loài cá tra dầu (Pangasianodon gigas), một loài cá ăn rong cỏ và đang ở tình trạng nguy cấp, là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất đã biết.

Vây lưng của các loài cá này nằm gần đầu, thông thường cao và có hình tam giác, khoảng 5-7 tia vây và 1-2 gai. Vây hậu môn hơi dài, với 26-46 tia. Thông thường chúng có hai cặp râu hàm trên và một cặp râu cằm, mặc dù ở cá tra dầu trưởng thành chỉ có các râu hàm trên. Thân hình đặc chắc. Vây béo (mỡ) nhỏ cũng tồn tại.

Tên Tiếng Anh: Spot PangasiusTên Tiếng Việt: Cá vồ đémTên khác: Cá vồ đốm, Black-spotted catfish

PHÂN LOẠINgành: ChordataLớp: ActinopterygiiBộ: SiluriformesHọ: PangasiidaeGiống: PangasiusLoài:Pangasius larnaudii (Bocourt, 1866)

Ở Việt Nam cá phân bố trên sông Tiền, sông Hậu, tập trung ở các vùng nước sâu trên sông. Đôi khi cũng gặp cá ở vùng nước nông có dòng chảy mạnh. Vào đầu mùa mưa (tháng 5 – 6) chúng di cư ngược dòng về thượng nguồn.

Nơi trú ẩn của cá trải qua mùa khô ở các vực sâu trên dòng chính sông Mekong đoạn từ Kra-chiê-Stung Treng.

Thân dài, phần trước của thân có tiết diện tròn, phần sau thân dẹp bên. Đầu dẹp bằng, trán rộng. Răng nhỏ, mịn. Tất cả các răng vòm miệng làm thành một đường vòng cung liên tục với nhiều chỗ lõm hoặc tách rời ở giữa thành 2 đám. Râu nhỏ, ngắn. Râu mép kéo dài đến hoặc không đến gốc vây ngực. Mắt lớn vừa nằm phía trên đường thẳng ngang kẻ từ góc miệng và cách đều chót mõm với điểm cuối nắp mang. Đường bên phân nhánh ngoằn ngoèo chạy dài từ mép trên lỗ mang đến điểm giữa gốc vây đuôi. Da trơn, không vảy. Mặt lưng của thân và đầu có màu xám đen ánh xanh lá cây, lợt dần xuống mặt bụng, bụng cá có màu trắng. Phía trên gốc vây ngực có một đốm đen, to. Ngọn các tia vây thứ III, IV, V, VI của vây hậu môn và màng da giữa các tia vây bụng có màu đen.

Cá có kích thước thường gặp từ 17 – 21 cm ứng với trọng lượng 30 – 150 gram. Kích thước tối đa đạt đến 130 cm.

Cá Bông Lau Là Gì? Thu Nhập Tiền Tỷ Từ Cá Bông Lau

Cá bông lau là loài cá nước lợ, thuộc họ cá tra. Địa điểm sông chủ yếu của cá bông lau là Đông Nam Á, khu vực sông Mê Kông.

Cá bông lau có những đặc tính rất thú vị.

Cá bông lau thuộc loài di trú, từ môi trường biển đến môi trường sông. Trong họ cá tra, cá bông lau là loài duy nhất có đặc tính di trú này.

Kích thước của nó rất lớn và mức độ tăng trưởng nhanh. Cá bông lau có lưng và đầu màu xanh lá cây, bụng cá màu trắng, vảy thì trong suốt. vậy có màu hơi vàng. Chiều dài của cá bông lau tối đa là 120cm và cân nặng tối đa là 1kg. Những cái răng múa của nó chia tách ở đường giữa, kết nối với răng vòm miệng, từ đó tạo thành vệt dài hình lưỡi liềm.

Môi trướng nước mà ca bông lau sinh sống là cá nước lợ.

Thức ăn của chúng là những loại tảo, động vật giáp xác và trái cây.

