Xu Hướng 11/2022 # An Giang: Vươn Lên Khá Giàu Từ Nghề Ương Cá Lóc Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 15 View | Psc.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # An Giang: Vươn Lên Khá Giàu Từ Nghề Ương Cá Lóc Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết An Giang: Vươn Lên Khá Giàu Từ Nghề Ương Cá Lóc Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Psc.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

An Giang đã chuyển đổi diện tích trồng lúa kém sang ương cá lóc giống

Bình quân mỗi công (1.000 m2) đất, người ương có thể đào được 30 hộc. Mỗi hộc có chiều ngang 3 m, dài 4 m và sâu 1,1 m. Một hộc thả nuôi một cặp cá lóc bố mẹ. Toàn huyện Châu Phú hiện có 366 hộ ương nuôi cá lóc giống với 29.000 hộc trên 81 ha, cung cấp cho thị trường khoảng 1,3 tỷ con giống/năm. Trong đó, xã Mỹ Phú có 51,5 ha, xã Khánh Hòa 19 ha và xã Vĩnh Thạnh Trung hơn 4 ha. Ngoài ra, tại huyện Phú Tân cũng có 39 hộ ương bán cá lóc giống với gần 30 ha. Đa số người dân đều chọn cá lóc đầu nhím để ương, bởi được thị trường ưa chuộng.

Nguồn thức ăn chủ yếu của cá giống (cá lòng ròng) là trứng nước. Từ khi cá đẻ rồi ương nuôi đến khi xuất bán, trung bình 8 kg thức ăn sẽ cho ra 1 kg cá giống. Giá mỗi kilogam trứng nước là 18.000 đồng. Mỗi kilogam cá lóc giống được bán dao động ở mức 330.000 – 350.000 đồng. Lúc cao điểm, hút hàng có thể tăng lên trên 400.000 đồng/kg.

Ông Nguyễn Văn Phi ở ấp Vĩnh Quý, xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú có hơn 10 năm ương bán cá lóc giống. Gia đình ông Phi hiện đang nuôi hơn 200 cặp cá lóc bố mẹ trên diện tích 7.000 m2 đất ruộng, với hơn 200 hộc. Ông Phi cho biết: “Từ đầu năm 2018 đến nay, mỗi tháng gia đình ông xuất bán 600 – 800 kg cá lóc giống, giá bán khoảng 310.000 đồng/kg, trừ chi phí đầu tư và công chăm sóc còn lãi 20 – 25 triệu đồng, cao hơn gấp nhiều lần trồng lúa.

Làm Giàu Từ Nuôi Chạch Lấu – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Đặc điểm sinh học

Chạch lấu (Mastacembelus favus) là loài cá nước ngọt có thân màu xanh đậm hoặc đen xám, trên thân có nhiều đốm vàng hình tròn hoặc bầu dục; vây lưng, vây hậu môn và vây ngực có đốm đen nhỏ; không có vây bụng.

Ở Việt Nam, cá này được gọi theo các tên: chạch lấu, chạch bông (Nam bộ), chạch chấu, chạch làn (Trung bộ và Bắc bộ). Được phân bố ở hầu hết các tỉnh, chạch lấu ưa sống tại các khe đá thuộc sông suối, nơi có dòng nước chảy xiết, hàm lượng ôxy hòa tan cao. Khi còn nhỏ, thức ăn chủ yếu của cá là giun, ấu trùng côn trùng, giáp xác nhỏ. Khi lớn, cá ăn côn trùng trưởng thành, tôm tép, cá nhỏ và mùn bã hữu cơ.

Ngoài tự nhiên, tăng trưởng của cá chạch lấu sau 1 năm tuổi có thể đạt 150 – 250g, dài 18 – 25cm; sau 2 năm đạt 450 – 500g, dài 35 – 40cm. Chúng thành thục và sinh sản sau 2 – 3 năm; con đực thường lớn hơn con cái, dẫu cùng tuổi. Con cái có sức sinh sản 4.500 – 7.500 trứng/lần; trứng có kích thước nhỏ, màu vàng. Cá thường sinh sản vào mùa mưa lũ, nước đục, từ tháng 6 đến tháng 9; nơi sinh sản là hang hốc, khe đá ngầm ven sông suối.

Trong quá trình ương nuôi, nếu sử dụng thức ăn tươi sống, nhất là trùn chỉ, tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của chạch lấu sẽ cao hơn so với thức ăn khác.

