Xu Hướng 12/2022 # Cá Rô Phi Ăn Gì? Trọn Bộ Kỹ Thuật Chế Biến Thức Ăn Cho Cá Rô Phi / 2023 # Top 16 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Cá Rô Phi Ăn Gì? Trọn Bộ Kỹ Thuật Chế Biến Thức Ăn Cho Cá Rô Phi / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Cá Rô Phi Ăn Gì? Trọn Bộ Kỹ Thuật Chế Biến Thức Ăn Cho Cá Rô Phi / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chuyên gia tư vấn cá rô phi ăn gì? Cách chế biến thức ăn chăn cho cá rô phi đem lại hiệu quả kinh tế cao

Các phương thức nuôi cá rô phi thương phẩm

Rô phi được nuôi rộng rãi ở nhiều địa phương trên cả nước. Ngoài mô hình nuôi thâm canh trong ao truyền thống. Rất nhiều mô hình nuôi cá rô phi độc đáo, sáng tạo, tiết kiệm chi phí, diện tích được ứng dụng. Những kỹ thuật nuôi cá rô phi cũng được nghiên cứu và đưa vào thực tế.

Cách nuôi cá rô phi trong thùng nhựa

Nuôi cá rô phi trong thùng xốp

Cách nuôi cá rô phi trong bể xi măng

Nuôi cá rô phi trong ao đất

Tập tính ăn của cá rô phi

Cá rô phi ăn tạp. Tập tính ăn của chúng là:

– Rô phi khi nhỏ thường ăn sinh vật phù du, kích thước nhỏ.

– Rô phi trưởng thành ăn mùn bã hữu cơ, côn trùng, thực vật thủy sinh, cám viên nổi tự chế biến từ nguyên liệu tại địa phương.

Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi

Cá rô phi cần cung cấp đầy đủ thức ăn trong quá trình nuôi. Hơn nữa, chúng có khả năng tiêu hóa carbohydrate tốt. Do đó bà con cần tập trung cung cấp cho chúng các loại thức ăn giàu carbohydrate và lipit. Nó sẽ có tác dụng làm tăng hiệu quả protein trong chế độ ăn. Đảm bảo hàm lượng protein trong thức ăn đạt từ 18 – 35% tùy theo từng giai đoạn phát triển.

Cá rô phi ăn gì?

Rô phi thuộc loại cá có phổ thức ăn rộng. Nuôi thương phẩm, nguồn thức ăn của chúng phong phú. Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn sẽ có sự khác nhau. Do đó ngoài nguồn thức ăn tự nhiên thì còn có cả thức ăn nhân tạo.

Phân chuồng

Bón phân vừa để cái tạo chất lượng ao nuôi, vừa tạo thức ăn cho rô phi. Sử dụng phân chuồng đã ủ hoai mục.

Thức ăn tự nhiên

Thức ăn tự nhiên của cá rô phi là động vật phù du, tảo sợi, mùn bã hữu cơ, ấu trùng sâu bọ, động vật sống dưới nước, cỏ, rau bèo…

Thức ăn nhân tạo

Thức ăn nhân tạo của rô phi thương phẩm là cám viên công nghiệp. Các nguồn thức ăn khác chế biến từ khô dầu, bột ngô, bột sắn… Cám công nghiệp mua ngoài thị trường có hai loại uy tín, được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là cám Con cò và thức ăn do Viện Nuôi trồng thủy sản sản xuất.

– Cám Con cò có tỉ lệ đạm 20%. Viên cám có đường kính 3mm.

– Thức ăn do Viện Nuôi trồng thủy sản sản xuất có tỉ lệ đạm 20%, vitamin tổng hợp 1%. Kích thước viên thức ăn có 2 loại, theo từng giai đoạn phát triển của cá.

Tuy nhiên, cám công nghiệp có giá thành đắt đỏ. Nếu không mua được thức ăn từ đại lý chính hãng, chất lượng khó kiểm định. Không đảm bảo an toàn cho đàn cá. Vì thế, bà con hoàn toàn có thể tự chế biến cám viên nổi nuôi thủy sản.

Nguyên liệu tự chế biến cám nổi như cá tạp, các loại khô dầu, bột ngô, cám gạo, bột sắn. bổ sung thêm cua ốc, rau bèo nghiền nhuyễn; Phụ phẩm từ các lò mổ; Vitamin, khoáng chất, mật rỉ đường, chế phẩm sinh học an toàn…

Ưu điểm của việc tự chế biến cám nổi nuôi cá rô phi:

Tiết kiệm từ 30 – 50% tổng chi phí đầu tư so với mua cám công nghiệp chế biến sẵn.

Chủ động kiểm tra chất lượng. Đảm bảo cám viên không chứa hóa chất độc hại hay chất tăng trọng.

Kỹ thuật chế biến thức ăn cho cá rô phi

Nguyên liệu chế biến cám nổi

Các nguyên liệu tươi có thể tận dụng như cá tạp, tôm, cua, ốc, tép, phụ phẩm từ lò giết mổ gia súc, gia cầm, thủy sản…

Các loại rau, cỏ, bèo tây, thân cây chuối…

Nguyên liệu khô gồm hạt ngũ cốc như thóc, gạo, hạt đậu tương… khoai, sắn. Bột thịt, bột cá, bột xương… Khô dầu các loại.

Nguyên liệu bổ sung dinh dưỡng gồm vitamin, premix khoáng, mật rỉ đường, chế phẩm sinh học.

Các loại máy móc cần thiết để tạo thành dây chuyền sản xuất cám nổi khép kín tại nhà gồm: máy băm nghiền chế biến thức ăn 3A, Máy trộn thức ăn chăn nuôi thủy sản 3A, Máy ép cám viên nổi 3A.

