Viet Nam

ĐĂNG KÝ TRỰC TUYẾN


TRA TỪ ĐIỂN ĐA NGỮ


TƯ VẤN TRỰC TUYẾN

Tư vấn 01
Chat với nhân viên tư vấn online 
Tư vấn 02
Chat với nhân viên tư vấn online
Tư vấn 03
Chat với nhân viên tư vấn online

LƯỢT TRUY CẬP

Số lần xem bài viết : 3204735

SỐ KHÁCH ĐANG XEM

Hiện có 16 khách Trực tuyến

LIÊN KẾT WEBSITE



Việt Nam đất nước bốn mùa hoa nở

Email In
Đất nước ta một dải từ Bắc chí Nam suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, mùa nào cũng đều có hoa nở. Người việt nam ta vốn yêu hoa, các tên mai, đào, hồng, lan, quỳnh, cúc… thường được dùng đặt tên cho nhiều thiếu nữ. Hoa ở nước ta có nhiều loại, nhiều họ. Dưới đây xin giới thiệu về một vài loài hoa  độc đáo của nước ta.

Hoa Cúc

image001

Hoa Cúc có tên khoa học là Chrysenthemum. Gốc Trung Quốc, Nhật Bản, nhập vào Việt Nam từ lâu đời. Ta đã lai tạo được nhiều loại cúc đẹp về hình dáng và màu sắc. Ở Ngọc Hà_Hà Nội có nghề trồng từ đời nhà Lý.

Những giống cúc được trồng phổ biến là cúc vàng, có hoa to, cánh dài, mềm, màu vàng rực rỡ. Cúc hoàng kim thóp có hoa màu vàng óng ánh. Cúc đại đoá hoa màu mỡ gà, cánh xếp chồng lên nhau và cuốn vào phía trong. Cúc trắng hoa màu trắng sữa, cánh hoa dài, mềm mại. Cúc chỉ hoa nhỏ xum xuê màu vàng nhạt hoặc đậm, toả hương dịu.

Việt Nam ta cũng như ở nhiều nước khác, hoa cúc tượng trưng cho sự sống lâu. Loài hoa này thường được dùng để kính tặng các cụ già và dùng làm hoa cảnh trong ngày Tết. Người Nhật Bản coi cúc như là người bạn tâm tình. ở Thụy Sỹ, Bỉ và một số nước Châu Âu khác dùng hoa cúc để viếng mộ. Cúc đại đoá của Ngọc Hà thường được xuất khẩu sang các nước: Liên Xô, Cộng Hoà dân chủ Đức…..

Từ lâu, cúc chỉ được dùng ướp trà, nấu rượu cúc. Nó là một vị thuốc chữa các chứng nhức đầu, chóng mặt, chữa đau mắt gió đỏ ngầu và nóng.

Hoa Đào

image002Hoa đào có tên khoa học là Prunus persica. Việt Nam cũng là một trong những quê hương của hoa đào. Nhật Tân( Hà Nội) nổi tiếng là xứ sở của đào bích, đào phai. Hoa đào ra hoa trong dịp Tết Nguyên Đán. Mùa xuân, những rừng đào ở Sa pa, Chi Lăng ngút ngàn, nặng trĩu trái đào thơm.

Từ xưa, hoa đào đã đi vào thơ ca làm rung đông lòng người. Trong tác phẩm "Truyện Kiều”, Nguyễn Du đã nhiều lần nói đến hoa đào. Một lần, đại thi hào đã viết: “ hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Đó là nhà thơ đã nhắc tới một điển tích văn hoá học về một mối tình tương tư, say đắm của Thôi Hộ với một nguời con gái ở vườn đào- tác giả của bài thơ nổi tiếng đã viết:

Tích niên kim nhật thử môn chung,

Nhân diện đào hoa trong ánh hồng.

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiến đông phong.

Cửu đây, năm ngoái cũng ngày này,

Má phấn, hoa đào ửng đỏ hây.

Má phấn giờ đâu? Đâu vắng tả?

Hoa đào còn bỡn gió xuân đây!

( TUƠNG NHƯ)

Mùa xuân năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh đã cho mang cành đào từ Thăng long vào Phú Xuân tặng công chúa Ngọc Hân để báo tin vui.

Trong lịch sử dược học Á Đông, hoa đào được dùng sắc uống làm thuốc chữa thuỷ thũng và bí đại tiện. Nhân hạt đào có chứa dầu béo, amydalin và men cmunsin. Đào nhân có công dụng chữa bế tắc kinh nguyệt, bụng dưới đầy và đau, đại tiện khó. Danh y Tuệ Tĩnh nhiều lần nhắc đến tên các vị thuốc có hoa đào trong cuốn sách nổi tiếng “Nam dược thần hiệu”.