Người ta quan sát và lập luận rằng có ít nhất hai quần thể cá bông lau di trú từ biển vfa sông hồ. Một quần thể cá đã di cư vào tầm tháng 5-9 từ phía Nam thác Khone, đi theo dọc sông Mê Kông để vào Chiang Khong gần biên giới của Lào- Mi – an- ma và Thái Lan.

Quần thể cá bông lau còn lại thì xuôi dòng từ Stungtreng tới vùng nước Camphuchia để đẻ trứng. Qúa trình này diễn ra vào tháng 5 tới tháng 8.

Ở các vùng nước đó, ca bông lau và đàn của nó sôn rất sâu như ao , hồ, sông nước lợ. Tại đồng bằng sông Cửu Long, đánh bắt những chú cá bông lau trên 4 kg là điều quen thuộc, nhưng phải đợi vào mùa,tháng 11 âm lịch, người dân sẽ dùng lưới đi đánh bát nó.

Ở nước ta, đừng đàn cá bông lau từ cửa biển vào, lượn lờ ở Tiểu Cần, Cầu Kè( Trà Vinh) để tới sông Hậu đẻ trứng.

Theo nhà nông , cá bông lau tăng trưởng nhanh, dễ nuôi và mang lại hiệu quả cao.

Cá bông lau dễ nuôi và kháng bệnh khá tốt. Ở độ mặn cao nhưng cá bông lau vẫn phát triển, ca bông lau phù hợp với kiều kiện vùng giáp biển.

Bước đầu tiên khi nuôi cá bông lau trong ao đât là chuẩn bị, lựa chọn giống.

Tiếp đó là quan sát theo dõi nôi trường nước, phải có độ ăn phù hop với. Thức ăn công nghiệp có cá chiếm 85%

Sau hơn 1 năm, cá bông lau sẽ đạt 1,2 – ,13 kg/ con và thu hoạch lên tới 5 tấn/2.000m2.

Giá bán ra là 120.000 đồng/ kg.

Loại cá bông lau đực nuôi dưỡng trong ao đất sẽ có chất lượng thịt ngon hơn bình thường.

Cá bông lau không chỉ có giá trị kinh tế cao, còn có khả năng nấu nướng. Lượng thịt cá gần cá trong tự nhiên, thịt trắng và thơm, ít mỡ.

Tại Việt Nam, các nhà nông sản, nhà nghiên cứ đã tìm ra phương pháp nuôi cá bông lau nhân tạo thành công.

Mục đích của lai giống nhân tạ0 là khôi phục đà cá tự nhiên, hiệu quả kình tế thấp.

Bước thứ hai là chọn giống cá bố mẹ. Những ao nuôi để lâu cần sục khí và mè lại với không khí được sục 3-4 ngày 1 lần . Nuôi cá bông lau thường được kết hợp với các loại cá khác như: cá chép, mè vinh, có mật độ thả là 5-10kg/m3, xa ống nước thải và con đường vận chuyển thuận lợi.

Yêu cầu chọn cá bố mẹ: Các cá thể khỏe mạnh, ngoại hình cân đối, không bị dụ hình.Mỗi mùa vụ nuôi, cá giống bố mẹ được bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 11 năm sau. Thức ăn cho cá giống là loại thức ăn hỗn hợp tự chế biến hoặc là thức ăn công nghiệp như: thức ăn chìm, thức ăn viên.

Lượng thức ăn khi nuôi cá trong ao đất cần được quan sát và tùy chỉnh cho phù hợp với quà trinh tăng trưởng của cá.

Lưu ý:

Người nuôi cần thường xuyên kiểm tr bè và sửa chữa nó, gỡ bỏ rác bám quanh bè. Thời gian nước chảy bị yêu cần để nguyên máy bơm quạt nước ở đó, nhằm tăng oxy hòa ta. Một nhà chăn nuôi giỏi, nhiều kinh nghiệm sẽ biết sửa chữa và quan sát, xử lý kịp thời các tình huống.