Các loại máy này có nhiều công suất khác nhau. Phù hợp với từng mô hình chăn nuôi từ nhỏ lẻ hộ gia đình đến nuôi thâm canh. Bà con xem xét quy mô thực tế để có sự lựa chọn phù hợp.

Cách làm thức ăn cho cá rô phi

Sử dụng máy băm nghiền đa năng 3A để chế biến các nguyên liệu. Máy tích hợp cả 3 tính năng băm nhỏ, nghiền bột khô và nghiền nhuyễn. Nên rất đa năng trong việc chế biến thức ăn. Bà con sử dụng để nghiền thóc, ngô, đậu tương thành dạng bột mịn. Băm nhỏ rau, cỏ, bèo tây. Nghiền nát nhuyễn thân cây chuối, cua, ốc…

Tiếp theo, sử dụng máy trộn 3A để phối trộn tất cả các nguyên liệu một cách đều đặn. Công đoạn này vô cùng quan trọng. Đảm bảo đạt độ đồng đều cao nhất về cả dinh dưỡng và độ ẩm.

Nếu trộn bằng tay sẽ không thể đạt được yêu cầu đó. Đồng thời, sử dụng chiếc máy phối trộn thức ăn nuôi cá rô phi cũng giúp bà con rút ngắn thời gian chăn nuôi. Bà con có thể chủ động bổ sung thêm vitamin, mật rỉ đường, chế phẩm sinh học vào giai đoạn phối trộn này.

Tiếp theo, đưa nguyên liệu đã trộn vào máy ép cám viên nổi 3A. Cám viên nổi chín đều, trọng lượng rất nhẹ, nổi trên mặt nước lâu. Sử dụng cám viên nổi giúp đàn cá rô dễ ăn, ăn hết. Tránh dư thừa lãng phí. Hạn chế ô nhiễm môi trường nước và tầng đáy ao tốt hơn so với cám viên thường mua ngoài thị trường.

Đối với những mô hình chăn nuôi cá rô thâm canh năng suất cao. Để tiết kiệm thời gian tự ép cám nổi, bà con có thể sản xuất dư ra. Đem sấy khô, bảo quản kín, cho cá rô ăn dần. Chiếc máy sấy cám nổi 3A là thiết bị hỗ trợ đắc lực ở giai đoạn này.

Công thức phối trộn thức ăn ép cám viên nổi nuôi cá rô phi

Cám: 20 – 30%

Tấm: 20 -30%

Rau xanh (nghiền nhỏ): 10 – 20%

Bột cá (bột ruốc): 30 – 35%

Bột đậu nành: 10 – 20%

Premix khoáng/ vitamin: 1 – 2%

Hoặc có thể tham khảo công thức phối trộn thức ăn cho rô phi đơn giản sau:

Cám gạo 77% + Bột cá 23%

Cám gạo 70% + ốc nghiền nhỏ 30%

Cám gạo 73,5% + khô dầu dừa 18,6% + bột mì 22% + bột cá 4,7%.

Tiêu chuẩn kỹ thuật của thức ăn và chế độ ăn cho cá rô phi

Trong quá trình chăn nuôi, bà con chú ý bổ sung thêm vitamin và khoáng chất vào thức ăn cho cá. Đảm bảo cho chúng phát triển khỏe mạnh, đồng đều.

Cách cho rô phi ăn

+ Với cám viên nổi:

Cách tính toán hàm lượng thức ăn hàng ngày cho đàn cá rô phi có thể dựa theo tổng khối lượng cá trong đàn. Với những mô hình nuôi cá rô phi thâm canh, cần tính toán kỹ lưỡng hàm lượng đạm. Cũng như kích cỡ của viên cám nổi. Bà con có thể sử dụng máy cho cá ăn tự động 3A để công việc trở nên dễ dàng hơn.

Thời gian cho ăn: 8 – 9h sáng và 4h30 chiều.

Tỉ lệ cho ăn tính theo khối lượng tăng trưởng của cá

Cỡ cá (g/con)

Tỉ lệ cho ăn (% tổng khối lượng cá trong ao)

5 – 10

10

10 – 20

8

20 – 50

6

50 – 100

5

100 – 200

3

200 – 300

2

Cách cho rô phi ăn tính trong ao nuôi thâm canh

Cỡ cá trung bình (g/con)

Loại thức ăn

Hàm lượng đạm (%)

Tỷ lệ cho ăn (% trọng lượng cá trong ao/ngày)

5 – 10

Mảnh

30 – 35

10 – 15

10 – 100

Viên nổi Φ1,5-2 mm

28 – 30

5 – 10

100 – 150

Viên nổi Φ2-3 mm

26

3 – 5

150 – 300

Viên nổi Φ3-5 mm

24

2,5 – 4,0

Trên 300

Viên nổi Φ≥5 mm

22

1,5 – 2,5

Lượng thức ăn cho cá rô phi tính theo từng tháng nuôi

Thời gian nuôi

Khối lượng thức ăn (% tổng khối lượng cá có trong ao nuôi)

Tháng 1

4 – 5

Tháng 2

3 – 4

Tháng 3

2,5 – 3

Từ tháng thứ 4 trở đi

2 – 2,5

Để tính tỷ lệ % tăng trưởng của cá, hàng tháng bà con tiến hành bắt khoảng 30 con để ước chừng. Nếu cá tăng trưởng từ 50 – 60/con thì là tốt.

+ Với phân chuồng:

Bón phân chuồng đã ủ hoai mục, tránh lây lan bệnh tật. Dùng khoảng 30 – 35kg/100m2 ao nuôi.