Loài nuôi tiềm năng

Với giá bán thương phẩm trên thị trường 350.000 – 400.000 đồng/kg, hiện nay phần lớn cá được các nhà hàng khách sạn tiêu thụ và luôn trong tình trạng cung không đủ cầu. 

Quy trình sinh sản nhân tạo và ương nuôi giống cá chạch lấu đã được Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học An Giang nghiên cứu, hoàn thiện và nhân rộng ra các trại giống trên cả nước, mỗi năm sản xuất hàng chục vạn con giống với giá bán 8.000 – 10.000 đồng/con (cỡ 8 – 10cm).

Chạch lấu đang được nuôi chủ yếu ở 3 loại hình: lồng bè, bể, ao đất. Thức ăn cung cấp cho chúng từ nguồn tôm cua, cá tạp tự nhiên.

Nuôi chạch lấu trong ao đất diện tích nhỏ, trong bể là giải pháp thực tiễn cho những nơi diện tích đất bị thu hẹp. Ở miền Bắc, mô hình nuôi cá chạch lấu phát triển mạnh tại các huyện Tứ Kỳ, Cẩm Giàng, Gia Lộc (tỉnh Hải Dương), nguồn giống chủ yếu được cung cấp bởi Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1.

Ở miền Nam, năm 2012, Sở Khoa học và Công nghệ Kiên Giang đã xây dựng mô hình nuôi chạch lấu thương phẩm trên diện tích 1.400m²; mật độ thả 6 con/m2; sử dụng cá tạp, cua, ốc, tép làm thức ăn. Sau 10 tháng, cá phát triển tốt, ít bệnh, tỷ lệ sống đạt 80%, trọng lượng đạt 0,3 kg/con, ước tính sản lượng khoảng 2 tấn, trừ chi phí (giống, thức ăn, thuê ao) còn lãi 200 – 300 triệu đồng.

Cần cân nhắc khi nuôi

Cá chạch lấu giống đã được sản xuất và bán ở hầu hết các địa phương trên cả nước, rất phù hợp các hộ nông dân có diện tích nuôi nhỏ lẻ. Tuy nhiên, loài cá này có tốc độ sinh trưởng chậm, thời gian nuôi dài (10 tháng trở lên), đòi hỏi các hộ nuôi phải có khả năng tài chính. Thức ăn dùng cho chúng chủ yếu là tôm, cua, ốc, cá tạp nên những người nuôi cá quy mô lớn sẽ khó chủ động nguồn thức ăn.

Ngoài tự nhiên chạch lấu thường sống trong nước sạch, hàm lượng ôxy hòa tan cao; do vậy khi nuôi trong bể hoặc ao đất phải đầu tư nhiều thiết bị (sục khí, máy bơm, dụng cụ đo môi trường…), đồng thời phải quản lý chặt môi trường nước.

Nên mua cá giống cỡ 5cm trở lên; không thả giống cỡ nhỏ, tỷ lệ sống thấp.

Tại miền Bắc: Phòng Di truyền, chọn giống – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; điện thoại 043 878 0614

Tại miền Nam: Trung tâm Giống thủy sản An Giang; điện thoại 076 224 0245

Trại giống Thủy sản Cồn Khương – Cần Thơ; điện thoại 0934 747 407

Tiền Giang: Thăng Trầm Nghề Mò Cá Ngát – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

“Hụp lặn” dưới đáy sông

Trời chạng vạng tối, chúng tôi theo chân nhóm người mò cá ngát ra bến ghe để chuẩn bị xuất phát. Trên tay ai nấy cũng mang theo một chiếc thùng dùng để chứa đồ ăn và một số vật dụng khác. Mọi người đã có mặt đông đủ, chiếc ghe bắt đầu nổ máy “tạch tạch” xuôi theo con nước đâm thẳng ra sông Tiền.

màn đêm đầy hơi sương, gió vẫn lồng lộng thổi, những con sóng nhấp nhô đánh vào mạn ghe làm nước văng tung tóe. Ngồi trên ghe, anh Trần Văn Bảy (ấp Thuận Trị, xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây) thủ thỉ: “Hôm nay, ghe này đi ra tận cửa biển Đèn Đỏ để mò cá, chắc cũng phải mất hơn 1 giờ đi ghe mới tới nơi. Mỗi chuyến đi mất khoảng 8 giờ, thời gian mò cá khoảng 3 – 4 giờ”.

