Xu Hướng 2/2023 # Bột Cá Peru Và Cái Đích Bền Vững – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 7 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Bột Cá Peru Và Cái Đích Bền Vững – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Bột Cá Peru Và Cái Đích Bền Vững – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chặng đường khó khăn

1957 – 1958 là khoảng thời gian ngành thủy sản Peru thất thu, sản lượng chỉ đạt hơn 1 triệu tấn mỗi năm do ảnh hưởng El Nino và trữ lượng cá cơm cũng chịu tác động không nhỏ. Để quản lý nghề khai thác cá một cách khoa học, Chính phủ Peru và FAO đã thành lập Viện Nghiên cứu Biển vào năm 1960 và đến năm 1964 thì tách ra thành Viện Nghiên cứu biển Peru (IMARPE), với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc. Trải qua nhiều năm, IMARPE được điều hành bởi 50 nhà khoa học người Peru và rất nhiều chuyên viên lưu trú của FAO, trực tiếp cung cấp thông tin khoa học và định hướng cho ngành khai thác thủy sản.

Cá cơm – nguyên liệu chế biến bột cá tại Peru – Ảnh: Nguồn NPR

Các nhà khoa học bắt đầu tính đến việc áp dụng khái niệm sản lượng bền vững tối đa trong khai thác thủy sản vào năm 1965 và trong năm đó cũng cho đóng cửa vụ khai thác đầu tiên để bảo tồn nguồn lợi. Những năm tiếp sau đó, IMARPE cũng ban hành hạn chế khai thác theo lộ trình, sản lượng bền vững tối đa ước khoảng 7,5 tấn. Tới năm 1970, số nhà máy chế biến bột cá giảm từ 100 xuống 50, và công nhân cũng giảm từ 25.000 xuống 12.000 người. Để trữ lượng cá cơm được phục hồi, một số ngư trường ngoài khơi phía Bắc và trung tâm biển Peru bị đóng cửa vào năm 1973; chỉ có ngư trường phía Nam duy trì hoạt động. Sản lượng cá cơm những năm 1974 – 1976 trung bình khoảng 4 tấn, dưới mức dự đoán là 7,54 tấn và không đủ phục vụ nhu cầu của ngành với 50 nhà máy chế biến, 800 tàu khai thác và 12.000 công nhân.

An toàn và bền vững 

10 năm trở lại đây, Peru đã nỗ lực cải thiện nguồn cung bột cá đảm bảo tính an toàn, sản xuất theo phương thức an toàn và chất lượng đỉnh cao. Việc đầu tiên cần cải thiện đó là công nghệ chế biến. Thập niên trước, quá trình chế biến cá cơm thành bột cá và dầu cá đã được cải thiện triệt để kết nối với các yếu tố: chứng nhận GMP + Đảm bảo thức ăn an toàn (FSA); thắt chặt luật quản lý và nâng cấp máy móc chế biến. Tuy nhiên, số lượng chứng nhận GMP + FSA giảm từ năm 2013 do sự giảm tạm thời của các nhà máy chế biến khi nguồn cung cá cơm khan hiếm và nâng cấp thiết bị chế biến. Năm ngoái, quá trình mở rộng nhà máy bằng cách kết nối sản xuất và tái thiết nhà máy cũ, hoạt động sản xuất đã tạm dừng và sản lượng giảm 30%.

Hiện, Peru có khoảng 90 nhà máy chế biến bột cá. Các thị trường châu Á ngày càng đề cao những sản phẩm an toàn, bền vững và chứng nhận GMP + FSA trở thành một trong những chứng nhận có tiếng tăm trong khu vực. Từ thập kỷ trước, Chính phủ Peru đã đưa ra các quy định về vệ sinh, kiểm dịch và tiến hành hàng loạt cuộc kiểm tra an toàn vệ sinh bằng cách lấy mẫu bột cá, dầu cá để phân tích vi sinh, kim loại nặng… nhằm đảm bảo chất lượng bột cá xuất khẩu. Ngoài ra, Chính phủ Peru đã có những biện pháp quản lý hiệu quả về thời gian và hạn ngạch khai thác; cùng các chương trình về nghề cá, mùa khai thác và giảm thiểu tác động lên môi trường.