Chế Độ Ăn Hợp Lý Của Cá Rô Phi / 2023

Trong những năm gần đây sản lượng cá rô phi tăng nhanh chóng, năm 2000 đạt 1,3 triệu tấn (FAO Fishtat, 2002), trong đó Trung Quốc chiếm 50% sản lượng. Nghiên cứu từ CPF Thái Lan đã cho thấy thức ăn viên chứa 20% protein thô có thể tiết kiệm chi phí trong nuôi cá rô phi ao và lồng.

Trong những năm gần đây sản lượng cá rô phi tăng nhanh chóng, năm 2000 đạt 1,3 triệu tấn (FAO Fishtat, 2002), trong đó Trung Quốc chiếm 50% sản lượng. Nghiên cứu từ CPF Thái Lan đã cho thấy thức ăn viên chứa 20% protein thô có thể tiết kiệm chi phí trong nuôi cá rô phi ao và lồng.

Nhu cầu dinh dưỡng của cá rô phi:

Giống như các loại cá khác, cá rô phi cũng cần 10 loại axít amin thiết yếu. Chúng tiêu hoá cácbon hyđrat tốt hơn cá chép và cá trê phi. Việc cung cấp nhiều loại cácbon hyđrat và lipit có tác dụng tăng hiệu quả của protein trong chế độ ăn, với mức protein chiếm 18 – 22%.

Bột cá vẫn là nguồn protein động vật chủ yếu trong thức ăn của cá rô phi, ngoài ra có thể lựa chọn các loại khác như thịt gia cầm, cá ủ xilô, bột tôm, nhuyễn thể… Những protein thực vật được sử dụng nhiều nhất trong thức ăn cá rô phi là đỗ tương, lạc, hạt bông, hạt hướng dương, hạt cải dầu và lá Leucaena sp.

Tuy nhiên, những protein động vật và thực vật trên chỉ có thể thay thế một phần bột cá trong thức ăn của cá rô phi. Ðiều này có thể do sự thiếu cân bằng của các chất dinh dưỡng thiết yếu như các axit amin và các khoáng chất, do sự hiện diện của các nhân tố phi dinh dưỡng làm giảm tính hấp dẫn của thức ăn, giảm tính ổn định của thức ăn trong nước và độ tiêu hoá thức ăn kém. Ðối với chế độ ăn không có bột cá, để đạt được mức tăng trưởng so với chế độ ăn tiêu chuẩn, phải bổ sung thêm 3% dicanxi phosphat và 2% lipit.

Chế độ ăn

Ðể đảm bảo đủ lượng thức ăn, có thể cho cá rô phi chưa trưởng thành (vài tuần tuổi) ăn với tỷ lệ cao bằng 3 – 4% trọng lượng cơ thể trong một ngày. Cá có trọng lượng 250 – 400 gr thì lượng thức ăn hàng ngày tốt nhất là bằng 1,5% trọng lượng cơ thể. Ðối với những loài nuôi trong nước biển thì hằng ngày nên cho ăn lượng thức ăn ít hơn 2% trọng lượng cơ thể.

Số liệu thu được từ những cuộc thử nghiệm về tần suất cho cá rô phi ăn vẫn còn khá mơ hồ. Tung Shiau (1991) chỉ ra rằng cho cá rô phi lai ăn 6 lần/ngày thì cân nặng của chúng tăng nhanh hơn so với cho ăn 2 lần/ngày. Siraj et al.(1988) đạt được sự tăng trưởng và tỷ lệ trao đổi thức ăn (FCR) tốt hơn khi cho cá rô phi lai đỏ ăn ad libitum 2 – 3 lần/ngày.

Thử nghiệm cho ăn

Thử nghiệm 1, để so sánh hiệu suất của hai loại thức ăn cho cá rô phi (loại 20 và loại 25% protein thô). Trong thử nghiệm này, cá rô phi lai đỏ (O.mossambicus x O.hornorum) thả nuôi trong 8 lồng 100 m3 với mật độ 5000 con/lồng. Treo các lồng trong ao có diện tích 01 ha. 4 lồng đầu, nuôi trong 144 ngày cho cá ăn ad limitum 4 lần/ngày. Ðộ mặn 15 – 18 ppt và ôxy hoà tan được duy trì ở mức 3,5 ppm (tối thiểu). Nhiệt độ nước trong thời gian thử nghiệm là 28 – 32oC. Ao được trang bị hai quạt nước để lưu thông nước (18 mái chèo và công suất mỗi quạt nước 3 ngựa).

Kết quả chỉ ra rằng không có sự khác nhau nhiều trong các lồng về cân nặng trung bình và tỷ lệ trao đổi thức ăn. Chỉ có sự khác nhau đáng kể là tăng cân nặng trung bình/ ngày của cá. Chi phí cho loại thức ăn chứa 20 và 25% protein tương ứng là 0,322 và 0,388 USD/kg (giá ở Thái Lan).

Với cùng tỷ lệ trao đổi thức ăn như nhau, cá ăn thức ăn chứa 20% protein có chi phí sản suất tương đối thấp. Hiện tại, những người nuôi cá rô phi ở Malaixia và Thái Lan thích sử dụng thức ăn chứa 20% protein hơn. Chi phí thức ăn giảm 17%, vì thức ăn chiếm 50% sản lượng nên tổng chi phí có thể giảm 8,5%.