Cũng như bao nghề biển khác, nghề mò cá ngát cũng phụ thuộc hoàn toàn vào con nước, mỗi tháng 2 con nước (15 và 30 âm lịch). Trung bình mỗi con nước việc mò cá ngát sẽ kéo dài khoảng 7 ngày, cũng có khi dài hơn nếu bắt được nhiều cá.

Sau hơn một giờ vượt sóng, chiếc ghe đã đến được cửa biển Đèn Đỏ và neo lại chờ trăng lên. Khoảng 21 giờ, trăng đã nhô lên cao tỏa ánh sáng lấp lánh trên sông, nước cũng đã cạn dần, những bãi bồi ven sông đã lộ rõ.

Lúc này, nhóm người mò cá ngát ăn vội phần cơm mà họ mang theo rồi khẩn trương mang đồ nghề nhảy tọt xuống sông. Dụng cụ mò cá ngát rất đơn giản, chỉ là 1 cây sào dài khoảng 4 – 5 m, 1 cái vợt lưới và 1 cây dầm.

Cây sào dùng làm điểm tựa khi họ ngoi lên mặt nước để thở và cũng để đánh dấu khi phát hiện hang cá ngát. Dưới dòng sông nước chảy xiết, công việc của những người mò cá ngát là phải lặn xuống tận đáy sông để dò tìm hang cá. Ngọn cây sào cứ nhấp nhô theo sự di chuyển của họ dưới đáy sông. Cứ khoảng 15 giây, họ lại ngoi lên mặt nước để hít thở một lần, sau đó lại tiếp tục lặn xuống để tìm hang cá ngát.

Chẳng mấy chốc, họ đã cách chiếc ghe hàng trăm mét. Bỗng nhiên có tiếng gọi “í ới” từ dưới sông phát lên, đó chính là ám hiệu cho người lái ghe khi phát hiện hang cá ngát. Anh lái ghe tức tốc nhổ neo, nổ máy chạy tới nơi những người mò cá ngát phát hiện ra hang, rồi nhanh chóng chuyền cái vợt và cây dầm xuống.

Cá ngát được bắt lên và cho vào khoang ghe.  

Cá ngát có đặc tính là đào hang để làm nơi trú ngụ, mỗi hang như vậy thường có 2 – 3 ngách, mỗi ngách cách nhau khoảng 2 – 3 m. Muốn bắt được cá, người mò phải biết chính xác đâu là cửa chính, cửa phụ của hang để úp vợt và dồn cá vào đó.

Bước vất vả nhất có lẽ là lúc đào hang. Người mò cá phải dùng tay để đào đất sâu xuống mới có thể bắt được cá. Anh Bảy vừa từ dưới đáy sông ngoi lên nói to: “Cái hang này có 2 miệng nhưng sâu quá phải mất nhiều thời gian để đào. Anh chuyền cho tôi cái vợt với cây dầm để bắt mấy con cá này”.

Nói xong, anh Bảy tiếp tục lặn xuống, những người khác tiếp tục việc dò tìm hang. Sau nhiều lần hụp lặn, đào bới dưới đáy sông, cuối cùng những con cá ngát hung tợn đã nằm gọn trong vợt. Cầm cái vợt cá trên tay, anh Bảy vừa thở vừa khoe: “2 con cá này chắc cũng được 3 kg. Có hôm bắt được những con cá gần cả chục ký, dài cả mét. Mấy con này là dạng nhỏ thôi”.

Nốt trầm cho nghề “độc”

Đối với những người mò cá ngát, kinh nghiệm là điều quan trọng nhất. Một người có kinh nghiệm chỉ cần vừa lặn xuống đáy sông chạm vào đất có thể biết nơi đó có nhiều cá hay không. Người mò tìm hang cá cần phải nắm được ngách nào là chính, ngách nào là phụ để úp vợt. Đó là những kinh nghiệm quyết định đến thành quả lao động. Tháng 5 đến tháng 9 âm lịch là mùa cá ngát sinh sản. Đây cũng là mùa chính của nghề mò cá ngát.

Thời kỳ hoàng kim của nghề mò cá ngát cách đây khoảng 10 năm. Lúc đó, số lượng cá ngát ở các con sông còn nhiều, mỗi chuyến đi có thể bắt được vài chục ký cá. Ấp Thuận Trị, xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây là nơi nổi tiếng với nghề mò cá ngát, có thời điểm lên đến cả 100 người. Hiện nay thu nhập từ nghề mò cá ngát đang ngày càng bấp bênh do số lượng cá không còn nhiều, thêm vào đó phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, vất vả nên nhiều người đã bỏ nghề.