Một phương pháp nữa của chăn nuôi cá bông lau là gieo tinh nhân tạo

Nhìn bên noài, khó nhận ra phân biệt cá đực và cá cái. Đến mùa sinh sản, cá đực có lỗ sinh dọc dạng hơi tròn lồi ra, còn ở cá cái, lỗ sinh dục sẽ nằm lõm vào.

Ương nuôi cá giống

Sau khi nở trứng được 1 ngày, cá đã hết noãn hoàng và bắt đầu ăn thức ăn phù du.

Giai đoạn 1: Nở trứng xong, cá trong giai đợn nằm thở trong bể Composita và có thể tích 1m3, mật độ thả cá bông lau là 300con/ m3. Nó khác với bất kỳ kỹ thuật nuôi cá chép, ếch, cá tra ,…

Giai đoạn 2; Cá có thể ương trứng trong bể Composte vơi thể thích 1m3 nhiều hơn k , mật độ khác không, tỷ lệ sống của cá bông lau là 10,9 % đến 98%.

Loài cá bông lau ở nước ngọt, được ví như một món quà quý giá của vùng sông nước miền Tây. Cá bông lau còn được gọi là ” nhân sâm nước” .Thịt cá bé ngậy, mùi hấp dẫn và thịt của chúng có hương bị đặc trưng, lại an toàn cho sức khỏe.

Bạn có biết: Gía trị dinh dưỡng của cá bông lau

Nhờ những chất dinh dưỡng mà cá bông lau rất tốt cho sức khỏe:

Canxi: bổ xương khớp, căng cường sức khỏe xương

Chất béo: hỗ trợ tăng cân, cải thiện chúng biến ai,.

Sắt: giúp lưu thông khí huyết, duy trì sức khỏe và chống lại mệt mỏi.

Với phụ nữ sau sinh và gười già mệt mỏi, cá bông lai còn là thần dược, an thai và cải thiện sức khỏe.

Với trẻ coi xương, chán ăn , cá bông lau giúp ăn ngon, cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng.

Một số món ngon từ cá bông lau

Một số món ngon từ cá bông lau đã được công nhận và ưa chuộng từ các tỉnh miền Tây.

Cháo cá bông lau

Canh chua cá bông lau

Cá bông lau kho

Các món ăn từ cá bông lau rất dễ làm, không tốn nhiều thời gian. Cá bông lau không chỉ có giá trị kinh tế, ẩm thực mà còn có khả năng xuất khẩu, từ đó tạo thu nhập cho bà con ngư dân.

Trong số những công ty phân phối con giống tại Việt Nam, Navifeed là đơn giản, sáng tạo và tỉ mỉ trong chăn nuôi.

Navifeed là công ty cổ phần về ngành thủy sản luôn sẵn sàng đồng hành cùng khách hàng. Luôn trung thực là nơi đáng tin cậy cho khách hàng và nhà đầu tư là môi trường sáng tạo và năng động cho nhân viên và là tổ chức có trách nhiệm với xã hội.

NAVIFEED phấn đấu trở thành nhà cung cấp thức ăn thủy sản hàng đầu để góp phần tạo ra thực phẩm an toàn cho cộng đồng. Giữ vững vị trí số 1 trong ngành thủy sản Việt Nam, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị kinh doanh, thu hút nguồn nhân lực có tài, có tâm.

Cá Bông Lau Xứ Vàm Nao

Hò…ơ…Ở trên Châu Đốc ngó xuống Vàm Nao…Thấy con cá bông lau nó nhảy nhào vô lưới…Anh ngồi anh chắc lưỡi…Hò…ơ… anh ngồi anh chắc lưỡi…không biết chừng nào mới cưới đặng em ! Câu hò xưa được cập nhật lại, thay vì hò “Thấy con cá đao…” người ta cải biên: “Thấy con cá bông lau nó nhảy nhào vô lưới” nhưng vẫn đảm bảo âm vận, ý nghĩa và nhất là phản ánh rất sát đúng một loài thủy sản đặc hữu của con sông Vàm Nao, thuộc tỉnh An Giang.