Thử nghiệm 2 để xác định ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến sự tăng trưởng của cá rô phi Trong thử nghiệm này, cá rô phi lai đỏ (O.mossambicus x O.hornorum) có trọng lượng trung bình 320 gr được nuôi trong 12 lồng, thể tích mỗi lồng 100 m3 với mật độ 3800 con/lồng. Các lồng được treo trong ao rộng 01 ha và được ăn thức ăn chế biến sẵn trong cả quá trình nuôi. Cá được cho ăn ad libitum hai, ba và bốn lần/ngày. Sử dụng thức ăn chứa 25% protein trong 60 ngày thử nghiệm. Kết quả có sự khác nhau đáng kể trong quần thể về trọng lượng cá trung bình, tỷ lệ trao đổi thức ăn và khối lượng tăng trung bình hàng ngày. Cho ăn ad libitum ba và bốn lần/ngày thích hợp cho cá rô phi trong giai đoạn tăng trưởng. Cho ăn hai lần/ngày dẫn đến tỷ lệ chuyển hoá thức ăn nhiều hơn.

Ðặc điểm kỹ thuật và công thức của thức ăn

Ðặc điểm kỹ thuật trong thức ăn của cá rô phi phụ thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng trong từng điều kiện nuôi. Ðặc điểm này phụ thuộc vào loại hình nuôi, loại thức ăn chế biến, giá trị sản phẩm và nguồn thức ăn có nhiều ở các quốc gia Trong thành phần thức ăn chế biến sẵn cho cá rô phi ở Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung Quốc, những nguyên liệu thô có sẵn ở địa phương thường chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt là nguồn cácbon hyđrat ví dụ như cám gạo, cám lúa mỳ, ngô, bột sắn. Những nguyên liệu thô này có tính mùa vụ nhưng thực tế đã chứng minh là chúng có chất lượng cao và mang lại hiệu quả lớn.

Lời khuyên về chế độ ăn

Tỷ lệ cho ăn và tần suất cho ăn ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá và tỷ lệ trao đổi thức ăn. Tỷ lệ cho ăn cao có thể làm cho cá tăng trưởng tốt nhưng không xác định được độ chuyển hoá thức ăn. Bảng sau chỉ ra loại thức ăn và chế độ cho ăn nên được sử dụng rộng rãi trong nuôi thâm canh cá rô phi ao và lồng ở Ðông Nam á. Bảng chế độ ăn này có thể áp dụng với điều kiện nuôi có nhiệt độ nước 28 – 32oC. ở điều kiện nhiệt độ cao hơn hay thấp hơn thì cần điều chỉnh tỷ lệ và tần suất cho ăn hợp lý.

Để không mất nhiều công sức và thời gian để chuận bị thức ăn cho đàn cá, bà con nên tham khảo sản phẩm MÁY CHẾ BIẾN THỨC ĂN ĐA NĂNG

Công Thức Mới Trong Thức Ăn Của Cá Rô Phi / 2023

Công thức mới trong thức ăn của cá rô phi

Đặc điểm kỹ thuật trong thức ăn của cá rô phi phụ thuộc vào nhu cầu dinh dưỡng trong từng điều kiện nuôi. Cũng giống như các loại cá khác, cá rô phi cũng cần 10 loại axit amin thiết yếu, chúng tiêu hóa cácbon hyđrát tốt hơn cá chép và cá trê phi. Việc cung cấp nhiều loại cácbon hyđrát và lipit có tác dụng tăng hiệu quả của protein trong chế độ ăn, với mức protein chiếm 18 – 22%. Rất khó xác định những vitamin và khoáng chất thích hợp trong chế độ dinh dưỡng của cá rô phi. Để giải quyết vấn đề này, một số nghiên cứu đã được tiến hành.

Thử nghiệm cho ăn

Thử nghiệm 1:

So sánh hiệu suất của 2 loại thức ăn cho cá rô phi (loại 20 và loại 25% protein thô), thử nghiệm này, cá rô phi lai đỏ thả nuôi trong 8 lồng 100m3, với mật độ 5000 con/lồng. Treo các lồng trong ao có diện tích 1 ha, 4 lồng đầu nuôi trong 144 ngày cho cá ăn adlimitum 4 lần/ngày. Độ mặn 15 – 18 ppt và ôxy hòa tan được duy trì ở mức 3,5ppm (tối thiểu). Nhiệt độ nước trong thời gian thử nghiệm 28 – 320C. Ao được trang bị 2 quạt nước để lưu thông nước.

Kết quả: Không có sự khác nhau nhiều trong các lồng về cân nặng trung bình và tỉ lệ trao đổi thức ăn. Chỉ có sự khác nhau đáng kể là tăng cân nặng trung bình/ngày của cá. Chi phí cho loại thức ăn chứa 20 và 25% protein tương ứng là 0,322 và 0,388 USD/kg (giá ở Thái Lan).

Với cùng tỷ lệ trao đổi thức ăn như nhau, cá ăn thức ăn chứa 20% protein có chi phí SX tương đối thấp.

Thử nghiệm 2:

Xác định ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến sự tăng trưởng của cá rô phi.

Cá rô phi lai đỏ có trọng lượng trung bình 320g được nuôi trong 12 lồng, thể tích mỗi lồng 100m3, mật độ 3800 con/lồng. Các lồng được treo trong ao rộng 1 ha và được ăn thức ăn chế biến sẵn trong các quá trình nuôi. Cá được cho ăn ad libitum hai, ba và bốn lần/ngày. Sử dụng thức ăn chứa 25% protein trong 60 ngày thử nghiệm.

Kết quả: Có sự khác nhau đáng kể trong quần thể về trọng lượng cá trung bình, tỷ lệ trao đổi thức ăn và khối lượng tăng trung bình hàng ngày. Cho ăn ad libitum ba và bốn lần/ngày thích hợp cho cá rô phi trong giai đoạn tăng trưởng. Cho ăn 2 lần/ngày dẫn đến tỷ lệ chuyển hóa thức ăn nhiều hơn.