Với bột cá Peru, chất lượng là một tiêu chí quan trọng. Bột cá Peru có hàm lượng dinh dưỡng cao do nguồn cá cơm chế biến được lựa chọn kỹ lưỡng, đảm bảo chất lượng cũng như quy trình chế biến an toàn, vệ sinh. Và thành phẩm cuối cùng luôn đảm bảo lượng ẩm thấp, thời hạn sử dụng lâu và chất lượng ổn định. Độ an toàn của bột cá Peru luôn được đánh gia cao nhờ quá trình sản xuất đảm bảo an toàn tuyệt đối, không nhiễm các chất độc hại như dioxin, PCB, kim loại nặng, thuốc trừ sâu và amin sinh vật. Ngoài ra, phải kể tới các yếu tố khách quan như nguồn nước Thái Bình Dương rất sạch, và vòng đời của cá cơm rất ngắn (tối đa 2,5 năm và thông thường là 1 năm) nên đã tránh được các vấn đề ô nhiễm. Do đó, không khó lý giải nguyên nhân Peru luôn giữ vững vị trí hàng đầu trong ngành bột cá, cùng sản phẩm đạt đỉnh cao chất lượng.

+ Nhà máy chế biến bột cá đầu tiên của Peru được xây dựng năm 1950, ngay sau sự sụp đổ của ngành khai thác cá mòi California. Tuy nhiên, năm 1954, Chính phủ nước này mới chấp thuận phê duyệt dự án phát triển đầu tiên cho ngành công nghiệp bột cá.

+ Tàu khai thác cá cơm lâu đời nhất Peru được chế tạo bằng chất liệu gỗ với tải trọng 40 – 100 tấn. Năm 1960, chúng được thay thế bằng hàng loạt tàu vỏ thép có tải trọng trên 300 tấn. Trong đó, một số tàu được trang bị công nghệ hiện đại nhằm giảm chi phí vận hành và lượng nhân công (dùng lưới kéo, sóng âm thanh dụ cá, ống bơm chân không, lưới nilon…).

+ 70% công ty đạt chứng nhận GMP + FSA tại Peru đều hoạt động trong ngành chế biến bột cá và dầu cá, chủ yếu xuất khẩu sang thị trường châu Âu. Bột cá Peru chiếm 1/3 thị phần trên toàn thế giới.

Kg – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Hiện giá cá điêu hồng được thương lái tới tận bè thu mua với giá 41.000 – 42.000 đ/kg tùy theo loại cá và hình thức bắt cá. Với giá cá thời điểm này, người nuôi cá điêu hồng lồng bè vẫn còn lãi khoảng 11.000 – 12.000 đ/kg.

Ông Lê Minh Sang, nông dân nuôi cá bè ở xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho (Tiền Giang) cho biết, mấy ngày nay các thương lái tới tận bè của nông dân thu mua cá điều hồng với giá 41.000 đ/kg nếu bắt cá bằng ghe đục. Đối với những thương lái bắt cá điêu hồng oxy (cá giữ trong bao ni lông chứa nước có bơm oxy), cá điêu hồng được thu mua với giá 41.500 – 42.000 đ/kg. Tính ra giá cá điêu hồng các loại đã giảm khoảng 2.000 đ/kg so với tuần trước.