Nói cá bông lau là một loài thủy sản đặc hữu của sông Vàm Nao là rất đúng, và cũng rất… không đúng! Bởi lẽ dân số bông lau được phân bố sống rải rác khắp sông Tiền, nhất là trên sông Hậu, có nhiều ở vùng hạ nguồn như miệt Kế Sách, Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Nhưng, đặc biệt là chúng đã chọn sông Vàm Nao làm nơi quần cư với mật độ nhiều hơn những nơi khác.

Dòng Mê Kông chảy vào lãnh thổ Việt Nam chia ra thành hai nhánh gọi là sông Tiền và Sông Hậu. Còn sông Vàm Nao như một dấu gạch ngang của chữ H nối liền hai nhánh Cửu Long giang. Có lẽ nhờ vào địa hình và thủy triều đặc biệt của dòng Vàm Nao mà nhiều loài cá sông về đây trú ngụ, trong đó có 2 loài cá quý hiếm là cá hô và cá bông lau.

Hằng năm, khi nước dưới sông chuyển màu từ đục sang trong, là lúc ngư dân hai bên bờ bước vào mùa đánh bắt cá bông lau. Mùa cá bông lau kéo dài từ tháng 11 năm trước đến cuối tháng 4 năm sau. Vào mùa đánh bắt, xóm làng nhộn nhịp hẳn lên mọi người dồn sức cho việc thả lưới, bắt cá. Trên dòng Vàm Nao, ngư dân chia làm 3 bãi để đánh bắt gồm: “bãi trên” ngang chợ Mỹ Lương, phía trên sông Vàm Nao; “bãi giữa” từ Vàm Trước ngang Chợ Đình đến bến phà Thuận Giang; “bãi dưới” từ bến phà đến cuối sông. Bãi nào cũng có 40 – 50 xuồng lưới.

Từ thời khẩn hoang, người xưa điều có tín ngưỡng “Đất có thổ công, sông có hà bá”. Còn đối với những người đánh bắt cá bông lau ở Vàm Nao thì tin sông nước ở đây còn có “Bà cậu”. Đánh bắt cá được hay không, bắt được nhiều hay ít cá là do “Bà cậu” có độ hay không? Có nhiều ngư dân, vào con nước đánh bắt hoặc khi đánh bắt được nhiều cá thường âm thầm làm mâm cỗ cúng như là một cách tạ ơn với dòng sông, bến nước đã bao dung cho bao người làm nghề hạ bạc.

Vào mùa cá bông lau, lúc mặt trời chen lặn, sông Vàm Nao bỗng nhộn nhịp hẳn lên bởi vào lúc này hàng trăm ngư dân thả lưới kín sông, cờ hiệu la liệt. Mỗi tay lưới đều có đèn phao mắc theo viền lưới cách nhau khoảng 40m, thế nhưng khi đêm xuống, nếu có dịp theo xuồng lưới ra khơi, phóng tầm nhìn về Vàm Trên hoặc Vàm Dưới của sông, phía nào cũng vậy, xa đến mút mắt, đâu đâu cũng đèn là đèn như sát khít nhau, lung linh kỳ ảo lạ thường, ta không thể không cảm nhận đây là “con sông đèn” vô cùng thơ mộng, như dải Ngân Hà ở hạ giới !

Thường thì người ta thả lưới chừng 3-4 giờ đồng hồ và chờ nước nhửn ròng mới kéo lưới. Trong lúc được ngơi tay, từng đoàn xuồng cặp hông nhau trò chuyện. Uống với nhau vài ly trà hoặc nhân nhi vài chun rượu đế cho ấm lòng giữa trời đêm trên sông lạnh giá.