Chế độ cho ăn: Đảm bảo đủ lượng thức ăn, có thể cho cá rô phi chưa trưởng thành (vài tuần tuổi) ăn với tỷ lệ cao bằng 3 – 4% trọng lượng cơ thể trong 1 ngày. Cá có trọng lượng 250 – 400g thì thức ăn hàng ngày tốt nhất là bằng 15% trọng lượng cơ thể. Đối với những loài nuôi trong nước biển thì hàng ngày nên cho ăn lượng thức ăn ít hơn 2% trọng lượng cơ thể.

Hình thức nuôi

Nuôi cá rô phi lồng: Nuôi lồng có vốn đầu tư và chi phí hoạt động thấp hơn nhiều so với nuôi ao và nuôi bể. Cụ thể là cá được nuôi với mật độ cao và được cho ăn toàn bộ. Mật độ nuôi phải tùy theo lượng ôxy có trong nước nuôi.

Kết hợp nuôi ao và nuôi lồng: Việc kết hợp này cho phép quản lý số lượng cá thể và thu hoạch cá. Cho cá ăn các thức ăn chế biến sẵn chứa 20 – 32% protein thô. Các cuộc thử nghiệm nhằm xác định hiệu suất nuôi cá rô phi lồng (100m3/lồng) trong điều kiện độ mặn 15 – 20ppt và nhiệt độ 28 – 320C, với năng suất 20,4; 20,9 và 21,2 tấn/ha/vụ, tương ứng với thời gian nuôi là 143; 154 và 167 ngày. Mật độ thả 16300; 16500; 15300 tương ứng với trọng lượng cá là 127g; 149g và 145g. Các ao nuôi được lắp đặt các guồng quạt nước.

Lời khuyên về chế độ cho ăn: Cá rô phi có thói quen ăn uống đa dạng, nên yêu cầu về chế độ ăn của chúng rất linh hoạt.

ĐOÀN GIANG, Theo tài liệu TT thông tin Khoa học và kinh tế Thủy sản, NNVN, 26/9/2003

 Nhấn vào đây để xem tất cả các thông tin kỹ thuật nuôi cá rô phi

Kỹ Thuật Sản Xuất Cá Rô Phi Giống / 2023

2. KỸ THUẬT CHO CÁ ĐẺ TỰ NHIÊN 2.1. Cho cá đẻ trong ao

– Ao cho cá đẻ rộng từ 300 -1.000 m2, nền đáy là cát pha sét, ít bùn để cá dễ làm tổ. Trước khi thả cá bỗ mẹ, phải tát vét sạch bùn và tẩy dọn ao bằng vôi bột liều lượng 7-10 kg/100 m2 ao, dọn sạch cỏ rác xung quanh ao. Phơi đáy ao 3 – 5 ngày để diệt mầm bệnh, sau đó lấy nước vào ao. Khi lấy nước vào ao phải lọc qua lưới để tránh cá tạp vào theo. Bón phân gây màu nước từ 5 – 7 ngày trước khi thả cá bố mẹ vào ao với lượng từ 10 – 15 kg phân chuồng đã ủ kỹ, hoai mục, hoặc 3 kg đạm (urê) + 2 kg lân cho 100 m2 ao. Khi bón, hòa đạm vào nước rải khắp mặt ao, sau đó hòa lân và rải sau. Bón phân cho ao từ 8 – 10 giờ sáng khi có mặt trời sẽ hiệu quả nhất.

– Tiến hành tuyển chọn cá khỏe mạnh cỡ 300 – 500 g/con làm cá bố mẹ, không bị xây sát vây, vảy (ở các tỉnh phía Bác, sau khi lưu giữ cá qua mùa đông sẽ tuyển chọn cá bố mẹ). Chọn tỷ lệ đực cái là 1 đực : 1 cái hoặc 1 đực : 2 cái, thả với mật độ 2 con/m2. Thời gian nuôi vỗ trong ao từ 15 – 20 ngày, cho cá ăn bằng thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm 30 – 35%, lượng cho ăn hàng ngày bằng 1,5-2% khối lượng cá nuôi trong ao. Ở nhiệt độ thích hợp từ 24 – 32°C, cá sẽ đẻ sau 10 – 15 ngày kể từ khi thả cá bố mẹ vào ao, sau khi cá đẻ 15 – 17 ngày sẽ thu cá bột. Có 2 cách thu cá bột:

+ Dùng lưới thưa 2 a = 10 -12 cm kéo dồn cá bố mẹ vào một góc ao, bắt cá bố mẹ ra khỏi ao cho đẻ, chuyển sang ao khác nuôi vỗ để cho đẻ lứa tiếp theo và dùng chính ao cho đẻ để ương cá bột.

+ Dùng vợt vớt cá bột để lại cá bố mẹ trong ao để cho đẻ lứa tiếp theo.

Việc cho cá rô phi đẻ trong ao có một số hạn chế như: Khi bắt cá bố mẹ ra khỏi ao sẽ ảnh hường đến cá bột trong ao, còn nếu dùng vợt để thu cá bột sẽ không thu được hết cá bột. Vì vậy, phương pháp áp dụng phổ biến hiện nay là cho cá rô phi đẻ trong giai và ấp trứng cá trong bình vây hoặc trong khay để thu được lượng cá bột cùng cỡ.

– Trong quy trình sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng phương pháp cho ăn hoóc-môn, đã áp dụng rộng rải việc cho cá rô phi đẻ trong giai và ấp trứng cá trong khay.

2.2. Cho cá đẻ trong giai a. Kích thước, cấu tạo của giai

– Giai cho cá đẻ có kích thước 8 x 5 x 1,5 m, hình khối chữ nhật có 4 mặt và một đáy dưới, được làm bằng sợi lưới cước mắt mịn 1 mm.