Số người mò cá ngát ở ấp Thuận Trị hiện chỉ còn khoảng 20 người, đa phần là có thâm niên và kinh nghiệm. Anh Võ Thanh Cường (ấp Thuận Trị, xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây), người có gần 20 năm trong nghề mò cá ngát cho biết:

“Cá ngát bây giờ có giá hơn lúc trước, cá cái có giá khoảng 50.000 đồng/kg, còn cá đực khoảng 80.000 đồng/kg, nhưng số lượng không còn nhiều. Trước đây, mỗi ngày tôi đi bắt được cả mấy chục ký cá, nhưng nay có hôm đi về mà chẳng có con nào. Có lúc tới con nước là cả chục ghe nối đuôi nhau đi mò cá ngát, còn bây giờ lác đác 1 – 2 chiếc”.

Vất vả, nguy hiểm là những gì mà người mò cá ngát phải trải qua trong những chuyến mưu sinh của họ. Với việc phải lặn hàng giờ dưới đáy sông sâu hàng chục mét để tìm hang cá ngát, đôi tai của những người làm nghề này phải chịu sức ép liên tục của áp suất nước. Ngoài ra, trong quá trình dò tìm và bắt cá, người mò cũng có thể bị dẫm phải miểng chai, lọ và bị cá ngát đâm.

Anh Võ Văn Dũng (ấp Thuận Trị, xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây) trải lòng: “Bây giờ muốn bắt được cá ngát phải lặn sâu, nên nhiều người lặn không nổi. Ở đây có mấy người đi mò cá ngát, do áp suất nước quá lớn nên lỗ tai đau nhức không thể lặn được nữa đành bỏ nghề; còn việc bị đạp miểng chai hay cá ngát đâm xảy ra như ăn cơm bữa”.

Khi nhắc tới nghề mò cá ngát, nhiều người không khỏi lắc đầu ngao ngán. Anh Phùng Văn Hùng (ấp Thuận Trị, xã Bình Tân, huyện Gò Công Tây) bày tỏ: “Bây giờ công ty, xí nghiệp mở ra nhiều nên lớp trẻ đâu ai làm nghề này nữa, cực nhọc, nguy hiểm mà thu nhập bữa có bữa không”.

Thủy triều bắt đầu lên, gió cũng thổi mạnh hơn, chiếc ghe của những người mò cá ngát trở về sau hàng giờ mưu sinh vất vả. Dưới khoang ghe là những con cá ngát dài thượt, trơn bóng giãy đành đạch. Trên mui ghe là những người làm nghề mò cá ngát với đôi mắt đỏ hoe vì phải lặn hàng giờ dưới đáy sông, đã nói lên những nhọc nhằn và trăn trở của cái nghề bao năm đã gắn bó với họ…

Khấm Khá Nhờ Nuôi Cá Lóc Bằng Thức Ăn Up – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023

Tận dụng lợi thế

Là đối tượng nuôi có nhiều lợi thế do thích nghi với đa dạng địa hình, dễ nuôi, ít dịch bệnh. Những năm trở lại đây, nhiều tỉnh, thành tại khu vực ĐBSCL đã phát triển mô hình nuôi cá lóc bằng thức ăn công nghiệp.

Tại Cần Thơ, thời gian qua, con cá lóc được nông dân tại nhiều quận, huyện của thành phố nuôi theo các mô hình nuôi ao, hầm, nuôi vèo đặt trong ao, vèo đặt trên sông… Tuy nhiên, người dân chủ yếu sử dụng các loại cá tạp tươi sống để làm mồi nuôi cá lóc, nên việc phát triển mô hình gặp khó khăn do nguồn thức ăn thường bị thiếu hụt và không ổn định về chất lượng. Chính vì vậy, các mô hình nuôi cá lóc, nhất là nuôi cá lóc trong vèo chỉ được nông dân phát triển mạnh vào mùa lũ – thời điểm mà nguồn cá tạp trong tự nhiên dồi dào nhất trong năm. Song, việc khai thác đánh bắt quá mức các loại thủy sản trong tự nhiên thời gian qua khiến lượng cá tạp mùa lũ giảm dần, nguồn cung hạn chế, giá bán cao, lợi nhuận của người nuôi cá cũng giảm theo. Chính vì vậy, việc chuyển đổi sang thức ăn công nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nuôi. Bởi, chủ động được nguồn thức ăn và tiết kiệm được thời gian, chi phí, giảm tác động đến môi trường, lợi nhuận không thua gì so với cách nuôi cá lóc bằng thức ăn truyền thống.