Khi con nước vừa đứng mọi người bắt đầu chuẩn bị kéo lưới. Đây là lúc hồi hộp nhất vì phải chờ đợi suốt nhiều giờ liền. Thường thì một đêm người ta chỉ đánh hai vác, đầu hôm dính cá không nhiều bằng vác khuya. Vào những ngày cao điểm, bình quân một đêm mỗi xuồng lưới bắt được được 4 -5 con, hoặc hơn, mỗi con trung bình nặng từ 4 đến 8 ký. Có con nặng tới 15 ký.

Theo những lão ngư dân ở đây cho biết, vào mùa cá rộ người ta đánh bắt cả ban ngày. Hồi trước ở Vàm Nao ngư dân đánh bắt cá bông lau bằng câu và lưới, nhưng bây giờ chỉ còn dùng lưới mà thôi.

Chuyện kể rằng, cách đây hơn 20 năm, ông Bảy Út ở cồn Bình Thủy giăng câu, lúc móc mồi vô ý bị lưỡi câu móc vào tay và giềng câu bị nước chảy xiết đã kéo ông văng xuống sông. Nhờ có anh em bạn nghề phát hiện kịp thời, quăng dây vớt, khi lên được thì gần chết, may mắn mới cứu sống. Từ đó Bảy Út và một số người khác sợ, bỏ nghề giăng câu cá bông lau trên sông Vàm Nao.

Ngẫm ra, nghề đánh bắt cá bông lau quả thật rất vất vả và có cả sự nguy hiểm giữa sông sâu nước chảy. Nhưng, dòng sông cũng biết bù lại bằng cách dâng tặng cho con người những sản vật hiếm hoi.

Cá bông lau thuộc loại cá da trơn, là cá quý, thịt ngon hơn cá tra, cá ba sa. Cái sang tuyệt vời của nó là nhờ nước da trắng tinh khôi phơn phớt hồng, nên mới gọi “bông lau”. Khi mới đánh bắt được, loài cá này có mùi thơm đặc trưng, chứ không hề tanh như tất cả các loại cá khác – độc đáo là ở chỗ đó!

Cá bông lau chỉ có một xương giữa, không xương hom, nên dễ ăn, ngon đáo để là bao tử của nó. Loài cá này có thể chế biến được nhiều món, nhưng do hiếm nên bao giờ người ta cũng tranh thủ thưởng thức lúc cá còn tươi, tức không làm khô, làm mắm như các loại cá khác.

Ở Vàm Nao, hầu như ai cũng biết chế biến mấy món ngon truyền thống như kho lạt, kho mẳn hoặc ướp muối sả chiên tươi. Nhưng làm món gì thì làm chứ các bà các chị không thể không dành ra vài khứa, nhất là khúc đầu cá để nấu cho được nồi canh chua, bởi đó là món đặc trưng nhất và đã định hình, thành danh ít lắm cũng đã từ hơn nửa thế kỷ nay. Có một vài gia đình ở Vàm Nao, đến mùa cá bông lau mà nhà có giỗ quãy thì đãi khách chỉ toàn các món chế biến từ loài cá này – như là một sự biết ơn tổ tiên – những người từng theo nghề hạ bạc và truyền nghề lại cho cháu con!

Xin cám ơn dòng Vàm Nao – nơi hợp lưu giữa hai dòng sông Tiền – sông Hậu cho cá bông lau có chỗ đi về!… Và, đã bao năm rồi, người dân bên đôi dòng quê cứ chờ con nước son của mùa lũ nhạt dần màu hạt phù sa để mà rộn rịp chuẩn bị ghe, lưới…

Rồi khi mùa gió chướng rong ngọn, dịu gió thì ban ngày nhìn mặt sông đầy những ngọn cờ hiệu trôi dạt như trận đồ bát quái. Đêm đến, ngoài ánh trăng, những ngọn đèn lồng của ngư dân đi tìm luồng cá như hoa đăng rải khắp lòng sông. Để rồi, bao thế hệ con người gắn bó với dòng sông, bến nước này đã nhận ra, con cá bông lau là một phần cuộc sống tình cảm trong mỗi người, trong mỗi mái nhà quê soi bóng xuống dòng Vàm Nao yêu dấu!