– Đặt giai trong ao, hồ nơi nước sạch và đặt ngập nước 1 m, cách đáy ao, hồ từ 0,3 – 0,5 m

Giai cho cá đẻ theo gia đình Giai cho cá đẻ

– Ngoài ra, còn có loại giai cho cá đẻ theo gia đình có kích thước nhỏ 3 – 3,5 m2 (kích thước 1,5 x 2 x 1 -1,2 m) làm bằng lướỉ mịn, mềm, được dùng cho từng cặp cá bố mẹ đã được chọn lọc sinh sản,

b. Chuẩn bị ao và cắm giai

– Ao cắm giai phải thoáng, rộng từ 1.000 – 5.000 m2, được làm sạch, tẩy dọn, lấy nước, gây màu thức ăn tự nhỉên như đối với ao cho cá sinh sản, nhưng mức nước sâu từ 1,2 -1,5 m.

– Vị trí cắm giai phải đảm bảo mức nước trong giai từ 0,8 -1 m. Nên cắm gỉaỉ dọc 2 bên bờ ao, khoảng cách giữa 2 giai là 0,5 m. Tổng diện tích giai cắm trong ao nhỏ hơn 60% diện tích ao.

c. Chọn cá bố mẹ đưa vào gỉaỉ cho đẻ

– Từ trung tuần tháng 3 tỉến hành chọn cá bố mẹ đưa vào giai cho đẻ.

– Chọn cá khỏe cỡ từ 200 – 300 g/con, không bị xây sát vây, vảy. Cá cái có bụng to đều, cá đực có vây đuôỉ, vây lưng, vây bụng màu sắc sặc sở. Tỷ lệ đực cáỉ là 1 đực : 1 cái hoặc 1 đực : 2 cái, thả vào giaỉ với mật độ 3 – 7 con/m2.

– Sau khi thả 5 – 7 ngày, kiểm tra trứng từ miệng cá cái để phát hiện cá đẻ và thu trứng đỉ ấp. Chu kỳ giữa 2 lấn thu trứng khoảng 5 ngày ở nhỉệt độ 26 – 30°C. Cho trứng vào khay hoặc bình vảy đế ấp. Sau khi cá bột tiêu hết noãn hoàng, đem cá bột đi ương.

Ngoàỉ ra, nên có thêm 1 giai để nuôi riêng cá cái. Nuôi rỉêng cá cáỉ, cho ăn tốt, buồng trứng sẽ phát triển đều trong cùng một thời gian nên khi bổ sung vào giai sinh sản sẽ thu đuợc nhỉều trứng hơn trong 1 lần thu ở 1 giai,

3. KỶ THUẬT SẢN XUẤT CÁ RÔ PHI ĐƠN TÍNH ĐỰC BẰNG PHƯƠNG PHÁP HOÓC-MÔN Sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng phương pháp cho ăn ho óc môn là phương pháp phổ biến, rẽ tiền và dễ áp dụng

Sơ đồ tóm tắt quy trình:

3.1. Tuyển chọn và nuôì vổ béo cá bố mẹ

a. Tuyển chọn cá bố mẹ

Cá bố mẹ được tuyển chọn là gỉống cá rô phi có khả năng sinh trưởng nhanh, ngoại hình đẹp, tốt nhất là cá rô phi vằn dòng GIFT hoặc dòng Thái. Cá bố mẹ được tuyển chọn phải khỏe mạnh, không xây sát cỡ trung binh 0,3 0,4 kg/con. Không chọn cá bố mẹ cỡ quá lớn vì khó thao tác khi thu trứng, nuôi tốn nhiều thức ăn và năng suất sinh sản không cao

– Chọn cá đực có ngoại hình cân đối, thân màu sáng, hồng nhạt, hầu cá và các vây chẵn, vây đuôi màu đỏ tươi

– Chọn cá cái có phần phụ sinh dục hình báu dụt dẹt, có 3 lỗ thân màu xám nhạt, hầu và bụng màu vàng nhạt

b. Kỹ thuật nuôi vỗ

– Ao nuôi vỗ rộng từ 300 – 1,000 m2, mực mước từ 1,2 m, pH 6,5 – 8,5, ôxy hòa tan luôn trên 3 mg/lít, gần nguồn nước sạch để chủ động thay nước

– Chuẩn bị kỹ ao bằng cách làm cạn nước, vét bùn đổ ra xa ao, lượng bùn còn trong ao càng ít càng tốt. Rải vôi bột khắp đáy ao với liều lượng 7-10 kg/100 m2, sau đó phơi đáy ao 2 – 3 ngày rồi lấy nước lọc qua lưới mịn vào ao cho đủ mức nước theo quy định.

– Sau khi tuyển chọn, tách cá đực và cá cái nuôi trong các ao nuôi vỗ riêng biệt với mật độ 2 – 3 con/m2 ao nuôi vỗ, cho ăn bằng thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm cao 30 – 35%, lượng cho ăn bằng 1,5 – 2% khối lượng cá nuôi trong ao. Thức ăn cho cá bố mẹ có thể tự phối trộn theo 2 công thức sau, được chế biến và đùn thành viên để tránh thất thoát khi cho cá ăn:

+ Công thức 1: Bột cá 30%, đậu tương 15%, cám gạo 37%, ngô 12%, bột sắn 5%, vi khoáng 1%.

+ Công thức 2: Bột cá 20%, khô đậu 25%, cám gạo 40%, ngô 10%, bột sắn 4%, vi khoáng 1%.