Mấy ngày qua, nguồn cung cá điêu hồng tại bè tăng trở lại nên giá cá giảm nhẹ

Theo nhiều nông dân nuôi cá điêu hồng ở xã Thới Sơn, hiện giá thành sản xuất cá điêu hồng trên bè gồm con giống, thức ăn, thuốc thú y, nhân công… trong vòng 6 tháng nuôi cá bình quân khoảng 30.000 đ/kg. Năng suất bình quân mỗi bè nuôi cá điêu hồng thể tích 100 m3 ở địa phương này khoảng 5 tấn cá, nên sau khi trừ mọi chi phí sản xuất nông dân còn lãi từ 55 – 60 triệu đ/bè (tương đương 11.000 – 12.000 đ/kg cá). Thông thường mỗi nông dân nuôi cá bè ở Tiền Giang có từ 4 – 5 bè, thậm chí có tới cả trăm bè, vì vậy nếu chủ bè nào có cá bán trong thời gian gần đây sẽ có lãi hàng trăm triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Thành, một thương lái chuyên thu mua cá điêu hồng cung cấp cho thị trường Tp Hồ Chí Minh cho biết, nguyên nhân khiến giá cá điêu hồng giảm nhẹ trong mấy ngày qua là do nguồn cung cá điêu hồng nuôi bè ở Tiền Giang cũng như ở các tỉnh lân cận có dấu hiệu tăng trở lại. Nhiều chủ bè có cá tới lứa thu hoạch đồng loạt nên giá cá giảm chút đỉnh. Tuy nhiên, giá cá điêu hồng trong thời gian tới sẽ vẫn nằm ở mức cao trên dưới 40.000 đ/kg, do thị trường tiêu thụ cá điêu hồng hiện rất tốt và dịp Quốc Khánh 2/9 cũng đang đến gần.

Mặc dù, giá cá điêu hồng có xu hướng giảm nhưng nhiều nông dân nuôi cá điêu hồng trên bè có kinh nhiệm cũng nhận định giá khó có thể giảm xuống thấp hơn 40.000 đ/kg.

Ông Phan Thế Nhân, nông dân có 5 bè nuôi cá điêu hồng ở xã Thới Sơn, TP Mỹ Tho (Tiền Giang) cho biết, thời gian gần đây giá cá điêu hồng nằm ở mức cao, thậm chí giá cá lúc đỉnh điểm lên tới 44.000 đ/kg, nhưng người nuôi bè chưa dám khôi phục hoàn toàn sản xuất nên sản lượng cá cung cấp cho thị trường không dồi dào như những năm trước.

“Nếu trước đây bình quân mỗi chủ bè có 5 – 6 bè thả nuôi cá thì hiện nay họ chỉ dám thả nuôi 3 – 4 bè, mặc dù giá cá đang ở mức cao. Nguyên nhân là do đợt giá cá điêu hồng thấp dưới giá thành sản xuất năm ngoái (thua lỗ) trong thời gian dài đã làm cho người nuôi cụt vốn, trong khi đó hiện các đại lý kinh doanh thức ăn cá không còn bán thức ăn theo kiểu gối đầu như trước đây. Hiện nay, bình quân nuôi một bè nuôi cá điêu hồng thể tích 100 m3 giai đoạn từ 3 – 6 tháng cần phải có 5 – 7 bao thức ăn cá với giá trị gần 2 triệu đồng/ngày, do đó người nuôi cá không đủ vốn để thả nuôi hết các bè hiện có. Mặt khác, giá cá điêu hồng thời gian gần đây quá bấp bênh, nhiều lúc phải chịu lỗ nặng trong thời gian dài nên người nuôi cá cũng không yên tâm đầu tư vụ nuôi mới”, ông Nhân tâm tư.

Theo số liệu thống kê của ngành chức năng, tuần qua có 26 bè thu hoạch với sản lượng 150 tấn. Từ đầu năm đến nay đã có 856 bè với 16,748 triệu cá giống thả nuôi mới (chủ yếu thả trong quý II/2013), sản lượng thu hoạch 4.297 tấn. Hiện nay, toàn tỉnh có 1.004 bè đang thả nuôi trong tổng số 1.279 bè đang neo đậu (chiếm 78%).