Năm 2014, Sở Khoa học và Công nghệ Bạc Liêu chuyển giao cho Trung tâm Thực nghiệm và chuyển giao khoa học công nghệ huyện Phước Long đề tài Thử nghiệm mô hình nuôi cá lóc đầu nhím trong ao đất sử dụng thức ăn công nghiệp. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng, Giám đốc Trung tâm cho biết, qua kết quả triển khai thực hiện thử nghiệm đề tài cho thấy, mô hình nuôi cá lóc đầu nhím trong ao đất sử dụng thức ăn công nghiệp cho hiệu quả khả quan và có khả năng nhân rộng. Chính vì vậy, mô hình đã được phát triển tại nhiều tỉnh, thành ở khu vực ĐBSCL như Đồng Tháp, Trà Vinh, An Giang, Cần Thơ…

Hiệu quả cao

Nhiều năm liền, ông Trần Văn Hướng nuôi cá đều thành công nhờ sử dụng thức ăn cá lóc nhãn hiện UP Ảnh: Nguyên Chi

Từ lâu, thị xã Hồng Ngự được xem là cái nôi của nghề nuôi cá tra ở Đồng Tháp; được thiên nhiên ưu đãi nên nhiều cư dân nơi đây phất lên nhờ gắn bó với loài cá đặc biệt ở vùng sông Mê Kông này. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây nghề nuôi cá tra bước vào giai đoạn cạnh tranh và đào thải khốc liệt, các nhà nhập khẩu lớn như: Mỹ, EU… ngày càng xiết chặt hàng rào thuế quan đối với cá tra xuất khẩu của Việt Nam, nông dân nuôi cá tra lâm vào tình cảnh khốn khó. Trước khó khăn đó, người dân đã tìm ra hướng đi mới với con cá lóc bởi giá trị kinh tế mà đối tượng này mang lại. Còn tại Trà Vinh, đối với riêng huyện Trà Cú, năm 2016, toàn huyện có 1.607 hộ thả nuôi với hơn 96 triệu con giống, trên tổng diện tích gần 229 ha, tăng gần 25 ha so với năm trước. Phong trào nuôi cá lóc phát triển nhanh đã giúp nhiều hộ nông dân cải thiện kinh tế, tăng thu nhập. Nghề nuôi cá lóc ở Trà Vinh cũng đã từng bước tạo thương hiệu trên thị trường, sản phẩm được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; mặc dù có những giai đoạn cá lóc nuôi gặp khó do giá giảm, nhưng do được đầu tư bài bản nghiêm ngặt, nên hầu hết các hộ nuôi đều duy trì được sản xuất.

Hồng Ngự không những là thủ phủ sản xuất cá tra giống tại Đồng Tháp mà còn là vùng trọng điểm phát triển diện tích nuôi cá lóc khu vực ĐBSCL; nghề nuôi cá lóc đã giúp bà con nơi đây ổn định kinh tế, gia tăng sản xuất, nhiều hộ nuôi đã chuyển diện tích nuôi cá tra sang nuôi cá lóc cho thu nhập khá. Theo thống kê, toàn huyện Hồng Ngự có khoảng gần 200 ha nuôi cá lóc, sản lượng khoảng 12.000 tấn.

Là hộ nuôi có nhiều kinh nghiệm, ông Trần Văn Hướng, ngụ tại ấp An Thịnh, xã An Bình A, thị xã Hồng Ngự, Đồng Tháp với khoảng 5 ha gồm 9 ao nuôi cá lóc từ lâu đã trở thành địa điểm tham quan, học hỏi kinh nghiệm của người nuôi trong và ngoài tỉnh.

Ông Hướng bắt đầu nuôi cá lóc từ năm 2013 với 5 ha dưới hình thức nuôi ao đất, mật độ thả nuôi 60 – 80 con/m2, thả xen kẽ giữa các ao, nuôi 2 vụ mỗi năm, thời gian nuôi 4 – 6 tháng. Năm 2017, sản lượng thu đạt 50 – 70 tấn/ao, đạt khoảng 400 tấn cá/vụ, với giá bán 30.000 – 31.000 đồng/kg, thu khoảng hơn 1 tỷ đồng.