Du lịch, GO! – Theo Mientayonline

Trắng Đêm “Săn” Cá Bông Lau

Một ngày như mọi ngày, chuẩn bị lưới xong thì trời chạng vạng, chiếc ghe máy đưa anh Bảy nhanh đến nơi xếp tài để chờ con nước. Con nước cuối tháng làm cho dòng sông Hậu càng thêm mênh mông. Hôm nay, tài nhất là cơ hội để anh chọn nơi tốt nhất thả lưới. Cùng xếp tài với anh còn có những “thợ săn” cá bông lau nổi tiếng cùng xóm như ông Đặng Văn Hên, anh Huỳnh Văn Hữu. Tại chỗ xếp tài, người thì tranh thủ vá lại đoạn lưới rách, người kiểm tra hệ thống đèn. Con nước bắt đầu nhửng ròng- cũng là thời điểm thả lưới. Anh Bảy vững tay chèo điều khiển chiếc ghe từ từ tiến ra giữa dòng sông, còn chị Phương tay thoăn thoắt thả lưới, cứ thế sau khoảng 30 phút, tấm lưới dài 420m đã buông dạo sâu đến tận đáy sông. Vài phút sau, ông Hên, anh Hữu cũng bắt đầu thả lưới. Lúc này mặt sông tối đen, phía xa chỉ leo lét ánh đèn của những nhà dân sống ven sông. Giờ chỉ còn thấy những chiếc đèn xanh, đỏ nổi phía trên miệng lưới làm đèn hiệu. Thỉnh thoảng, một vài chiếc tàu hàng chạy ngang, chiếc ghe nhỏ giữa sông càng thêm chòng chành như tâm trạng hồi hộp của những người giăng lưới.

Ông Hên rất vui vì mẻ cá đầu hôm đã dính cá khủng. Ảnh: BÌNH NGUYÊN

Những “thợ săn” cứ ngồi trên ghe, đợi gần một giờ sau mới bắt đầu kéo lưới. Anh Bảy là người kéo lưới đầu tiên, sau đó ông Hên, anh Hữu cũng lần lượt kéo lưới. Hơn 30 phút, đoạn lưới cuối cùng kéo xong, mệt lả mà không có cá, lòng nặng trĩu buồn, anh Bảy nói: “Nghề này là thế, đâu phải mẻ lưới nào cũng có cá. Con nước này không có thì đợi con nước vài giờ nữa”.

Nỗi buồn của người này đôi khi lại là niềm vui của người khác. Xa phía hạ nguồn, ghe của ông Hên, anh Hữu đèn sáng trưng. 2 con cá bông lau “khủng” mắc lưới. Gỡ cá bỏ lên ghe, tay thoăn thoắt kéo những đoạn lưới cuối cùng, ông Hên nói: “Vậy là có sống. Bây giờ cá ít nên không cần nhiều, chỉ cần mỗi lần bủa lưới kiếm được một con như vầy là sống khỏe”. Ông Hên dính con cá bông lau nặng gần 5kg, anh Hữu dính cá gần 8kg. Như vậy là quá đủ cho một mẻ lưới kéo dài khoảng 4 giờ giữa đêm tối. Anh Hữu vui nhất bởi chỉ với mẻ lưới đầu hôm, anh đã thu được gần 2 triệu đồng. Còn vợ chồng anh Bảy, sau chuyến ra khơi từ đầu hôm, giờ phải về tay trắng nhưng với những cư dân Xóm Câu, cả đời gắn với nghiệp lưới cá bông lau, đâu dễ bỏ cuộc. Vợ chồng anh Bảy chuẩn bị làm lại từ đầu với con nước sau, lúc trời bắt đầu chuyển sang ngày mới.