Phương Pháp Ương Cá Bột Thành Cá Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Chuẩn bị ao ương

Tùy thuộc vào diện tích có sẵn của nông hộ, tốt nhất từ 500 – 1.000m2. Ao sâu 1 – 1,5m, đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống. Ao phải chủ động cấp thoát nước khi cần, mặt ao thoáng, bờ ao chắc chắn không có cây rậm.

Trước khi thả cá ương phải sên vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn đáy quá dày. Sửa dọn bờ bọng cho chắc chắn, lấp các lỗ mọi, hang hốc quanh ao. Rào lưới xung quanh ao để ngăn ngừa địch hại của cá lọt vào ao ương. Bón vôi khắp ao, liều lượng 10 – 15 kg/100m2, để diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá và cải tạo nền đáy. Nếu có điều kiện nên đào rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh chất bẩn hay phèn bị rửa trôi xuống ao khi trời mưa. Phơi đáy ao 3 – 5 ngày (vùng phèn không nên phơi đáy ao).

Đối với các ao không có điều kiện tháo cạn nước hoặc muốn diệt hết cá tạp, cá dữ còn trong lớp bùn đáy, dùng rễ dây thuốc cá ngâm một đêm và đập kỹ vắt lấy nước pha loãng tạt đều khắp ao (1kg rễ cho 100m3 nước). Nên thuốc cá vào buổi trưa, vì lúc này nước được nung nóng, cá dễ bị nhiễm độc hơn. Có thể dùng chế phẩm dạng bột có chứa Rotenon được đóng gói sẵn để diệt cá tạp. Lượng dùng theo chỉ dẫn trên bao bì.

Lấy nước vào ao: Nước lấy vào ao ương phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn, có thể thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Kiểm tra pH nước khoảng 6,5 – 8,5 là có thể thả cá.

Cách thả cá bột

Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những địch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày…) chưa kịp phát triển. Sau đó, thức ăn dư thừa của cá bột (bột đậu, cám…) sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng giúp tảo phát triển gây màu cho ao. Trường hợp sau khi lấy nước vào hơn 2 ngày vẫn chưa thả cá bột thì nên tháo cạn nước, cải tạo lại từ đầu. Thả cá bột xuống ao với mật độ khoảng 300 – 500 con/m2. Thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát.

Để tránh xây xát cho cá, nên dùng lưới có kích thước mắt nhỏ – Ảnh: Trần Huy

Trước khi thả, nên ngâm túi cá trong nước khoảng 10 – 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt, sau đó từ từ thả ra ngoài ao. Nếu cá bột chứa trong bao nylon: Thả bao cá xuống ao 10 – 15 phút cho cân bằng nhiệt độ bên trong và bên ngoài bao, sau đó mở miệng bao cho cá ra từ từ. Nếu cá bột chứa trong dụng cụ hở (thau, thùng), thêm từ từ nước ngoài ao vào dụng cụ chứa cá vài lần cho cá quen với nước ao mới, sau 10 – 15 phút chuyển thùng xuống ao, từ từ nghiêng thùng cho cá ra ngoài.

Thức ăn

Trong 10 ngày đầu: cho cá ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá bột/ngày gồm: 5 lòng đỏ trứng + 600g bột đậu nành. Cách cho ăn: Lòng đỏ trứng luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Tạt đều thức ăn khắp ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ , 11 giờ, 17 giờ.

Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: Cho cá ăn bột cá, cám và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá/ngày gồm: 300g đậu nành + 300g cám + 300g bột cá.  Cách cho ăn: Trộn đều 3 loại thức ăn trên sau đó rải đều trên mặt ao. Ngày cho ăn 3 lần.

Từ ngày thứ 21 trở đi giảm bột đậu nành, chỉ cho ăn bột cá và cám, trộn cám với bột cá với tỷ lệ bằng nhau cho cá ăn ngày 2 – 3 lần, lượng thức ăn chiếm khoảng 15 – 20% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn như vậy đến khi cá đạt kích cỡ giống khoảng 300 – 500 con/kg.