– Thời gian nuôi vỗ là 1,5 tháng trước khi cho cá sinh sản. Cần kiểm tra độ thành thục và độ béo của cá sau 1 tháng nuôi vỗ để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Nếu cá quá béo (mổ cá thấy trong bụng có nhiều dải mỡ màu trắng) nên giảm lượng cho ăn xuống 1% trong nửa tháng còn lại.

– Mùa vụ cho cá rô phi sinh sản tập trung ở các tỉnh phía Bắc từ tháng 4-7 và tháng 9-10, ở các tỉnh phía Nam có thể sản xuất giống cá rô phi quanh năm.

– Trong khi nuôi vỗ, cần tránh hiện tượng cá nổi đầu do thiếu ôxy bằng cách bơm thêm nước mới, sử dụng máy quạt khi hoặc thay nước cho ao, đặc biệt vào những ngày thời tiết thay đổi, không có nắng.

3.2 Chăm sóc cá bố mẹ sinh sản và thu trứng a. Bố trí giai và ao cho cá sinh sản

Tỷ lệ ghép cá đực: cá cái là 1 đực: 1,5 cái hoặc 1 đực: 2 cái khi cho chúng tham gia sinh sản

– Ao sinh sản có diện tích rộng 300 – 1.000 m2, sâu 1 – 1,2 m nước, đáy cứng ít bùn và phẳng để thuận tiện khi thu trứng. Quá trình tẩy dọn ao sinh sản giống như với ao nuôi vỗ. Sau khi lấy đủ nước 1 – 2 ngày, thả cá bố mẹ vào ao với mật độ 2 -3 con/m2

– Giai sinh sản rộng 20 -40 m2, đáy giai làm bằng lưới mắt mịn 1 mm, thành giai làm bằng lưới A10 hoặc A12. Giai có độ sâu 1 – 1,2 m, phần ngập nước 0,8 – 1 m và cao hơn mức nước ao từ 0,2 – 0,4 m. Giai được cắm trong ao cho đẻ có mức nước sâu 1,2 – 1,5 m. Giai được cắm trong ao không nên quá 60% diện tích mặt nước nhằm đảm bảo độ thoáng cho cá bố mẹ nuôi trong giai. Mật độ cá bố mẹ sinh sản trong giai 6 – 8 con /m2

b. Chăm sóc cá bố mẹ sinh sản

Sau khi thả ghép cá đực, cái, cho cá ăn bằng thức ăn có hàm lượng đạm 20 – 30%, khẩu phần cho ăn là 1 – 1,5% khối lượng cá/ ngày. Quản lý chất lượng nước sạch, thay nước khi nước ao quá bẩn. Trong quá trình cho cá đẻ, hạn chế tối đa khả năng cá bị thiếu ôxy và cá nổi đầu bằng cách quạt khí hoặc bơm thêm nước mới.

c. Thu trứng

Thu trứng trong giai: Tiến hành khi trời mát vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát. Khoảng cách giữa hai đợt thu trứng tùy theo nhiệt độ nước: Ở nhiệt độ 25 – 30°C thì 7 – 10 ngày thu trứng 1 lần, ở nhiệt độ nước 22 – 25°C thì 10 – 12 ngày thu trứng 1 lần. Với thời gian như vậy, thường thu được trứng cá ở giai đoạn 3 hoặc cá bột chưa tiêu hết noãn hoàng, tỷ lệ ấp nở rất cao. Nếu thu quá mau sẽ thu được trứng ở giai đoạn 1 và 2, có tỷ lệ nở thấp.

Khi thu trứng, bố trí 2 người dùng 1 sào tre dài, nhẵn, luồn dưới đáy giai để dồn cá vào một góc giai, sau đó thu trứng ở những cá sinh sản. Mỗi người phảỉ sử dụng 2 vợt, 1 vợt lưới mau và 1 vợt lưới thưa. Vợt thưa dùng để xúc cá bố mẹ, kiểm tra miệng cá cái có trứng hay không. Nếu cá cái có trứng, đặt ngay cá và vợt thưa vào trong vợt mau, sau đó rũ trứng từ miệng cá cái vào vợt. Trứng cá được giữ tại trong vợt mau. Cá cái sau khi rũ hết trứng được thả lại vào giai. Trứng của mỗi cá thể được để riêng trong từng bát to, sau đó sẽ phân chia giai đoạn. Trứng cùng một giai đoạn có thể đổ chung vào 1 bát.

– Thu trứng trong ao: Dùng lưới thưa kéo gom cá bố mẹ vào một góc, dùng cọc tre cắm để giữ cá trong lưới. Tránh dồn cá quá dày vì khi quẫy mạnh, cá mẹ sẽ nhả hết trứng. Dùng sào tre ngăn từng phần lưới để bắt cá mẹ kiểm tra và thu trứng. Cá bố mẹ sau khi thu trứng được giữ lại trong giai. Kéo một mẻ tiếp theo để thu trứng ở những cá còn lại ngoài ao. Sau khi thu hết trứng, thả toàn bộ cá trong giai trở lại ao.

Dựa vào hình thái ngoài của trứng để phân chia trứng thành 4 giai đoạn:

Các giai đoạn phát triển của trứng cá rô phi

+ Giai đoạn I: Trứng vừa mới đẻ, hình quả lê màu vàng nhạt.

+ Giai đoạn II: Trứng đã chuyển sang màu vàng sẫm.

+ Giai đoạn III: Phôi đã phát triển nhưng chưa nở, có 2 điểm mắt màu đen.

+ Giai đoạn IV: Cá bột vừa mới nở ra, bơi vòng tròn, dưới bụng còn khối noãn hoàng to.