Hoa Mai vàng

image003Loài hoa này có tên khoa học: Ochna harmandi. Khi những cành đào ở Nhật Tân(Hà Nội) bắt đầu nở hoa báo hiệu một mùa xuân ấm áp đã đến thì ở Huế, Nha Trang, Đà Lạt – Sài Gòn- xứ sở mai vàng báo hiệu bằng những cành mai vàng nở hoa trang nhã. Mai vàng sống được trên các vùng đất từ Bình Trị Thiên đến Cà Mau.

Hoa mai vàng có đài xanh đậm, năm cánh hoa vàng óng như tơ. Nhiều nhị, toả hương thơm ngát. Người xưa quan niệm về hoa mai là biểu tượng sự thanh cao, đẹp đẽ của tâm hồn. Các nhà thơ thường ví thiếu nữ như hoa mai. Cao Bá Quát viết: “ nhất thân đệ thủ bái hoa mai” ( đời người chỉ có cúi đầu tạ trước hoa mai)

Mai vàng tuy gọi là “mai” nhưng không cùng họ với mai trắng – “mai nở hai lần” nói đến trong Nhị độ mai. Về mặt thực vật, mai trắng thuộc họ Phụ Mận còn mai vàng thuộc họ Lão Mai.

Đông y dùng vỏ cây mai vàng làm thuốc bổ, chữa khí huyết suy kém, ăn không ngon miệng.

Hoa Hồng

image004Hoa hồng tên khoa học là Rose. Đất nước Hunggary là xứ sở của hoa hồng. ở nước ta, khắp các tỉnh đều có trồng hoa hồng. Một loài hoa đẹp ngát hương được nhiều người ưa thích. Hoa hồng còn được nhiều dân tộc coi là “ hoàng hậu” của các loài hoa.

Em nay là khách bên sông,

Hoa mùi ấm cội, hoa hồng say sưa.

Tặng hoa hồng cho ai, là thầm gửi người đó tất cả tình cảm thiêng liêng, trân trọng của mình. Vì vậy, hoa hồn thường để tặng khách quý.

Người Pháp đã lai tạo được giống hồng tí hon, khóm hồng chỉ cao không quá 10cm, trông rất đẹp và thường có 5 bông. Loại hồng này có thể trồng ngay trong chậu cảnh đặt bên cửa sổ.

Tinh dầu hoa hồng là “vàng lỏng”; từ nó có thể chế ra loại nước hoa hảo hạng. Y học dân gian thường dùng những cánh hoa hồng bạch, thêm ít đường phèn, hấp cách thuỷ uống để chữa ho. Theo danh y Tuệ Tĩnh, hoa hồng có tác dụng làm trơn thông mạch máu, tiêu ung nhọt. Quả hoa hồng được dùng làm thuốc chữa thần kinh bất định, trằn trọc thâu đêm; chữa tì hư mà hay đi ỉa lỏng. Lá hoa hồng giã nhỏ, thêm ít muối, đắp lên mụn nhọt cho mau lành.

Loa kèn đỏ

image005Hoa loa kèn đỏ có tên khoa học la Amarryllis belladona. Loài hoa này đã được lai tạo ở nước ta và được trồng làm cảnh ở nhiều nơi, nhất là Đà Lạt.

Hoa loa kèn đỏ to đẹp, mọc từ 6 đến 10 hoa thành một cái tán có mo bao bọc. Bao hoa hình phễu, màu đỏ tươi. Cây có thân củ, lá dài nhưng hẹp.

Thân củ của hoa loa kèn đỏ ( ta quen gọi là giò) có chứa chất độc. Nhiều loại ancaloit gây nôn mửa, ỉa chảy….đã được tách ra từ thân củ của loài hoa này để làm dược liệu.

Hoa Quỳnh

image006Hoa quỳnh tên khoa học Epiphyllum oxypelalum, thường đựơc trồng ở cả hai miền Nam-Bắc.

Hoa quỳnh màu trắng, mang nhiều cánh hoa rời nhau, ôm ấp nhiều nhị. Hoa quỳnh thường nở về đêm nhất là những đêm trăng sáng. Mùi hương thơm ngát tạo cảm giác lâng lâng, xao xuyến.

Đông y dùng hoa quỳnh làm thuốc chữa bệnh đái tháo đường.

 

Hoa ngâu

image008Hoa ngâu có tên khoa học là Aglaia duperreana. Loài hoa này là đặc sản truyền thống của xã Thạch Lộc, huyện Hóc Môn (thành phố Hồ Chí Minh). Ai tới xứ sở hoa ngâu này, sẽ được hít thở bầu không khí ngát hương từ những vườn ngâu trồng hai bên đường làng. Ngâu có hoa nhỏ màu vàng, rất thơm., mọc thành chùm ở kẽ lá. Hoa ngâu cũng được trồng làm cảnh nhưng ít nhà trồng. Trà được ướp hoa ngâu có hương vị thơm đặc biệt. Ngoài giá trị ướp trà, hoa ngâu còn được dùng để sắc uống chữa sốt, vàng da, hen suyễn.