Lưu ý: Thức ăn nên trộn thêm Vitamin C liều lượng 30 – 40 mg/kg thức ăn. Sau khoảng 15 – 20 ngày, có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp loại viên nhỏ mảnh có hàm lượng đạm trên 30%.

Chăm sóc quản lý ao ương

Trong quá trình ương hạn chế thay nước, nhưng khi thấy nước ao bẩn hoặc có điều kiện thì nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Hằng ngày, trước khi cho ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ sát hại lẫn nhau. Đảm bảo đủ số lượng và chất lượng thức ăn giúp cá mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao.

Thu hoạch

Sau khi ương 45 – 60 ngày, cá đạt kích cỡ 300 – 700 con/kg tùy loại cá thì thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 tuần, hằng ngày phải luyện cá bằng cách giảm bớt lượng thức ăn (chỉ còn 1/3 – 1/2 so với bình thường) hay cho cá nhịn đói và làm đục nước ao bằng cách dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ kéo cá để tránh cá bị xây xát, kéo lưới dồn cá lại một góc ao trong 10 – 15 phút lúc 9 – 10 giờ sáng, làm liên tục 2 – 4 ngày và nhốt trong vèo trước khi xuất bán.

Trong quá trình thu hoạch, các thao tác phải thật nhanh và nhẹ nhàng, tránh làm cá mệt, nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển.

Nguyễn Thị Phương Dung

Trung tâm Khuyến nông Tiền Giang

“Kỹ thuật sản xuất giống và nuôi cá rô phi

Sách do Nhà xuất bản Nông nghiệp phát hành.      

Tuấn Tú

Nuôi Cá Kiểng “Khủng” – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Chơi cá kiểng là cái thú đam mê của khá nhiều người. Cũng giống như những người chơi hoa kiểng, chim kiểng, nhu cầu của dân chơi cá kiểng luôn thay đổi không ngừng. Ở Tây Ninh, trong khi các loại cá có tiếng như kim long, ngân long, la hán…. chưa “bãi triều”, thì một số người đã “đi tắt đón đầu” thị trường, tìm tòi nuôi loại cá kiểng mới. Đó là cá hải tượng.

Đi tiên phong cho xu hướng mới này có lẽ là ông Ninh, 75 tuổi, ngụ thị trấn Tân Châu (huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh). Hiện nay, ông Ninh đang nuôi 12 con cá hải tượng, trung bình mỗi con nặng khoảng 100kg.

Để nuôi được loài cá “khủng” này, ông phải xây một cái hồ tương đương hồ bơi dành cho người lớn. Hồ cá của ông Ninh có chiều cao 1,5 mét, chiều ngang 10 mét và chiều dài 20 mét. Bên trong hồ lát toàn bộ bằng gạch men, mục đích là để cá không bị trầy vi, tróc vẩy. Trên hồ có lợp tôn cẩn thận để tránh nước mưa và lá cây rụng vào làm ô nhiễm nước. Xung quanh hồ lắp kính chịu lực, qua đó có thể ngắm nhìn cá bơi lội.

Cá hải tượng của ông Ninh đã nặng cả trăm ký

Chủ nhân của đám cá kiểng khổng lồ này phải thuê hẳn một nhân công để chuyên chăm sóc cho cá. Công việc của người này là cho cá ăn mỗi ngày và cứ nửa tháng thay nước cho hồ cá một lần. Trung bình mỗi con cá hải tượng mỗi ngày ăn 1kg thức ăn. Thức ăn của chúng là các loại cá: mè vinh, trắm cỏ, chép, sặc, rô… với giá khoảng 7.000 – 8.000 đồng/kg.