Màn đêm thêm tĩnh mịt, chiếc ghe lưới của anh Bảy tiếp tục neo chờ tài và con nước. Mẻ lưới đầu không có cá, lần này lại tài nhất, vợ chồng anh rất quyết tâm. Hai vợ chồng cứ trằn trọc chờ con nước nhửng lớn. Anh Bảy nhớ lại hơn 18 năm trước, khi về làm rể nhà bà Đoàn Thị Pha (phường Tân Lộc, quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ) anh có nghề thợ mộc, thợ hồ giúp gia đình kiếm cơm qua ngày. Hai đứa con lần lượt chào đời thì chuyện “cơm, áo, gạo, tiền” thêm nặng gánh. Thấy cha vợ có nghề giăng lưới cá bông lau nên anh tập tành làm theo rồi “dính” luôn cho đến nay. Giờ đây, cái nghề chính của anh bỗng thành nghề tay trái, còn nghề tay trái lại nuôi sống gia đình với 2 đứa con, một học lớp 6 và một học lớp 8.

“Nghề này nó vậy, nằm trên ghe chứ đâu ai ngủ được vì phải canh con nước, nếu trễ vài phút coi như qua “thời gian vàng”. Cá không dính, buồn không chợp mắt được; dính cá, vui quá cũng thức trắng đêm luôn!”- anh Bảy tâm sự. Chiếc ghe chòng chành, vợ chồng anh Bảy chỉ kịp ngả lưng tí xíu lại đến giờ thả lưới. Tay lưới cứ thế thả xuống dòng sông, mang theo bao nhiêu là hy vọng. Và lần này, vợ chồng anh đã được đền đáp. Khi tay lưới vừa thả xong thì đầu kia bỗng sáng nước. Một con cá bông lau đâm viền lưới trên đang cố vùng vẫy thoát thân. Chị Phương mừng rỡ: “Vậy là không uổng công một đêm thức trắng. Con cá này hơn triệu bạc”. Anh Bảy tiếp lời: “Dính lưới phía trên mình bắt khi cá còn sống sẽ để lâu hơn. Còn đâm lưới phía dưới đến lúc mình kéo lên, hầu hết cá đều chết. Tuy nhiên có điều lạ là cá chết nhưng cứ để thế, đừng động chạm nhiều thì chúng vẫn tươi lâu, không bị ươn”.

Qua rồi thời cá bán không hết

Ở miền Tây, nghề săn cá bông lau nổi tiếng ở Vàm Nao (An Giang) nhưng ít ai biết được trên sông Hậu đoạn cù lao Tân Lộc cũng có Xóm Câu nổi tiếng với cái nghề “bà cậu” này. Bà Đoàn Thị Pha kể, hàng chục năm trước, cùng sống ven sông Hậu nhưng nhiều người ở An Giang bắt cá bông lau nên cư dân trong xóm của bà đi học để về bắt cá. Rồi cứ thế, ngư dân tại xứ cù lao Tân Lộc dần thành thạo từ thả câu cho đến giăng lưới và xem đây là nghề chính của gia đình. Đất đai ít, bà Pha cùng chồng hàng chục năm trời lênh đênh theo con nước, cứ thế nuôi các con khôn lớn. Những người con của bà như chị Phương, anh Tân khi còn rất nhỏ đã theo cha mẹ rong ruổi trên sông. Tuổi thơ lớn lên với ghe làm nhà và lưới làm bạn nên cha mất, bà Pha lớn tuổi, anh Tân, chị Phương và chồng lại nối nghiệp cha.