 

Hoa sen

image008Hoa sen tên khoa học là Nelumbo nuclifera, vốn có từ lâu đời ở nước ta. Hoa sen thích hợp với khí hậu nước ta, khắp Bắc, Trung, Nam đều có trồng. ở Đồng Tháp, sen trắng, sen hồng nở rộ trên những cánh đồng nước mênh mông. Ca dao xưa thường ca ngợi:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Hoa sen có hương thơm ngát, dánh đẹp. Người Việt Nam ta xem hoa sen là biểu tượng của người quân tử. Ở Campuchia, xưa kia hoa sen chỉ dành đặt tên cho con gáo dòng dõi hoàng tộc và là biểu tượng sự thanh cao trong cõi nhà Phật.

Hoa sen cho nhị ướp trà. Đông y dùng tâm sen làm thuốc chữa tâm phiền, mất ngủ.

Hoa huệ

image009Huệ có tên khoa học là Polianthes tuberosa. Loài hoa này mọc ở hầu khắp các vùng nhiệt đới. Hà Nội, Hà Sơn Bình là những vùng trồng huệ nổi tiếng.

Nhiều người Việt Nam ta cũng như ở Mông Cổ và Ấn Độ, chỉ dùng hoa huệ khi tang lễ hoặc cúng lễ, không bao giờ tặng nhau hoa này. Huệ có bao hoa hình phễu màu trắng, nở bốn mùa và toả hương  về đêm, mùi thơm dễ chịu.

 

Huệ, lan sực nức một nhà,

Từng cay đắng lại mặn mà hơn xưa

(truyện Kiều)

Y học dân gian thường chữa hóc xương gà nhỏ, khạc không ra, nuốt không vào bằng cách lấy thân rễ cây hoa huệ rửa sạch, giã nát, hoà lẫn với vài thìa nước muối, rồi vắt lấy nước mà ngậm, nuốt dần dần; còn bã đắp (bên ngoài) vào chỗ bị nuốt đau.(sau đó chuyển đi chuyên khoa)

Hoa phong lan

image010Họ hoa phong lan có tên khoa học là Orchidaceae. Hoa Lan là chúa các loài hoa. Cổ tích Inđonexia kể rằng, xa xưa có một nàng tiên kiều diễm quàng một cái khăn màu lộng lẫy. Nàng từ trên trời xuống trần gian dạo chơi. Qua một khu rừng, chiếc khăn của nàng vướng vào cây rừng, một vài mảnh của chiếc khăn thần kỳ đó mắc lại và biến thành những chùm hoa phong lan. Vì lẽ đó, ngày nay lan có mặt khắp các nơi trên trái đất, nhưng phong phú nhất là ở vùng rừng nhiệt đới Đông Nam Á và Trung Mỹ. Phòng ký danh hoa phong lan quốc tế đặt trụ sở tại nước Anh đưa con số thống kê(tính đến năm 1971) có 800 chi lan, gồm khoảng 100.000 loài. Trong số đó có khoảng 25.000 loài lan rừng và 75.000 loài lan lai tạo

Do cách sinh trưởng của lan mà người ta chia ra thành bốn nhóm: cây lan sống bám vào cành hay thân cây khác mang những rễ khí sinh thống xuống, được gọi là phong lan. cây lan sống bám vào vách núi đã, leo bằng thân quấn và cũng có rễ phụ khí sinh, gọi là thạch lan. cây lan mọc trên lớp lá cây mục lẫn với lớp đất bùn được gọi là lan địa sinh. Còn một số loài lan có ít hoặc không có diệp lục và mọc trên hoại thể của các thực vật khác thì được gọi là lan hoại sinh.

ở Việt Nam, có gần 500 loài lan khác nhau, trong số ấy có nhiều loài mọc tự nhiên. Trong các hốc núi đá vôi ở Nho Quan và Cúc Phương có mọc nhiều cây lan gót tiên, mặt trong cánh hoa lan gót tiên có màu hồng, mặt ngoài có nhiều chấm tía. Cánh môi của nó uốn cong như mũi chiếc hài, vì vậy trong thơ ca gọi là chiếc hài của thần Vệ Nữ. Vệ Nữ là thần của sắc đẹp mà truyền thuyết Hy Lạp thường nhắc tới.

Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 14 Tháng 1 2010 23:30 )  
>> Trang chủ Tin tức Văn hóa Văn hoá Việt Nam Việt Nam đất nước bốn mùa hoa nở