Theo ông Hướng, để đầu tư một ao nuôi cá lóc có diện tích khoảng 1 ha nông dân phải tốn ít nhất khoảng 150 triệu đồng chi phí xây dựng cơ bản bao gồm: chi phí đào ao, đặt đường ống bơm thoát nước, khoan giếng. Khoảng 60 triệu đồng cho chi phí con giống, cuối cùng là chi phí thức ăn và thuốc phòng trị bệnh khoảng 600 triệu đồng.

Sau khoảng 4 – 6 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng bình quân khoảng 800 g đến 1 kg/con là có thể thu hoạch. Cá lóc có tỷ lệ sống cao, trung bình đạt khoảng 80%, đối với thức ăn công nghiệp, hệ số chuyển đổi thức ăn FCR khoảng 1 – 1.3 kg thức ăn/kg cá tùy thuộc vào loại thức ăn và kỹ thuật của người nuôi.

Chia sẻ kinh nghiệm

Ông Hướng cho biết, diện tích ao sử dụng nuôi khoảng 1.000 m2, ao hình chữ nhật để tiện việc chăm sóc quản lý và thu hoạch. Bờ ao phải vững chắc tránh bị sạt lở và không bị ngập nước vào mùa lũ. Cá giống chọn đều cỡ, không bị dị tật, bóng mượt, không xây xát; nên thả nuôi với mật độ vừa phải để dễ quản lý, hạn chế dịch bệnh xảy ra. Nếu không gian chật hẹp, cá sẽ chậm lớn và hao đầu con ảnh hưởng đến chi phí nuôi cũng như hệ số tiêu tốn thức ăn sẽ tăng cao. Mật độ thả nuôi 30 – 100 con/m2 (thích hợp 40 – 60 con/m2). Độ sâu ao nuôi lớn hơn 2 m, một số hộ nuôi có thể có thể tận dụng ao nuôi cá tra để nuôi nên độ sâu có thể lên đến 3,5 – 5 m. Trên bờ, ông Hướng còn trồng cây ăn quả, vừa tạo bóng mát vừa tạo cảnh quan đẹp, giúp môi trường trong lành hơn, cùng đó, ông đầu tư hệ thống cấp thoát nước vào tận ao nuôi, thực hiện thay nước thường xuyên, giúp môi trường nuôi sạch để cá tăng trưởng và phát triển tốt. Theo ông Hướng, yếu tố quan trọng mang lại thành công đó chính là con giống, kỹ thuật chăm sóc và yếu tố không thể thiếu là chất lượng thức ăn. Bởi, thức ăn chiếm một phần không nhỏ trong chi phí vụ nuôi, nếu người nuôi lựa chọn được thức ăn có chất lượng tốt sẽ giảm được chi phí, góp phần tăng lợi nhuận và hiệu quả sản xuất.

Hiện nay đã có thức ăn dành cho cá lóc nhằm cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho từng giai đoạn phát triển của cá. Ở giai đoạn cá nhỏ có thể sử dụng sàng ăn để tập cho cá ăn nhằm kiểm soát thức ăn. Chia thức ăn ra nhiều lần, giúp cá ăn nhanh và triệt để hơn.

Trên thị trường có nhiều sản phẩm thức ăn dành cho cá lóc, nhưng ông Hướng luôn tin dùng và đánh giá cao về chất lượng các dòng sản phẩm thức ăn cá lóc của Công ty TNHH Uni-President Việt Nam. Ông Hướng nhận định, thức ăn cá lóc của Công ty Uni-President Việt Nam ít bụi, độ tan chậm, giúp cá tăng trọng nhanh, thịt cá thơm ngon, săn chắc, ít hao hụt trong quá trình vận chuyển. Ngoài ra, khi bà con sử dụng thức ăn của Uni, còn được các kỹ thuật viên của Công ty tận tình hướng dẫn về kỹ thuật nuôi cũng như thường xuyên theo dõi để hỗ trợ và giải đáp thắc mắc của người nuôi.

Cập nhật thông tin chi tiết về An Giang: Vươn Lên Khá Giàu Từ Nghề Ương Cá Lóc Giống – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam / 2023 trên website Psc.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!