Ông Ninh cho biết: “Tôi mua chúng (cá hải tượng) ở nước ngoài, nuôi đã được 5 năm. Hồi mua chúng mới chỉ bằng ngón tay cái, giá mỗi con 1,5 triệu đồng. Hiện nay, 5 con lớn đã nặng khoảng 120kg, 7 con nhỏ khoảng 80kg. Đã có người hỏi mua cả đàn cá với giá 1,5 tỷ đồng/con nhưng tôi chưa muốn bán”.

Hồ nuôi cá hải tượng của ông Ninh tương đương hồ bơi dành cho người lớn

Ở xã Hiệp Tân (huyện Hoà Thành, Tây Ninh) có anh Vũ, 38 tuổi cũng đang nuôi 8 con cá hải tượng. Lúc anh mua, mỗi con cá hải tượng chỉ bằng ngón chân cái người lớn nhưng đã có giá 2,5 triệu đồng. Thời gian đầu chưa có kinh nghiệm nuôi loại cá này, anh Vũ đã bố trí hồ nuôi cá gần vườn mai kiểng. Do đó, khi anh cho xịt thuốc diệt sâu rầy cho cây mai, hơi thuốc bay vào hồ cá đã khiến đàn cá của anh Vũ bị mù mắt và chết gần hết.

Anh lại phải đầu tư kinh phí gầy dựng lại đàn cá khác. Hiện nay đàn cá hải tượng của anh Vũ rất khoẻ mạnh, mau lớn. Chỉ mới nuôi được 5 tháng mà mỗi con đã to hơn cổ tay người lớn. Anh Vũ cho biết: Loại cá này rất hiếu động, chúng thường nhảy lên khỏi mặt nước khoảng 0,2 mét để đùa giỡn. Chúng tỏ ra rất háu ăn. Mỗi buổi chiều đi làm về, anh Vũ thường ghé chợ mua một ký cá hoặc ếch về làm mồi cho chúng.

Anh biểu diễn cho chúng tôi xem bằng cách cầm con ếch huơ huơ trên mặt hồ, lập tức mấy con cá hải tượng bay lên đớp cái “phập”. Anh Vũ thích thú nói: “Tôi đã từng nuôi nhiều loại cá kiểng nhưng chưa thấy loại nào như loài cá hải tượng này. Chúng bơi lội rất mạnh dạn, ăn uống táo bạo, dễ tạo cho ta cảm giác mạnh. Đi làm về, tôi chỉ cần cho chúng ăn hoặc ngắm nhìn chúng đùa giỡn là quên hết cảm giác mệt nhọc”. 

Cá hải tượng có tên khoa học là Arapaima gigas, có nguồn gốc ở Amazon (Brazil), Colombia. Khi trưởng thành có thể dài tới 5m, nặng tới 400kg. Thân cá dạng tròn, khi còn nhỏ nó màu xanh xám, vây đuôi đen. Khi trưởng thành vây cá chuyển sang màu đỏ, đuôi có viền cam.

So với những loài cá nước ngọt khác, cá hải tượng mau lớn hơn. Sau một năm tuổi, nó nặng tới 4 – 5 kg. Cá 4 – 5 năm tuổi là có thể sinh sản, mỗi lứa có thể đẻ tới 180.000 trứng. Thức ăn của cá hải tượng là các loài cá nhỏ. Chúng có khả năng săn mồi thiện nghệ bằng cách phi thân lên khỏi mặt nước khoảng vài mét để tóm cả chú chim đang đậu trên cây.

Có kích cỡ khủng và lại có hình dáng đẹp, màu sắc bắt mắt nên cá hải tượng được nhiều cư dân Nam Mỹ nuôi làm cá cảnh. Ở Thái Lan, Nhật Bản loài cá này rất được ưa chuộng. Tuy nhiên, ở nhiều nước phương Đông, vì cá hải tượng được coi là cá rồng nên người ta kiêng kỵ, không ăn thịt.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bột Cá Peru Và Cái Đích Bền Vững – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!