Trứng sau khi phân loại được rửa nhẹ nhàng bằng nước sạch, lọc qua vợt để loại bỏ vảy cá và tạp chất, sau đó chuyển vào bình ấp hoặc khay ấp.

3.3. Ấp trứng

– Ấp trứng từ giai đoạn I đến giai đoạn III trong bình ấp, trứng giai đoạn IV được đưa vào khay ấp.

– Bình ấp hình trụ, có đáy hình cầu lõm trơn bóng, đường kính 16-20 cm, chiều cao 35 – 50 cm. Mật độ ấp trứng tối đa là 90.000 trứng/lít. Điều chỉnh lưu tốc nước bằng van sao cho trứng được đảo đều nhẹ nhàng. Trong quá trình ấp trứng, thường xuyên theo dõi trứng trong bình, ngay sau khi trứng nở thành cá bột chuyển toàn bộ cá bột mới nở ra ấp trong khay.

– Khay ấp có chiều rộng 25 cm, dài 30 – 40 cm, cao 7 – 9 cm. Hai thành khay mỗi bên có 3 dãy lổ đường kính 1 cm và được bịt bằng lưới mịn có cỡ mắt lưới 1 mm. Mật độ trứng ấp trong 1 khay tối đa là 15.000 trứng. Lượng nước được điều chỉnh bằng van điều tốc sao cho trứng được đảo đều nhẹ nhàng.

Bình ấp trứng cá rô phi Khay ấp trứng cá rô phi

– Trứng hỏng trong bình tự động nổi lên và trôi ra ngoài, trứng hỏng trong khay sẽ vỡ và bám vào lưới lọc nên cứ 2 – 3 giờ một lần dùng bàn chải đánh răng chải nhẹ trên lưới lọc làm sạch lưới. Tránh để nước dâng cao làm tràn khay, trứng không được đảo đều sẽ bị hỏng.

-Trong điều kiện nhiệt độ ổn định từ 28 – 30°C, sau 5 – 7 ngày sẽ thành cá bột tiêu hết noãn hoàng. Cá bột tiêu hết noãn hoàng được cân mẫu, định lượng và chuyển ra giai ương. Nếu chưa chuyển kịp, có thể giữ cá bột trên khay từ 1 – 2 ngày, cho ăn bằng bột cá mịn. Trứng ấp nở theo phương pháp này rất thích hợp để xử lý chuyển gịớỉ tính thành cá đực bằng hoóc-môn.

Hệ thống khay ấp trứng cá rô phi

3.4. Xử lỷ cá bột

– Ao cắm giai xử lý cá bột rộng từ 200 – 1.000 m2, độ sâu 1,2 -1,5 m, được tát cạn, tẩy dọn như ao nuôi vỗ cá bố mẹ nhưng không bón phân hữu cơ hoặc vô cơ.

– Giai xử lý cá bột là giai có cỡ mắt lưới mau 1 mm, diện tích giai 1 – 4 m2, độ sâu của giai 1 m. có thể nuôi với mật độ 10.000 – 15.000 cá bột/giai 1 m, hoặc 30.000 – 45.000 cá bột/giai 4 m2

– Thời gian xử lý, chăm sóc và quản lý: Thời gian cho cá ăn thức ăn đã trộn hoóc-môn là 21 ngày để chuyển thành cá đực. Thành phẩn thức ăn gồm bột cá nhạt, Vitamin C và 17a Metyỉtestosterone, được phối trộn như sau: Trộn đều 10 g Vitamin C vào 1.000 g bột cá nhạt đã nghiền mịn. Hòa tan 60 mg 17a Metyltestosterone vào 0,5 lít cồn Etanol 96% và lắc cho hoóc-môn tan đều trong cồn. Trộn đều lượng cồn đã hòa tan hoóc-môn vào hỗn hợp cá, hong khô ở nơi thoáng mát, tránh ánh sáng trực tiếp hoặc sấy khô ở nhiệt độ 45 – 50°C. Sau khi khô, bảo quản thức ăn trong túi ni-lông và sử dụng trong 2 tuần.

– Lượng thức ăn trong thời gian xử lý như sau: 5 ngày đầu cho ăn 25% trọng lượng cá; 5 ngày tiếp theo cho ăn 20% trọng lượng cá; 5 ngày kế tiếp cho ăn 15% trọng lượng cá; 6 ngày cuối cùng cho ăn 10% trọng lượng cá.

– Chia đều lượng thức ăn trong ngày thành 4 phần, cho ăn 4 lần vào lúc 8 giờ, 11 giờ, 14 giờ và 16 giờ.

– Để biết chính xác lượng cá trong giai, có thể cân mẫu hoặc cân toàn bộ lượng cá sau 5 ngày bằng cân điện tử.

– Trong thời gian xử lý, 10 ngày thay giai 1 lần để đảm bảo độ thoáng, tránh tảo bám vào giai làm hạn chế lưu thông nước bên trong và bên ngoài giai. Khi thiếu ôxy, cá sẽ kém ăn và hao hụt nhiều, tỷ lệ chuyển giới tính sẽ không cao.

– Thường xuyên theo dõi bệnh cá để có biện pháp phòng trị kịp thời vì cá nuôi ở mật độ cao thường hay mắc bệnh ký sinh trùng.

3.5. Kết quả

Áp dụng quy trình công nghệ này, tỷ lệ cá 21 ngày tuổi thu được là 70 – 75% với cỡ 15.000 – 10.000 cá thể/kg. Tỷ lệ cá đực trong quần đàn từ 95% trở lên.

Cập nhật thông tin chi tiết về Cá Rô Phi Ăn Gì? Trọn Bộ Kỹ Thuật Chế Biến Thức Ăn Cho Cá Rô Phi / 2023 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!