Theo bà Pha, khúc sông Hậu đoạn qua cù lao Tân Lộc trước đây cá bông lau nhiều không thua trên Vàm Nao. Nhờ đó, nhiều gia đình làm nghề săn cá bông lau có cuộc sống khá sung túc. “Nói đâu xa, chỉ hơn 20 năm trước thôi, cá nhiều lắm. Có hôm vợ chồng tôi bắt được hàng chục con cá bông lau, đội đi bán không xuể. Nhưng bây giờ giảm nhiều rồi, bắt được con cỡ 5 – 7kg là mừng lắm”- bà Pha tiếc nuối kể.

Giờ đây, với người giăng lưới ở Xóm Câu, dính cá đã vui chứ không mong dính hàng chục con mỗi mẻ lưới như nhiều năm trước. Cá vơi dần, người theo nghề cũng giảm, số thì tìm thêm nghề khác sinh nhai, số bỏ hẳn nghề kiếm việc khác làm để có cuộc sống ổn định. Anh Bảy nói: “Trước đây, chỉ xóm nhỏ này có gần 20 hộ với hơn 20 ghe làm nghề lưới cá bông lau. Mỗi lần đợi tài có khi trễ luôn con nước. Giờ đây chỉ còn gần chục hộ, mỗi hộ chỉ 1 chiếc ghe nhỏ”. Còn ông Hên chia sẻ: “Đất đai ít, chỉ có nghề này. Hết mùa bông lau chúng tôi chuyển sang đặt lú, giăng lưới cá mè vinh… sống qua ngày và đợi mùa cá bông lau mới chứ nhất quyết không bỏ nghề”.

Hầu hết những người tại Xóm Câu đều ít đất hoặc không có đất. Nghiệp “săn” cá bông lau là cuộc mưu sinh chính của gia đình họ. “Lúc đầu chỉ vài hộ sau đó nhiều hơn đến mức phải sắp tài như cánh xe ôm. Hầu hết ở những đoạn sông có cá, các chủ ghe tự giác đậu phân tài xem ai xuất bến giăng lưới trước, ai giăng sau. Người đến trước được ra bủa lưới, như luật “bất thành văn” để khỏi tranh giành”- anh Bảy nói.

Với người giăng cá bông lau như vợ chồng anh Bảy, chi phí đầu đầu tư ghe, lưới, máy hơn 80 triệu đồng là cả một tài sản. Trong khi lại giăng ngang sông nên rủi ro rất cao, nếu chẳng may bị tàu, ghe lớn đi qua, dễ mất cả gia sản. Vì thế, nếu giăng lưới ban đêm, họ gắn giàn đèn xanh đỏ hỗ trợ; ban ngày thì các cây cờ đỏ như cột tín hiệu giữa dòng sông. Giăng lưới xong, họ thả chiếc ghe trôi theo tấm lưới bồng bềnh trên mặt sông để canh chừng và theo dõi con nước, chờ đến giờ thu lưới. Trong thời buổi cá bông lau trở thành hàng hiếm, giá cá mua tại chỗ cũng được đẩy lên cao từ 220.000 – 250.000 đồng/kg. Mỗi mùa một ghe giăng lưới như anh Bảy, ông Hên, anh Hữu cũng kiếm từ 70 – 80 triệu đồng, có năm trúng thì hơn 100 triệu đồng. ​

Vài năm gần đây lượng cá bông lau giảm nhiều như báo hiệu sự lụi tàn của cái nghề kiếm cơm trên sông. Tuy vậy, vẫn còn phấn khởi với con cá lớn vừa dính lưới, anh Bảy giọng chắc nịch: “Không bao giờ bỏ nghề. Mình chỉ đánh lưới theo mùa nên cá giảm chứ không thể tuyệt chủng. Thêm vào đó, hết mùa bông lau thì đặt lú, giăng cá mè vinh, vẫn theo nghề “bà cậu” này vì nó đã nuôi sống gia đình hàng chục năm qua”.

Theo BÌNH NGUYÊN (Báo Cần Thơ)

Cập nhật thông tin chi tiết về Cá Vồ, Cá Tra, Cá Bông Lau Hay Cá Basa? trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!